TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận
dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy
học môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở
Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Nguyễn Thị Huệ
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Hà Tĩnh, năm 2015
1
ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết nghiên cứu
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.2 Phạm vi nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp mới của đề tài
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.
Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.
Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong học.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp học
ứng với ba giai đoạn học tập.
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết
mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng tạo tích
cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến
thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
4
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:
Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.
Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết.
Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về
lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm
cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm
phong phú hơn vốn tri thức của họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
7
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng
Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của
giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
10
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học cơ sở Bắc Hồng – Hồng Lĩnh
1.2.1 Thuận lợi
Đội ngũ giáo viên: Trường chúng tôi có 54 cán bộ giáo viên, trong đó có 47 giáo
viên trực tiếp đứng lớp đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Nhà trường luôn đứng
đầu về giáo viên giỏi các cấp, dẫn đầu về chất lượng học sinh giỏi cũng như chất lượng
tốt nghiệp lớp 9. Riêng môn giáo dục công dân có 4 giáo viên đã qua đào tạo chính
quy ( 1 giáo viên chuyên ngành, 3 giáo viên được đào tạo ghép môn). Giáo viên lên
lớp nhiệt tình có chất lượng. Đặc biệt có một đồng chí nhiều năm đạt giáo viên giỏi
tỉnh môn GDCD. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý có điều kiện và khả năng tham gia
phổ biến giáo dục pháp luật. Như vậy có thể nói giáo viên trường tôi có khả năng đảm
nhiệm giảng dạy bộ môn này cả về số lượng và chất lượng.
Học sinh : gồm có 570 em chia làm 19 lớp, học sinh đa phần chăm ngoan, ham
sinh với môi trng ngày càng lớn. Từng chủ đề có sự xắp xếp, bố trí các nội dung dạy
học theo nguyên tắc phát triển từ thấp đến cao, về nhận thức cũng nh nhu cầu tu
dng rèn luyện, phù hợp với lứa tuổi học sinh trong từng giai đoạn. Về pháp luật
chng trình bố trí học từ những nội dung thuộc hiện thực pháp luật đang diễn ra trong
cuộc sống đến những nội dung về chế độ chính trị, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Cỏc ni dung phỏp lut trong chng trỡnh gm quyn v ngha v ca cụng
dõn, quyn hn, trỏch nhim ca Nh nc trong vic bo m thc hin cỏc quyn,
ngha v ca cụng dõn, trong cỏc lnh vc ca i sng xó hi. Ni dung cỏc quyn,
ngha v ca cụng dõn c th ch húa bng cỏc quy nh ca phỏp lut. Quyn hn
v trỏch nhim ca Nh nc i vi cụng dõn c th hin qua chc nng, nhim v
qun lý xó hi ca Nh nc.
ng b, chớnh quyn, cỏc c quan on th luụn to iu kin thun li cho cụng
tỏc giỏo dc ca trng núi chung cng nh cụng tỏc giỏo dc phỏp lut cho hc sinh
núi riờng. Trong nhiu nm qua, cụng tỏc giỏo dc phỏp lut cho hc sinh ó c
ngnh giỏo dc rt coi trng; cỏc hỡnh thc giỏo dc, truyờn truyn, ph bin c
thc hin a dng, phong phỳ bng nhiu hỡnh thc nh a vo chng trỡnh dy hc
chớnh khúa, ngoi khúa, giỏo dc lng ghộp, t chc ta m, sõn khu húa em li
nhng hiu qu nht nh gúp phn nõng cao nhn thc ca a s hc sinh v cỏc quy
nh ca phỏp lut , v quyn v ngha v ca mi hc sinh trong i sng xó hi.
1.2.2 Khú khn
Ni dung chng trỡnh sỏch giỏo khoa cũn nng v lớ thuyt, khụ khan, cha tht
sinh ng, tớnh thc tin cha cao.
Mt b phn hc sinh thỏi hc tp cha cao, cú li sng thc dng, trụng ch,
da dm, li, cha cú chớ cu tin. Hin nay mt s b phn thanh thiu niờn cú du
hiu sa sỳt nghiờm trng v o c, nhu cu cỏ nhõn phỏt trin lch lc, kộm ý thc
trong quan h cng ng, thiu nim tin trong cuc sng, ý chớ kộm phỏt trin, khụng
cú tớnh t ch thiu kin thc v phỏp lut , coi thng phỏp lut d b lụi cun vo
nhng vic xu Hc sinh, ph huynh vn xem õy l mụn hc ph, coi nh vic
GDPL cho con em mỡnh.
Trong nhng nm gn õy tỡnh trng vi phm phỏp lut trong hc sinh cú chiu
là đối tượng của dạy học mà còn là chủ thể của quá trình dạy học, các em cần được tạo
cơ hội để tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội
dung bài học. Thay đổi mạnh mẽ quan điểm về GDPL cho HS theo hướng chuyển đổi
từ “dạy học PL” sang “GDPL”. Cụ thể: chuyển từ tuyên truyền, trình bày cãn kẽ nội
dung các ngành luật cho HS sang giáo dục tri thức, tư tưởng, thái độ, hành vi, kỹ năng
sống thông qua tổ chức các hoạt động thiết thực... nhằm hình thành ý thức tự giác, chủ
động trong đánh giá hành vi của HS về bản thân và mọi người trên cơ sở sự định
hướng, kiểm tra, giám sát chặt chẽ của GV và nhà trường, qua đó giảm thiếu hành vi vi
phạm PL trong học sinh và tăng cường tính tự giác chấp hành PL ở các em ngày một
cao hơn.
- Dạy học GDCD thông qua các hoạt động của học sinh: là quá trình tổ chức cho
các em hoạt động và tương tác với thầy, với bạn, để thông qua đó các em có thể phát
hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học. Các hoạt động này phải do giáo viên thiết kế, dựa
13
trên mục tiêu, nội dung của bài học; dựa trên trình độ của HS và sở trường của giáo
viên ; dựa trên điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của lớp học, nhà trường, địa phương. HS
sẽ hứng thú, thông hiểu, ghi nhớ và thực hiện những gì các em đã lĩnh hội được thông
qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.
- Giáo viên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp các hình ảnh, sự
việc, con người thật, liên quan đến bài dạy để tránh sự nhàm chán, khô khan cho học
sinh.
- Giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, pháp luật phải thường xuyên cập nhật
thông tin pháp luật thông qua các kênh thông tin như truyền thanh, truyền hình, sách,
báo...;
- Tổ chức thi giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi môn Giáo dục công dân để khuyến
khích giáo viên trong công tác giảng dạy và việc học tập của học sinh.
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng
- Nhận thức về vị trí, vai trò của môn học giáo dục công dân và công tác phổ
Bài 4: Đạo đức và kỉ luật. Bài 17: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(GDCD 7); Bài 3: Dân chủ và kỉ luật, Bài 4: Bảo vệ hòa bình, Bài 10: Lí tưởng sống
của thanh niên, Bài 11: Tránh nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước (GDCD 9). Chương trình cũng chưa thưc sự cô đọng tinh giản, vẫn còn nặng về
truyền thụ kiến thức chưa có sự cân đối giữa lí thuyết và thực hành. Thời lượng
chương trình dành cho các tiết học liên hệ với địa phương không khả thi và chưa hiệu
quả…Phần lớn chương trình nặng về lí thuyết, nhẹ về ứng dụng, thực hành, nội dung
còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN trong bối cảnh quốc tế hóa, cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ
hiện đại. Đó là chưa kể đến nhiều nội dung biên soạn chưa phù hợp với độ tuổi của
học sinh chẳng hạn như ở lớp 7 (12 tuổi ), học sinh phải nắm hết kiến thức về quốc
hội, hội đồng nhân dân các cấp ở các bài về bộ máy nhà nước sau đó làm bài tập với
các câu hỏi : Muốn đăng kí tạm trú, kết hôn phải đến cơ quan nào ? Hay như ở bài
quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, các em phải nghe giảng về tình hình tôn giáo ở
việt nam, các đường lối chính sách của Đảng và nhà nước.
- Phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh còn nhiều hạn chế, bất
cập nên chưa tạo được những đột phá trong thay đổi nhận thức học sinh, mặc dù đã có
những đổi mới bước đầu như: đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục, đổi
mới kiểm tra đánh giá môn GDCD theo hình thức vừa bằng cách cho điểm, vừa bằng
cách đánh giá biểu hiện hành vi thông qua xếp loại hạnh kiểm. Giáo viên môn GDCD
chưa kiểm soát được hành vi của học sinh do không có đủ khả năng và điều kiện thời
gian thực hiện.
Hơn nữa, về phương pháp, giáo viên chưa phân biệt được giữa “dạy học pháp
luật ” và “giáo dục pháp luật ”. Đa số giáo viên hiện nay vẫn còn nặng về “dạy học”
tức là tuyên truyền, trình bày cặn kẽ, giúp học sinh tiếp thu, nắm vững về pháp luật .
Cách làm này chỉ đạt được mục tiêu nâng cao hiểu biết pháp luật nhưng lại chưa giáo
dục được ý thức, thái độ, hành vi, kỷ năng, kỷ xảo cho học sinh dẫn đến thực trạng vi
phạm pháp luật ở các em có chiều hướng gia tăng ngay khi chúng ta đang đẩy mạnh
tuyên truyền, phổ biến pháp luật .
- Công tác quản lý, chỉ đạo, phối hợp giáo dục pháp luật ở các trường THPT
NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SƠ
2.1. QUYỀN TRẺ EM; QUYỀN, NGHĨA VỤ CÔNG DÂN TRONG GIA ĐÌNH
Các nội dung chính trong chủ đề: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Quyền
được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em (Việt Nam) ; Quyền và nghĩa vụ của
công dân trong hôn nhân và gia đình.
1. Có ý kiến cho rằng: chỉ có những trẻ em da trắng và da vàng mới có những
quyền trẻ em được quy định trong công ước quốc tế về quyền trẻ em, còn trẻ em da
đen ở những nước châu Phi thì không có những quyền này. Xin hỏi nhận định như
thế có đúng không?
16
Trả lời: Công ước Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định
các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Công ước có hiệu
lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã tham
gia công ước (193 quốc gia, trừ Hoa Kỳ và Somalia). Các quốc gia phê chuẩn công
ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế.
Điều 2 của công ước khẳng định rằng các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo
đảm những quyền trẻ em được nêu ra trong công ước mà không có sự phân biệt, đối
xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc…. Như
vậy, trẻ em ở bất cứ quốc gia nào đã tham gia công ước đều được hưởng những quyền
trẻ em được ghi nhận trong công ước, không phụ thuộc vào màu da của các em. Trẻ
em da đen cũng như trẻ em da trắng, đều có các quyền bình đẳng như nhau. Việt Nam
là nước thứ 2 trên thế giới tham gia Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày
20 tháng 2 năm 1990. Ngay sau đó, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em vào năm 1991 để ghi nhận các quyền trẻ em trong công
ước này. 2. Chú Khang là hàng xóm nhà Tuyết. Bé Bi, con trai của chú Khang vừa
mới tròn 2 tuổi. Tuyết thường hay sang chơi với bé Bi. Có một lần Tuyết nghe thấy bố
mình hỏi chú Khang: “Em đã đăng ký khai sinh cho cháu Bi chưa?” Chú Khang 45
cười rồi trả lời: “ Em chưa anh ạ. Đợi đến lúc bé Bi đi học tiểu học thì đăng ký cũng
theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môi
trường lành mạnh cho sự phát triên toàn diện của trẻ em. - Cha mẹ, người giám hộ có
trách nhiệm chăm lo chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần
của trẻ em theo từng lứa tuổi. - Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác,
người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên phải có
nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc,
giáo dục con theo quy định của pháp luật. 4. "Sáng ngày 25/5, trung tâm nuôi dưỡng
trẻ mồ côi của quận H thấy một cháu bé khoảng 3 tuần tuổi bị bỏ rơi trước cửa trung
tâm. Khắp người cháu bé bị bầm tím và sưng tấy do bị kiến cắn. Manh mối duy nhất
để lại là một mảnh giấy ghi tên và ngày sinh của cháu. Công an đã nhanh chóng điều
tra và tìm ra bố mẹ của cháu. Được biết, vì khi sinh ra, cháu đã bị teo não, bố mẹ
không muốn nuôi nên đành bỏ cháu vào trung tâm". Đọc xong tin trên, Minh (13 tuổi)
thắc mắc, muốn biết những quyền trẻ em nào đã bị vi phạm và hành vi bỏ rơi trẻ em
như trên có bị pháp luật trừng trị không? Trả lời: Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 2004, hành vi bố mẹ bỏ mặc trẻ em vì lý do trẻ em bị bệnh nói trên đã
vi phạm đến nhiều quyền cơ bản của trẻ em bao gồm: - Quyền được sống chung với
cha mẹ: Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ. Cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm
điều kiện để trẻ em được sống chung với mình. - Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng:
Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần
và đạo đức. Cha mẹ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng
trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em. 47 - Quyền được chăm sóc
sức khoẻ: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Cha mẹ có trách nhiệm
thực hiện việc chữa bệnh cho trẻ em. Theo Điều 9, Nghị định 91/2011/NĐ-CP của
Chính Phủ ban hành ngày 17 tháng 10 năm 2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì cha mẹ, người giám hộ bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: - Sau khi
sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng; - Cha, mẹ bỏ mặc con,
người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng hoặc ép buộc trẻ em không sống
cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và
18
mẹ không có quyền bắt con cái bỏ học mà phải tạo điều kiện để con cái thực hiện
quyền được học tập của mình. Suy nghĩ và hành động của bố Mai như thế là không
đúng. Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập của
trẻ em. 6. Thư (13 tuổi) là một cô bé xinh xắn, hát rất hay và múa rất khéo. Vì vậy,
Thư thường được thầy cô và bạn bè cử đi tham gia các hoạt động văn nghệ của trường,
của huyện. Tuy nhiên, bố mẹ của Thư không cho phép bạn tham gia những hoạt động
văn nghệ đó vì cho rằng những hoạt động văn nghệ đó là vô bổ, sẽ làm ảnh hưởng đến
việc học của Thư. Xin hỏi: Việc ngăn cấm đó có xâm phạm đến quyền trẻ em của Thư
không? Trả lời: Trẻ em là những mầm non đang lớn, cần phải được tạo điều kiện phát
19
triển toàn diện. Hoạt động vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ
sẽ giúp các em thoải mái, thư giãn và khiến cho trẻ phát triển toàn diện hơn. Theo nội
dung của Điều 32, Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em thì trẻ em có quyền được
nghỉ ngơi, thư giãn, tham gia vui chơi, được giải trí và tự do tham gia sinh hoạt văn
hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi. 49 Pháp luật Việt Nam ghi nhận rằng trẻ em có
quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục,
thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi. (Điều 17, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004) Đồng thời pháp luật cũng quy định gia đình phải có trách nhiệm tạo
điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể
thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi. Hành động của bố mẹ Thư như trên là chưa tôn
trọng quyền được vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của trẻ
em. Bố mẹ cần tạo điều kiện để Thư tham gia các hoạt động này. 7. Bé H bị lây nhiễm
HIV từ mẹ ngay lúc mới chào đời. Khi bé lên 2 tuổi, gia đình đưa bé đi học ở mẫu
giáo. Tuy nhiên, Ban Giám hiệu trường Mầm non đã từ chối tiếp nhận bé H vì lý do bé
có thể làm lây nhiễm HIV cho người khác. Hỏi: Hành vi nói trên có xâm phạm đến
quyền trẻ em của bé H không? Pháp luật quy định như thế nào về hành vi cản trở
quyền học tập của trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS? Trả lời: Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS đã
phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với những trẻ em bình thường khác khi mang trên
năm đến hai mươi năm: + Có tính chất loạn luân; + Làm nạn nhân có thai; + Gây tổn
hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; + Đối với người
mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; + Tái phạm nguy
hiểm. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm,
tù chung thân hoặc tử hình: + Có tổ chức; + Nhiều người hiếp một người; + Phạm tội
nhiều lần; + Đối với nhiều người; 51 + Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ
lệ thương tật từ 61%trở lên; + Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; + Làm nạn
nhân chết hoặc tự sát. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội
hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình. - Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. 9. Những hành vi
nào là hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại; làm những công việc khác trái với quy định
của pháp luật về lao động theo pháp luật việt Nam? Trả lời: Theo Điều 9, Nghị định
71/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 08 năm 2011 Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004, quy định hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc
nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái
với quy định của pháp luật về lao động bao gồm những hành vi sau: - Cha, mẹ, người
giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá
thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật không cho phép. Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá sức, nặng nhọc, quá
thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
trẻ em. - Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công không tương xứng,
không có cam kết của cha, mẹ, người giám hộ, không có hợp đồng lao động theo quy
định của pháp luật; bắt trẻ em lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi
trường độc hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của
pháp luật về lao động. 52 - Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trường, cơ
21
hợp, chứa chấp trẻ em lang thang để bán vé số, sách, báo, tranh, ảnh, bán hàng rong
hoặc các hoạt động khác nhằm mục đích trục lợi. Cá nhân, tổ chức phải nộp lại số tiền
có được do thực hiện hành vi này. Xử lý hình sự Điều 252 Bộ Luật Hình Sự quy định
về tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp như sau: Người nào dụ dỗ, ép buộc người chưa thành niên hoạt động phạm tội, sống sa đoạ
hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, thì bị phạt tù từ một năm đến năm
năm. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến
22
mười hai năm: + Có tổ chức; + Dụ dỗ, ép buộc, chứa chấp, lôi kéo nhiều người; + Đối
với trẻ em dưới 13 tuổi; + Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng; + Tái phạm nguy hiểm. - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba
triệu đồng đến ba mươi triệu đồng. Người phạm tội tái phạm nguy hiểm thì còn có thể
bị phạt quản chế từ một năm đến năm năm. 11. Bố mẹ Dũng rất quan tâm đến chuyện
học hành của con. Vì vậy, ngoài những giờ học trên lớp, bố mẹ thường thuê gia sư để
củng cố kiến thức cho Dũng. Nhưng Dũng không muốn học, em thường trốn học để đi
lang thang ở những quán điện tử. Dũng thường oán trách bố mẹ vì bị bắt học quá
nhiều. Hỏi: Theo em, suy nghĩ của Dũng là đúng hay sai?Vì sao? 54 Trả lời: Học tập
vừa là quyền vừa là bổn phận của trẻ em. Trẻ em cần phải học tập để hoàn thiện sự
hiểu biết của mình, hoàn thiện nhân cách và trở thành một người công dân có ích cho
gia đình và xã hội. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em có bổn
phận phải chăm chỉ học tập. Hiện nay, đất nước ta còn nghèo và còn rất nhiều bạn trẻ
chưa có điều kiện để học tập đầy đủ, Dũng thực sự là một người may mắn khi được bố
mẹ quan tâm, tạo điều kiện học tập và phát triển toàn diện. Dũng phải cảm ơn bố mẹ
và cố gắng học tập tốt. 12. Trách nhiệm của con đối với cha mẹ được pháp luật quy
định như thế nào? Trả lời: Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình về
nghĩa vụ và quyền của con, thì: Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu
thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh
dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ. Con có
sau, bác Lam sinh được một bé trai kháu khỉnh. Thế là bao nhiêu tình cảm bác đều
dành cho con ruột của mình và coi Mai giống như một người giúp việc trong nhà. Mai
tủi thân, nhưng vì cho rằng mình chỉ là phận con nuôi nên không dám đòi hỏi gì? Hỏi:
Con nuôi có thể bị đối xử bất bình đẳng so với con đẻ hay không? Trả lời: Điều 2 Luật
Nuôi con nuôi năm 2010 khẳng định rằng: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ
cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con
nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường
gia đình.” Đồng thời, Luật cũng nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và
con nuôi. 56 Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì con nuôi có vị trí
ngang bằng với con đẻ, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giống như con đẻ. Vì vậy, đối
với trường hợp của Mai, tuy là con nuôi nhưng Mai có quyền được đối xử bình đẳng
giống như con đẻ. Gia đình Bác Lam có trách nhiệm thương yêu, nuôi dưỡng, chăm
sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Mai; chăm lo việc học tập và giáo dục để Mai
phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của
gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. 2. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI,
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Các nội dung chính của chủ đề : Thực hiện trật tự an toàn giao thông; Bảo vệ môi
trường và tài nguyên thiên nhiên; Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng, chống nhiễm
HIV/AIDS; Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại. 1. Vào giờ đi làm
buổi sáng một vụ tai nạn giao thông xảy ra ngay trên đường đến nơi làm việc. Một phụ
nữ đi xe máy va phải một xe máy khác, tiếp theo bị hất thẳng vào chiếc ô tô đang chạy.
Hậu quả chị phụ nữ bị bánh trước xe ô tô chèn qua người, mặt va xuống mặt đường,
máu đổ. Mấy chiếc ô tô chạy qua thấy cảnh đó nhưng đi thẳng, để mặc nạn nhân nằm
trên đường trong khi người thanh niên chạy ra giúp bế nạn nhân lên và vẫy tay xin nhờ
chở vào bệnh viện. Hỏi: Việc không cứu giúp người bị nạn có phải là hành vi vi phạm
24
pháp luật không ? Pháp luật quy định thế nào về trách nhiệm của người điều khiển
giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp. Khoản 1 Điều 60, Luật Giao thông đường bộ quy định về độ tuổi của
người lái xe như sau: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xilanh dưới 50 cm 3 ; b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô
ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô
tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; Khi tham
25