TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận
dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong
dạy học môn Giáo dục công dân ở bậc THCS
Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Lương Thi Soa
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Hà Tĩnh, năm 2015
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói
chung, chất lượng giáo dục đại học nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của bộ môn Giáo dục công dân nói chung,
mảng kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành, phát triển
nhân cách, rèn giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho học sinh.
Đặc biệt, trong điều kiện phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền kinh tế tri
thức, cộng với trình độ phát triển cao của hoạt động dạy học và giáo dục trên
thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực (trong đó có
phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối với giáo viên dạy
môn Giáo dục công dân.
4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu áp dụng PPNCTH vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn
Giáo dục công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân.
5. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường Trung học cơ sở
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường Trung học cơ sở.
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo
dục công dân
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường Trung học cơ sở.
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào
thực tiễn giảng dạy môn GDCD hiện nay.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và
tổng kết lý thuyết.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thực nghiệm, khảo sát
điều tra, đo đạc xử lý kết quả bằng thống kê toán học và các phương pháp
khác như phỏng vấn sâu, tổng kết kinh nghiệm, quan sát, lịch sử, logic.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
4
Bất cứ phương pháp nào cũng là hệ thống những hành động có mục
đích của giáo viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học
sinh nhằm đảm bảo cho trò lĩnh hội được nội dung trí dục.
Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò,
trong quá trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên
cứu, mà kết quả là trò lĩnh hội được nội dung trí dục.
Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương
pháp dạy học. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy
rằng giữa dạy và học có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp
học, chúng là hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với
nhau về mục đích, tác động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình
dạy học. Trong sự thống nhất này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn
phương pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương
pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở lại đối với phương pháp
dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương
pháp học cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý,
và bằng lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn
và kiểm tra, đánh giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy,
hai chức năng này gắn bó hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau
được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi
nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai chức năng trên đây bằng
chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy vừa giảng vừa
truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc tự học
6
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là sự tự học để xử lý thông tin,
biến nó thành học vấn riêng. Ở đây trò phải sử dụng toàn bộ các thao tác tư
duy.
Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin để giải bài tập.
Đây là bước kết thúc của quá trình lĩnh hội một vấn đề. Nhiệm vụ của
nó là vận dụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận
thức.
Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ
đạo trong cả ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá
trình học sẽ đạt kết quả cao.
1.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống
* Quan niệm tình huống:
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu
thuẫn xung đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các
phương án giải quyết khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh
gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính
phức hợp được viết ra để minh chứng một vấn đề hay một số vấn đề của
cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là những tình huống thực hoặc mô
phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan
của bài toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và
có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn
đề học tập là những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu
thuẫn biện chứng giữa cái (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải
tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải quyết”.
8
Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những
lúng túng về cách giả quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó
thì những tri thức và kỹ năng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải. Tất
nhiên việc giải quyết vấn đề không đòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có
của học sinh.
* Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà
trong đó giáo viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp
mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải
tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó là
bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là họ giành được kiến thức và cả
phương pháp giành kiến thức .
Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó
cho các em thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải
quyết nó nhưng đồng thời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do
thiếu kiến thức cần thiết nhưng thiếu sót này có thể khắc phục nhờ một số nỗ
lực của nhận thức.
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh
chưa biết cần tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ
năng, phương pháp mới.
Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo
nên nhu cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học
sinh chấp nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của
học sinh. Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới
10
sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì phương pháp dạy học bằng tình huống
tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương tác giữa học sinh và giáo
viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được đặt vào trong một
hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ phải
dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ
quan điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo
viên khi giải quyết một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án
giải quyết sáng tạo. Bên cạnh đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người
học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm cho nhau; học được những ý kiến,
quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm phong phú hơn vốn tri thức
của họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để
liên kết, vận dụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống,
học viên có thể phải vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong
cùng một môn học hoặc của nhiều môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình
huống giúp người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra
nhưng bản thân chưa đủ kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và
phong phú nên không loại trừ khả năng phát sinh những tình huống mà
người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao giờ. Trong tình huống
này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duy độc lập, sáng
tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả năng
người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức
cho cả người học lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học
có thể rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh
luận và thuyết trình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học
12
tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu, tìm ra giải pháp, tranh
luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình. Sau khi thảo
luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả lời
những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học
bằng tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học
sinh, đồng thời họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin,
giải pháp mới từ học viên để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài
giảng của mình, nhất là từ những học sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo.
Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình huống, giáo viên cũng có
thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình huống và có
những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình
huống còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng
dạy bằng tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều
quan điểm khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn
kiến thức xã hội và kinh nghiệm của người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo
luận về tình huống sẽ không hướng theo con đường và dẫn đến một kết cục
như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất là trong những lớp học
mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khác nhau, và
giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự
học, thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng
động. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương
pháp học bằng tình huống, họ không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ
14
học. Tùy thuộc vào từng bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức
độ phức tạp của nó thành những loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống
dưới dạng các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình
huống này thường chỉ khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể
dùng ngay trong bài thuyết giảng của giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh
họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và (2) kích thích học sinh tư duy
tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống
phức tạp hơn Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước
khi lên lớp giờ thuyết giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao
gồm một hoặc một số vấn đề nhằm gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết
giảng của một bài học mới. Các tình huống này cần được giao trước cho học
sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các tình huống không cần
quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu và ghi nhớ
những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức
tạp nhất và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này
là để học sinh áp dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải
quyết các vụ việc trong thực tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại
tình huống này yêu cầu học sinh không những phải nghiên cứu tài liệu được
giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị theo yêu cầu của giáo viên.
Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình huống, trong đó học
sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh.
Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về
sự chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao nhất”.
16
những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp thu. Việc
giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở
các vấn đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình
thành một tình huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có
hai cách để xây dựng tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên
những vụ việc đã xảy ra và đã được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có
những vụ việc liên quan tới những nội dung kiến thức mà giáo viên đang
muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết của vụ việc đó rồi
điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ hai, nếu
không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt
như phân tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong
quá trình dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học
môn GDCD ở trường Trung học cơ sở.
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Trường THCS Phan Đình phùng nằm trên địa bàn xã Sơn Hàm gần
đường Hồ Chí minh.Có học sinh của hai xã sát nhập là xã Sơn hàm và Sơn
Trường,hai xã thuộc khu vực miền núi của huyện Hương Sơn,tỉnh Hà tĩnh,có
dân cư đông ,diện tích rộng,đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chính
quyền địa phương và các bậc phụ huynh luôn tâm tâm đến sự nghiệp giáo
dục,việc học tập của học sinh song nguồn ngân sách dựng cơ sở vật chất
còn thiếu. Xuất từ vùng miền núi nên trình độ dân trí của học sinh và phụ
huynh còn thấp,nhận thức không đều nên phần lớn các em học sinh còn
thiếu ý thức trong học tập ,rèn luyện. Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới quá trinh
dạy học nói chung và dạy môn giáo dục nói riêng.
1.2.2 Thực trạng của việc vận dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật
cho học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học cơ sở.
2. PP vấn đáp
x
3. PP trực quan
4. PP phân vai
x
5. PP hợp tác làm việc theo nhóm
x
6. PP dạy học tình huống (Nghiên
x
cứu tình huống)
x
7. PP động não
x
8. PP trò chơi
x
9. Các PP khác
chú trọng, vẫn còn tư tưởng coi môn học là môn phụ cho nên học sinh ít
quan tâm tìm tòi, nghiên cứu.
1.2.3.3 Nguyên nhân
- Ở địa phương phòng Giáo dục- Đào tạo chỉ tổ chức thi học sinh giỏi
cung như thi cuối kì cho tất cả các môn văn hóa trừ môn GDCD không tổ
chức thi.
- Sự thiếu quan tâm và coi nhẹ môn học của học sinh, của phụ huynh
học sinh và của cả xã hội (Giáo dục công dân bị coi là một môn “phụ”).
- Học sinh chưa đầu tư công sức, chưa giành thời gian cho môn học
Giáo dục công dân.
- Kênh hình ở sách giáo khoa thì nghèo nàn, không thu hút học sinh.
- Thông tin, sự kiện, chuyện đọc ở sách giáo khoa thì quá cũ, không
cập nhật.
- Sách tham khảo lại khan hiếm.
- Đa số giáo viên chưa đầu tư xứng đáng cho môn học như vẫn còn chú
trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, giảng giải
kiến thức, ít phát huy tính tích cực và phát triển tư duy; chỉ khai thác những
câu chuyện, thông tin, sự kiện, tình huống có sẵn ở sách giáo khoa, chưa tự
tìm tòi những điều mới để đưa vào bài giảng của mình sao cho phù hợp và
sinh động.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương I đã đi sâu phân tích các nội dung cơ bản làm cơ sở lý luận cho
đề tài nghiên cứu như trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trên
thế giới và Việt Nam, giải thích những khái niệm cơ bản liên quan đến đề
20
tài. Đặc biệt, tác giả đã trình bày làm nổi bật các nội dung liên quan đến
PPNCTH trong dạy học như khái niệm, cấu trúc tiến trình thực hiện, ưu
- Theo em, Lan nên ứng xử: phản đối lại, báo cho nhà trường và cơ
quan công an về sự việc trên, hành vi của nhóm bạn trai đó phải bị phê bình,
cảnh cáo.
21
Tình huống 2: Vì không thích Tân làm lớp trưởng nên một nhóm bạn nữ
tung tin đồn, bịa đặt, nói xấu Tân.
Hỏi: Theo em, hành vi của nhóm bạn nữ có vi phạm quyền được bảo hộ về
danh dự, nhân phẩm không? Vi phạm như thế nào? Bạn Tân nên làm gì
trong tình huống đó?
Trả lời: - Hành vi của nhóm bạn nữ đã vi phạm quyền được pháp luật bảo
hộ về danh dự và nhân phẩm. Nhóm bạn nữ đã tung tin đồn, bịa đặt, nói xấu
Tân – hành vi đó là vu khống người khác.
- Tân sẽ giải thích cho các bạn biết hành vi của các bạn như vậy là
không tốt và vi phạm pháp luật, nếu các bạn thấy mình không đủ năng lực
làm lớp trưởng thì đề nghị lớp bầu lại lớp trưởng đồng thời Tân báo sự việc
với thầy cô giáo chủ nhiệm biết.
Tình huống 3: Trong lúc ăn sáng ở quán, cho là Trường “nhìn đểu” mình
nên tan học, Quân đã dùng dao đón đường đâm Trường làm Trường bị
thương tổn hại 15% sức khỏe.
Hỏi: Theo em, hành vi của Quân đã vi phạm điều gì?
Trả lời: - Quân đã vi phạm pháp luật xâm hại bất hợp pháp đến sức khỏe
của người khác (sức khoẻ của Trường), Quân đã phạm tội cố ý gây thương
tích (theo điều 104- tội cố ý gây thương tích)
Tình huống 4: Nam và Sơn là 2 học sinh lớp 6 ngồi cạnh nhau. Một hôm
Sơn bị mất một cái máy tính vừa mới mua. Tìm mãi không thấy, Sơn đỗ tội
cho Nam lấy cắp. Namvà Sơn to tiếng, tức quá Nam đánh Sơn chảy máu
mũi. Cô giáo kịp thời mời 2 bạn lên phòng hội đồng kỉ luật.
Hỏi: Em hãy nhận xét cách ứng xử của 2 bạn? Nếu là Nam thì em sẽ xử lí
GV kết luận: Khi tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm bị
xâm hại thì cần biết phản đối và thông báo, tìm sự giúp đỡ của những người
có trách nhiệm.
+ Để củng cố nội dung bài học, rèn luyện cho học sinh kĩ năng tư duy
sáng tạo, trình bày suy nghĩ, ý tưởng, ứng phó trong những tình huống bị
xâm hại đến tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
- GV tổ chức trò chơi “Tư vấn pháp luật”
- GV mời một nhóm tham gia đóng vai các “Luật sư” để tư vấn pháp luật
cho các công dân (sử dụng kĩ thuật dạy học Tư vấn chuyên gia). Giáo viên
cung cấp thêm tư liệu ( Điều 71 Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Hình sự từ
Điều 93 đến Điều 123) cho nhóm“Luật sư”. Số học sinh còn lại trong lớp
đóng vai các công dân muốn tư vấn pháp luật.
- GV yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị 1 - 2 câu hỏi / tình huống hoặc câu
chuyện, vụ án có thật, có tính thời sự (vụ án Huỳnh Thanh Giang và Mã
Ngọc Thơm ở tỉnh Cà Mau chủ trại tôm giống Minh Đức hành hạ cháu
Nguyễn Anh Hào, 14 tuổi làm công cho vợ chồng Giang, Thơm; vụ án trộm
cắp tài sản ở thành phố Huế trong thời gian qua,…) đã sưu tầm được có liên
quan đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được pháp luật bảo
hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm để hỏi các “Luật sư”.
- Khi các “Công dân” nêu câu hỏi / tình huống…, các “Luật sư” có thể trao
đổi và cử đại diện trả lời.
Trò chơi cứ tiếp tục cho đến khi các “Luật sư” trả lời hết câu hỏi
của “Công dân”.Dưới đây là một số tình huống, vấn đề mà học sinh đã
chuẩn bị cho tiết học của mình.
1. Ở nước ta văn bản pháp luật nào quy định về quyền bất khả xâm phạm về
thân thể của công dân?
Trả lời:
23
12% sức khỏe.
Hỏi: Ông K có vi phạm pháp luật không? Vi phạm như thế nào?
Trả lời: Hành vi của ông K đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy
định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tình huống: Vợ chồng G và T là chủ trại tôm đã nhận A về làm thêu. Họ đã
hành hạ A bằng nhiều hình thức dã man như dùng bàn là nóng ấn vào người;
dùng kìm bẻ răng, kẹp môi; dùng gậy đánh; dùng dây trói rồi mang phơi
nắng…
Hỏi: Hành vi của G và T có vi phạm pháp luật không? Vi phạm tội gì?
Trả lời: Hành vi của G và T đã phạm tội: “Hành hạ người khác”, quy định
tại Điều 110 Bộ luật Hình sự năm 1999.
24
- GV liên hệ vấn đề thực tế liên quan quyền được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (bạo hành trong học đường
hiện nay)
1. Em có suy nghĩ gì về nạn bạo hành học đường, đặc biệt là nạn bạo hành
trong học sinh nữ hiện nay? Địa phương em có tình trạng đó không? Nếu có,
hãy nêu một vài trường hợp?
DK- Bạo hành học đường đang là vấn đề gây nhức nhối hiện nay. Đó không
chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn vi phạm nghiêm trọng đạo đức xã
hội, mà lại xảy ra ở lứa tuổi học sinh, là lứa tuổi được chăm sóc giáo dục
từng ngày.
- Nữ sinh đáng lẽ phải dịu dàng, duyên dáng, nhân hậu. Một số nữ sinh đã
không còn giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc, có những việc làm trái
với đạo đức, rất phản cảm, đáng lên án.
- Mỗi HS chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc và có hành động thiết thực
để góp phần cùng người lớn ngăn chặn nạn bạo hành học đường.
2. Nếu chứng kiến hành vi bạo lực giữa học sinh với nhau, em và các bạn