1
2
nhận thực rõ hơn tính hiệu quả và hiệu năng trong hoạt động của mình để cạnh tranh
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Ý nghóa nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài .
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ sau Đại hội VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đến nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển mạnh sang nền
kinh tế thò trường đònh hướng XHCN. Hoạt động Ngân hàng cũng đã có sự đổi mới
một cách căn bản, sâu sắc. Đó là, từ ngân hàng một cấp, hệ thống Ngân hàng Việt
Nam đã chuyển thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tiền tệ- tín dụng- ngân hàng và hệ thống các Ngân hàng
thương mại (NHTM) trực tiếp kinh doanh tiền tệ – tín dụng và làm các dòch vụ Ngân
hàng theo cơ chế thò trường.
Với sự phân cấp đó, hệ thống các NHTM được đa dạng hoá loại hình, sở hữu,
không ngừng hiện đại hoá các khâu nghiệp vụ, mở rộng các loại hình dòch vụ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tiễn hơn 10 năm qua cho thấy hoạt động của hệ thống NHTM ở nước ta
đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, ổn đònh và nâng cao
đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nhìn chung quy mô hoạt động vẫn còn nhỏ bé, mạng
lưới tổ chức chưa rộng khắp, hiệu quả tín dụng Ngân hàng chưa cao, hình thức khai
thác vẫn còn đơn điệu, trình độ tư vấn kinh tế – kỹ thuật đối với từng dự án và từng
doanh nghiệp còn thấp. Đáng chú ý hơn còn có một số tổ chức tín dụng (TCTD)
ngoài quốc doanh chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên thường va vấp trong hoạt động
kinh doanh, đã rơi vào nguy cơ phá sản, mất khả năng thanh toán. Ngày nay, lónh
vực kinh doanh tiền tệ-tín dụng-ngân hàng đang ngày càng sôi động và quyết liệt
nhằm để phân chia thò phần lẫn nhau, không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia mà
lan rộng sang phạm vi khu vực và quốc tế. Điều đó đòi hỏi các NHTM càng phải
của các NHTM. Đồng thời qua nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của các
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An đặt trong mối quan hệ so sánh với NHTM của hai
tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó phân tích những mặt tích cực, tồn
CHƯƠNG 1
tại và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số giải pháp
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTM nói chung, các NHTM
VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
trên đòa bàn tỉnh Long An nói riêng.
1.1. Sự cần thiết khách quan của NHTM trong nền kinh tế thò trường:
4. Phương pháp nghiên cứu:
1.1.1- Khái niệm về NHTM .
Với phương pháp biện chứng; sử dụng lý thuyết cơ bản về tiền tệ, tín dụng,
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
kinh tế vó mô và kinh tế vi mô; Sử dụng các phương pháp diễn giải, qui nạp, có phân
hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
An.
khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
tiền tệ của cả nền kinh tế.
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác
đònh: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các TCTD ngày 12/12/1997:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo qui đònh của luật này
và các qui đònh khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dòch vụ
5
ngân hàng với nội dung chủ yếu nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cung cấp tín
dụng, cung ứng các dòch vụ thanh toán.
Để làm rõ khái niệm trên cần phân tích sâu hơn về nội dung quan hệ tiền tệ
và tính chất tín dụng của NHTM:
Về nội dung quan hệ tiền tệ của NHTM : Được thể hiện trên bốn phương
diện chủ yếu:
6
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của NHTM trong nền kinh tế thò trường:
dụng liên Ngân hàng và các quan hệ thanh toán để làm khai thông các nguồn vốn tín
Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển thì quy luật cung cầu ngày càng
dụng trong quá trình kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ giữa NHTM với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này thể hiện
ở việc NHTM huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để tăng vốn tín dụng
hoặc cho vay thế chấp và tín chấp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của thể nhân và
cá nhân trong các trường hợp cần thiết.
Thứ tư, quan hệ giữa NHTM và thò trường tài chính (TTTC): Cấu thành của
TTTC gồm thò trường tiền tệ (ngắn hạn) và thò trường vốn (trung dài hạn). Các thành
phần tham gia trên TTTC gồm: công ty cổ phần, thò trường chứng khoán, NHTM,
thể hiện rõ nét, nhất là trong nền kinh tế thò trường nảy sinh ra nhiều mối quan hệ về
cung cầu trong đó cung cầu về vốn đóng vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy các mối
quan hệ khác phát triển.
Cầu về vốn trong nền kinh tế nảy sinh do: các doanh nghiệp, cá nhân có nhu
cầu vốn để sản xuất kinh doanh; cá nhân có nhu cầu tiêu dùng và Nhà nước có nhu
cầu vốn do thiếu hụt ngân sách.
Cung về vốn trong nền kinh tế nảy sinh do: Cung về vốn của các tổ chức cho
vay; các khoản tiết kiệm trong dân dư và tiền cung ứng của NHNN.
các TCTD phi Ngân hàng, các Công ty tài chính, Quỹ đầu tư, Bảo hiểm… Trong đó,
Do yêu cầu điều tiết các mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế đòi
NHTM giữ vai trò quan trọng, chiếm tỷ phần khá lớn và tác động mạnh mẽ đến cả
trình sản xuất, từ đó xảy ra hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm
thương mại càng đi vào tận cùng ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống của con
nhất đònh, có những đơn vò kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có
người. Mọi công dân đều chòu tác động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gửi, một
những đơn vò khác tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời
người vay, hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và
nhưng xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế nào, làm nẩy sinh
sử dụng các dòch vụ ngân hàng.
yêu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết cho được vấn đề điều hoà vốn. Ngân
Từ lâu, ngân hàng thương mại là một đònh chế tài chính quen thuộc trong đời
hàng thương mại với vai trò là trung gian tín dụng đứng ra tập trung và phân phối lại
sống kinh tế. Chính vì thế Ngân hàng thương mại ra đời, tồn tại và phát triển cùng
vốn tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp, đã góp phần điều tiết
với nền kinh tế thò trường là một thực tế khách quan.
các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
Ngân hàng thương mại tập hợp nguồn vốn của khách hàng này đem chuyển
nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng ….. của các chủ thể kinh tế, góp phần
cho người khác sử dụng theo phương thức kinh doanh “vay để cho vay”. Đó chính là
đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế- xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
vai trò trung gian của Ngân hàng. Như vậy xuất hiện một nét đặc thù chính của
kinh tế. Như vậy, Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay,
Ngân hàng khi đóng vai trò trung gian: thu thập những đồng tiền đã có sẳn (như
nhận tiền gửi; tiền tiết kiệm) và đem cho vay đối với người cần tiền để sử dụng cho
9
10
nhu cầu sản xuất kinh doanh, sinh hoạt và đời sống. Vai trò trung gian này trở nên
Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thương mại đã
phong phú hơn khi việc phát hành thêm cổâ phiếu, trái phiếu, phát hành chứng chỉ
và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng
tiền gửi và hiện nay phổ biến là tiền gửi tiết kiệm có xổ số,….. cũng được coi là
tiền, mà còn làm trung gian giữa người đầu tư và người vay vốn trên thò trường.
và khoản trả hộ đó sẽ trở thành khoản vay của khách hàng. Trong Ngân hàng thương
Những trung gian tài chính làm việc này để kiếm lời bằng việc đặt một lãi suất cao
mại, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung
hơn cho các món vay so với món lãi họ thanh toán cho người cho vay (người tiết
gian tín dụng: Ngân hàng dùng số tiền gửi thanh toán của người này để cho người
kiệm). Như vậy, do hoạt động trong quá trình tài chính gián tiếp, những trung gian
khác vay. Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, Ngân
tài chính có thể đem lại cho họ thu nhập tiền lãi cao và có thể giúp những người vay
hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dòch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của
các món tiền nhỏ, nay có thể vay được tiền vốn mà họ không có cách nào để có
khách hàng. Khi các khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an
được. Ngoài ra, đối với người vay món tiền lớn cũng hưởng lợi, bởi vì quá trình trung
toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất
gian tài chính tập trung được nhiều vốn hơn cho người vay trong thò trường tài chính.
11
12
Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo ra những công cụ lưu
Ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách nối mạng máy vi
thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ
tính của các Ngân hàng thương mại trong nước, nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài
thanh toán) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ lưu
khoản người mua sang tài khoản người bán một cách nhanh chóng.
chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá. Ban đầu Ngân hàng đã sử dụng
Quá trình lưu thông chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người
tiền Ngân hàng thay cho tiền vàng trong lưu thông tiết kiệm được chi phí đúc tiền,
bán có một đặc điểm phi vật chất, vì không giống như đồng tiền giấy được chuyển
vận chuyển, bảo quản và hao mòn tiền vàng trong lưu thông. Kế tiếp, Ngân hàng sử
trao tay thực sự từ người này sang người khác, mà nó chính là đồng tiền ghi sổ, rất
còn quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vò trí rất
triển mới. Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng nhận thấy khách hàng
quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các nước
đã sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi mà Ngân hàng đã cấp cho họ để chi trả các
phát triển, phần lớn công tác thanh toán được thực hiện thông qua séc và phần lớn
khoản nợ. Vì thế, các Ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy Ngân hàng
séc thanh toán trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống
được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng. Đây chính
Ngân hàng thương mại. Nếu việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiền gửi và
là một phát minh có giá trò trong lòch sử hoạt động của tiền tệ.
thanh toán trong cùng một Ngân hàng, thì chỉ là một động tác chuyển dòch vốn từ tài
Vào cuối thế kỷ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp được hình thành, các Ngân
khoản này sang tài khoản khác và nếu séc thanh toán trong cùng đòa bàn thì phải
hàng không còn hoạt động riêng lẽ mà đã tạo ra một hệ thống, trong đó Ngân hàng
thông qua thanh toán bù trừ.
Quá trình tạo tiền của Ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt
thương mại chỉ thực hiện được khi Ngân hàng thương mại huy động đã cho vay và số
động tín dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng trong mối liên hệ chặt chẽ
tiền vay đó phải luân chuyển trong hệ thống Ngân hàng thương mại. Do vậy, nếu
với hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Chúng ta giả đònh rằng tất cả các Ngân hàng
Ngân hàng thương mại không tạo được tiền có nghóa là Ngân hàng thương mại đã
thương mại đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức qui đònh, các tờ séc không chuyển
không không tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất.
thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác được bỏ qua thì tiền “ bút tệ” do các
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung , Ngân hàng Việt Nam không mở
Ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân
rộng việc thu nhận tiền gửi vào tài khoản séc, việc thanh toán bằng séc trong dân cư
hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực
không được phổ biến. Ngân hàng ít cung cấp tín dụng qua tài khoản tiền gửi và tài
hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều Ngân hàng. Một Ngân hàng cho
mại có ý nghóa to lớn và toàn diện: một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực
hộ và cho vay của các Ngân hàng thương mại và luôn có sự trợ giúp của Ngân hàng
kỳ quan trọng như là người mở đầu, người tham gia và là người quyết đònh đối với
Nhà nước. (Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để gia tăng
mọi quá trình sản xuất. Nhờ tín dụng tạo tiền mà quá trình sản xuất trôi chảy, trên cơ
hay khống chế khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại theo ý đồ của mình).
sở đó tạo nguồn tích luỹ cho bản thân Ngân hàng thương mại và nền kinh tế. Đồng
Việc tạo tiền của Ngân hàng thương mại đến lúc nào đó, giới hạn nào đó sẽ lôi cuốn
thời có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, vì tín
việc phát hành thêm tiền của Ngân hàng Nhà nước, bởi vì việc tạo tiền có khả năng
dụng Ngân hàng thực hiện vai trò của nó như là một kênh để thông qua đó, tiền
là cho các Ngân hàng thương mại mất khả năng chi trả tiền mặt và lúc đó Ngân
cung ứng được tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế.
hàng Nhà nước phải cho các Ngân hàng thương mại vay để bù đắp thiếu hụt thanh
Ngân hàng thương mại tạo ra bút tệ xuất phát từ tiền của Ngân hàng Nhà
nước. Nếu không có sự ràng buộc nào, thì khả năng tạo ra bút tệ là vô hạn. Tuy
hoặc được hưởng lãi suất, đồng thời Ngân hàng tùy nghi sử dụng tiền gửi đó vào
nghiệp thường xuyên gửi tại NHTM.
Tiền gửi các tổ chức kinh tế có thể chia ra : tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào thời
điểm mà người gửi yêu cầu đối với từng loại tiền gửi. Luật pháp cũng qui đònh rỏ
hạn:
trách nhiệm và quyền lợi của Ngân hàng khi nhận tiền gửi của khách hàng, và
*Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời
chính nghiệp vụ gửi tiền là một tiêu chuẩn để phân biệt giữa Ngân hàng thương
nhàn rổi, họ gửi tiền vào Ngân hàng không chú trọng mục đích sinh lời , mà vì mục
mại và các tổ chức tài chính trung gian khác. Ngân hàng thương mại trở thành người
đích an toàn tài sản, khi cần có thể rút ra một cách dể dàng.
bảo quản các số tiền đó, được phép sử dụng vào hoạt động chuyên môn của mình,
*Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được ủy thác vào Ngân hàng , có sự
nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm hoàn lại vốn trong các điều kiện đã được qui
thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa Ngân hàng với khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn
không phải báo trước. Số dư tài khoản này thường không lớn , nhưng có ưu điểm
hơn so với tiền gửi thanh toán vì số dư của loại tiền gửi này ít biến động.
+ Tiết kiệm có kỳ hạn:
17
18
Ngân hàng thương mại thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ ba tháng
để huy động vốn, trong đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua (hoặc người sở
đến một năm. Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, sẽ
hữu) sau một thời gian nhất đònh. Về phía người mua, trái phiếu Ngân hàng là giấy
không được rút ra trước hạn. Để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền gửi , một số
chứng nhận việc đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên số
Ngân hàng thương mại vẫn cho khách hàng rút tiền trước hạn, nhưng trong trường
tiền mua trái phiếu Ngân hàng.
hợp này tiền gửi của khách hàng chỉ được tính theo lãi suất không kỳ hạn.
+Tiết kiệm dài hạn: đối với tài khoản này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng
có thể gửi tiền vào tài khoản với số lượng không hạn chế, nhưng chỉ được rút ra khi
đến hạn. Đây là loại hình tiết kiệm mà Ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo các
nguồn vốn có tính ổn đònh cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn .
tiền gửi thuộc loại này có ý nghóa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ hơn là
mà người cho vay hướng về người đi vay khi đem tiền bạc, tài sản ra cho vay, họ
biện pháp để các Ngân hàng thương mại huy động vốn vì nó chỉ được sử dụng khi
phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả nợ đúng hạn và ngược lại người đi
cần thiết.
vay cũng tin tưởng vào Ngân hàng khi đem tài sản của mình thế chấp, cầm cố vào
Mức lãi được trả cho các chứng chỉ tiền gửi do sự thỏa thuận trực tiếp giữa
Ngân hàng và người gửi tiền hoặc ở mức mà người gửi tiền có thể chấp nhận được.
Xuất phát từ thực tế khách quan : những người mua chứng chỉ tiền gửi này rất
nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất. Để huy động được vốn nhằm đáp ứng các nhu
cầu thanh toán hay nhu cầu tín dụng, các Ngân hàng thương mại có thể đưa ra các
mức lãi suất cao hơn so với các chứng chỉ tiền gửi khác.
Ngân hàng. Nói cách khác để quan hệ tín dụng tồn tại đòi hỏi phải tạo lập được
niềm tin và đây là cơ sở quan trọng cho quan hệ tín dụng hình thành. Như vậy khái
niệm tổng quát về tín dụng có thể đưa ra là: tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc có hoàn trả (cảø vốn và lãi) sau một thời gian nhất đònh.
Từ khái niệm trên cho thấy trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhượng
lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất đònh. Tuy nhiên,
- Phát hành trái phiếu: Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn
người đi vay không có quyền sở hữu trên số vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người
nối giữa các nguồn cung – cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế.
Thông qua chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn
vốn tạm thời thừa từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kòp thời cho những
doanh nghiệp, nhà nước hay cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn. Nói cách khác:
- Khâu tập trung, tín dụng là nơi tập hợp những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong xã hội.
- Khâu phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cầu vốn cho
doanh nghiệp, các cá nhân và cho cả ngân sách.
Khác với phương pháp ngân sách, việc phân phối mang tính chất cấp phát
không hoàn trả phục vụ chủ yếu cho lónh vực phi sản xuất; phân phối vốn qua hệ
thống tín dụng trên cơ sở hoàn trả, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sản xuất lưu thông
Trên thực tế, vận dụng chức năng của tín dụng được thể hiện thông qua hoạt
động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Đây là loại hình tín dụng gián tiếp của xã
hội, nghóa là quá trình tập trung và phân phối phải qua các tổ chức trung gian. Ngoài
ra, trong điều kiện kinh tế thò trường tín dụng còn thể hiện bằng loại hình tín dụng
trực tiếp như: mua bán chòu hàng hoá giữa các doanh nghiệp, các doanh nghiệp hay
nhà nước sẽ tự huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trên thò trường chứng
khoán.
Như vậy, nếu trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch chức năng
tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng chỉ được thực hiện hầu hết qua các tổ
chức trung gian, thì trong điều kiện cơ chế thò trường cùng với sự đa dạng các hình
thức tín dụng, việc tổ chức phân phối vốn tín dụng cũng được phong phú hơn, tạo
điều kiện điều phối vốn linh hoạt và hiệu quả hơn.
Thực hiện chức năng này, tín dụng còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và các chi
phí lưu thông cho xã hội, biểu hiện cụ thể qua những điểm sau:
Qua quá trình huy động kòp thời những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội,
những khoản vốn này đang tạm thời đứng yên sẽ được đưa vào chu chuyển, nghóa là
tín dụng đã tăng nhòp độ vòng quay của đồng tiền, giảm đồng tiền dư thừa nhằm ổn
đònh lưu thông tiền tệ. Hơn nữa, trong điều kiện hệ thống Ngân hàng phát triển thì
1.3.2.2 – Vai trò của tín dụng:
Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản
Nói đến vai trò tín dụng, nghóa là nói đến sự tác động của tín dụng đối với
ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt như: khối lượng tiền nhàn
nền kinh tế – xã hội. Vai trò của tín dụng bao gồm hai mặt: mặt tích cực và mặt tiêu
rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ…. từ đó giúp chúng ta có cái nhìn
cực. Chẳng hạn nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát, thì không
tổng quát về những quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế đặc biệt là quan hệ giữa
những không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia
tích luỹ và tiêu dùng như: trong tổng nguồn vốn tích luỹ thì kết cấu gồm những
tăng, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hội. Mặt tích cực, tín dụng có vai trò
khoản nào, được huy động từ những thành phần và đối tượng nào, với khối lượng và
to lớn sau đây:
sự biến động qua từng thời kỳ là bao nhiêu…. hoặc với nguồn vốn giành cho tiêu
dùng thì tiêu dùng công cộng, tiêu dùng cho cá nhân là bao nhiêu…
Đặc biệt trong hoạt động cho vay của Ngân hàng để góp phần đảm bảo an
toàn về nguồn vốn, Ngân hàng luôn thực hiện quá trình kiểm tra tình hình tài chính
Tất cả đều hợp lực tác động lên đời sống kinh tế – xã hội kiến tạo ra động
lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
23
24
Thực hiện vai trò này, tín dụng luôn là người trợ thủ đắc lực cho các doanh
Hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà
nghiệp và là người bạn đồng hành trong quá trình phát triển kinh tế.
còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế, bên cạnh các Ngân hàng
. Thứ hai : Tín dụng góp phần ổn đònh tiền tệ, ổn đònh giá cả:
còn có hệ thống các tổ chức tín dụng dân cư sẵn sàng cung ứng nhu cầu vay vốn
Với chức năng tập trung và tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín
hợp lý của cá nhân như: phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh
dụng đã trực tiếp giãm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông. Lượng tiền dôi
hoạt…. Nắm bắt tình hình đó, ngoài việc phát triển các loại hình như : Ngân hàng
thừa nầøy nếu không được huy động và sử dụng kòp thời có thể gây ảnh hưởng xấu
các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.
trong các công cụ điều tiết vó mô của nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu của chính
1.3.2.3. Các hình thức của tín dụng trong nền kinh tế thò trường:
Trong nền kinh tế thò trường, tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú.
sách tiền tệ trong từng thời kỳ, thì lãi suất tín dụng đã trở thành công cụ điều tiết
linh hoạt và nhạy bén của nền kinh tế.
.Thứ ba: Tín dụng góp phần ổn đònh đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn
đònh trật tự – xã hội.
Trong quản lý tín dụng tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà có cách phân loại khác
nhau.
1.3.2.3.1. Căn cứ theo thời hạn :
Vai trò này của tín dụng có thể nói là hệ quả tất yếu của 2 vai trò nêu trên.
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng
Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu
và dòch vụ ngày càng gia tăng góp phần thoả mãn nhu cầu đời sống của người lao
ngắn hạn của cá nhân .
động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác
1.3.2.3.2. Căn cứ vào tính chất sử dụng vốn vay .
a* Tín dụng sản xuất: Là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh, được thể hiện dưới những hình thức:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng nhà ở, đất đai, bất động sản trong lónh vực công nghiệp, thương mại và dòch vụ.
quả, khả thi và độ tín nhiệm, uy tín trong quan hệ tín dụng của khách hàng.
1.3.2.3.4. Căn cứ vào chủ thể:
Trong nền kinh tế thò trường tồn tại ba hình thái tín dụng chủ yếu đó là: tín
dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng.
* Tín dụng thương mại (tín dụng hàng hóa) :
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
Đây là quan hệ tín dụng giữa các tổ chức kinh tế, các công ty xí nghiệp với
vốn lưu động cho các thành phần kinh tế hoạt động trong lónh vực công nghiệp
nhau được thực hiện dưới hình thức mua bán chòu hàng hóa cho nhau, loại tín dụng
thương mại dòch vụ.
nầy, người bán có thể đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa giúp giảm chi phí lưu
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như :
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động, nhiên liệu …
kho, chi phí bảo quản … Người mua sớm có được hàng để sản xuất kinh doanh, đảm
bảo quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục .
mua và bán, với những giới hạn nhất đònh nên TDTM không thể đáp ứng mọi nhu
tiêu thụ hàng hóa trong điều kiện năng suất lao động tăng cao.
cầu của tái sản xuất trong nền kinh tế. Sự hạn chế nầy được khắc phục bổ sung ở các
1.3.2.3.3. Căn cứ vào tính chất đảm bảo :
a- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo
đảm như : thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, cho vay
bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
thế mạnh của các loại tín dụng khác .
* Tín dụng ngân hàng:
27
Đây là quan hệ tín dụng chủ yếu giữa ngân hàng với các doanh nghiệp, các cá
nhân. Là hình thức mà các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung
tâm của ngân hàng.
Theo các nhà kinh tế cho rằng :“ Tín dụng ngân hàng là sự giao dòch về tài sản,
trong đó ngân hàng cho vay vốn đối với các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế, các chủ
thể này cam kết hoàn trả vốn cùng lãi cho ngân hàng theo đúng thời hạn như đã thỏa
thuận”.
Điều 20, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam nêu : “Cấp tín dụng là việc tổ
chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có
hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác...”
28
các chứng khoán nhằm cung cấp thanh khoản như: hối phiếu chấp nhận thanh toán,
hoạt động bằng công cụ truyền thống và phổ biến của nó là trái phiếu .
- Căn cứ vào thời hạn, có 3 loại : Trái phiếu ngắn hạn ( < 1năm ), trái phiếu
trung hạn ( 1 – 3 năm ) và trái phiếu dài hạn ( > 3 năm ) .
- Căn cứ vào cách tính và trả lãi có 3 loại : Trái phiếu lãi suất cố đònh, trái
phiếu chiết khấu, trái phiếu trả lãi vào cuối kỳ .
TDNN có chức năng bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước nhằm giải quyết
thương phiếu thò trường mở, tiền vay của người môi giới và giấy chứng nhận tiền lãi
của công ty tín dụng hàng hóa thương mại. Để gia tăng lợi tức, các khoản đầu tư
cũng hướng vào các trái phiếu do một số cơ quan nhà nước phát hành và trong một
giới hạn, cho các trái phiếu công ty.
Các ngân hàng lớn, tỷ lệ đầu tư chứng khoán so với tổng tài sản có ít hơn
nhiều so với các ngân hàng nhỏ.
những thiếu hụt trong chi tiêu và cao hơn là bù đắp thiếu hụt trong đầu tư phát triển
Mỗi ngân hàng thương mại đều có một chính sách đầu tư riêng. Các yếu tố cơ
kinh tế, cũng như để tăng cường nguồn lực tài chính nhằm thu thi các chính sách
bản quyết đònh các mục tiêu chính của chính sách đầu tư của ngân hàng là lợi tức,
quản lý vó mô đối với nền kinh tế –xã hội.
nhu cầu thanh khoản và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro của nhà quản trò.
bán chứng khoán, tư vấn về mặt giá cả chứng khoán khi mua bán, hoặc ngân hàng
có thể mua bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi, hoặc hưởng giá trò thặng
dư hoặc vì mục đích khác.
đại lý với ngân hàng nước ngoài; thực hiện chuyển tiền thanh toán bằng ngoại tệ cho
1.3.5.2. Dòch vụ ủy thác
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; bảo lãnh các khoản vay cho các doanh
Một trong những vai trò quan trọng của ngân hàng là cung cấp các dòch vụ ủy
nghiệp trong nước vay vốn nước ngoài dưới các hình thức: mở thư tín dụng mua hàng
thác (tín thác) cho doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức cộng đồng. Chức năng tín thác
trả chậm, ký bảo lãnh trên các thương phiếu với nước ngoài, phát hành thư bảo lãnh,
bao gồm việc quản lý các tài sản tích lũy và các vấn đề tài chính của cá nhân hoặc
lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ với nước ngoài, tái bảo lãnh các khoản vay vốn nước
tổ chức và giải quyết quyền lợi của họ.
ngoài đối với các Ngân hàng thương mại khác.
1.3.5. Dòch vụ Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác (dòch vụ Ngân
hàng trên thò trường chứng khoán, dòch vụ ủy thác, dòch vụ thanh toán quốc tế, dòch
vụ cho thuê két sắt, dòch vụ tư vấn…)
1.3.5.1. Dòch vụ ngân hàng trên thò trường chứng khoán:
Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
qua ngân hàng. Đây là nghiệp vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ
cấp cho khách hàng những lời khuyên chính xác nhất, tin cậy nhất với tinh thần phục
ngân hàng, tạo sự hòa nhập hệ thống ngân hàng Việt Nam vào hệ thống ngân hàng
vụ tận tình và chu đáo nhất.
thương mại thế giới, đảm bảo nhanh chóng, an toàn và hiệu quả.
1.3.5.4. Dòch vụ cho thuê két sắt
1.4. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại:
1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM.
Trước công nguyên, các tổ chức kinh doanh tiền tệ đã thực hiện nghiệp vụ
Trong những thập kỷ gần đây, cộng đồng ngân hàng thế giới đã đưa ra nhận
nhận ký gửi vàng của khách hàng. Về sau khi các ngân hàng ra đời quy trình ký gửi
đònh: muốn duy trì được tính lành mạnh và ổn đònh của một ngân hàng, cần phải có 5
vàng đã hoàn thiện: người ký gửi vàng được cấp một giấy chứng nhận do ngân hàng
yếu tố, các yếu tố này được tiêu thức hóa thành phương pháp phân tích CAMEL.
ký phát và các giấy này có thể chuyển nhượng được, như sử dụng để mua hàng hóa
Đây là phương pháp phân tích được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng.
người kinh doanh. CAMEL dễ làm ta liên tưởng đến hình ảnh con lạc đà đang tải
sản xuất kinh doanh, giúp họ có thể giãm tối thiểu được rủi ro hay thiệt hại và đạt
những kiện hàng nặng nề đi trong sa mạc. Nhà quản trò ngân hàng cũng chòu một
được mức lợi nhuận tối đa.
gánh nặng nề về công việc và trách nhiệm tương tự trong việc tạo và giữ vò trí ngân
Thu nhập của ngân hàng trong dòch vụ tư vấn không chỉ đơn thuần là thu lệ
phí phục vụ cho khách hàng thanh toán mà qua nghiệp vụ này, các ngân hàng còn
hàng trong môi trường kinh doanh tiền tệ đầy cạnh tranh khắc nghiệt. Các yếu tố
quan trọng cần phân tích đó là:
mở rộng khách hàng; củng cố, tăng cường vò trí và uy tín của mình một cách nhanh
1.4.1.1.Các chỉ tiêu thuộc phạm vi của vốn tự có NHTM:
chóng.
Vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng chủ yếu do các chủ sở hữu đóng góp và
Tất nhiên, để chiếm được lòng tin của khách hàng đối với mình, ngòai việc
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, áp dụng các thành tựu khoa học hiện đại, ngân
hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng các dòch vụ tư vấn. Đảm bảo luôn cung
một phần được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận được giữ lại.
Vốn tự có gồm 2 phần: Vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung.
hàng qui mô nhỏ sẽ không đủ khả năng đáp ứng về số lượng, về thời gian và cả rủi
lực đề kháng rủi ro của ngân hàng.
Khi đánh giá phân tích vốn tự có ngân hàng bao gồm 2 phần chủ yếu:
Thứ nhất là : phân tích khả năng an toàn của vốn tự có, Ngân hàng thường sử
dụng 2 chỉ số sau để tiến hành đánh giá vốn tự có của ngân hàng:
ro do các yêu cầu của hoạt động đầu tư đặt ra.
- Việc nâng cao vốn tự có còn có ý nghóa vô cùng quan trọng trong điều kiện
của Ngân hàng Việt Nam hiện nay, vì nó góp phần củng cố lòng tin của dân chúng
đối với hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, nó là cơ sở để đảm bảo bù đắp rủi ro cho
- Chỉ số 1: H1= Vốn tự có/Tổng số tiền huy động
những người gửûi tiền trong điều kiện Việt Nam mới bắt đầu hình thành hệ thống Bảo
Chỉ số 1 xác đònh qui mô huy động vốn của ngân hàng đồng thời tính toán
hiểm tiền gửi Việt Nam.
khả năng huy động của đồng vốn tự có.
- Việc nâng cao vốn tự có của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
- Chỉ số 2: H2=Vốn tự có/Tổng giá trò tài sản có
sẽ góp phần giãm lãi suất cho vay trong nền kinh tế vì hai lẽ: một mặt vì vốn tự có
Trong quá trình đổi mới tổ chức và quản lý ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng
nay hết sức quan trọng vì các lý do sau:
theo hướng đa dạng hóa, vừa giãm rủi ro cho các ngân hàng, vừa gia tăng được các
tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp cho xã hội.
35
Tóm lại, mỗi ngân hàng cần phải có đủ vốn để có thể chòu đựng rủi ro trong
mọi hoàn cảnh. Tuân thủ qui đònh về vốn điều lệ tối thiểu chưa hẳn là an toàn, mà
vấn đề còn là ở chỗ việc sử dụng đó liên quan đến các tài sản có mức độ rủi ro như
thế nào.
Thứ hai là : phân tích tình hình trích lập các quỹ của ngân hàng, trong các
quỹ Ngân hàng khi phân tích luôn chú ý đến việc trích lập và sử dụng 2 quỹ: Quỹ dự
trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự phòng rủi ro.
Ở các nước, ngoài qui chế về vốn tự có an tòan, người ta còn qui đònh về
thành lập và sử dụng quỹ dự phòng các tổn thất cho vay. Qui chế dự phòng cùng với
qui chế an toàn vốn bổ sung cho nhau trong việc quản lý rủi ro tín dụng và bảo đảm
tiền gửi, tăng cường lòng tin cho khách hàng. Hiện nay ở Việt Nam, các NHTM trích
lập dự phòng rủi ro, được hạch toán vào chi phí.
36
ngân hàng. Tuyệt đại đa số rủi ro vốn có trong kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài
sản có.
Tài sản có của Ngân hàng thương mại bao gồm:
+ Tiền mặt và tiền gửi ở Ngân hàng nhà nước: Phần này liên quan đến việc
duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng. Loại tài sản có này không sinh lời, có
tên chung là tiền dự trữ.
Tiền dự trữ bao gồm: dự trữ bắt buộc hay dự trữ pháp đònh, dự trữ luân
+ Tài sản có khác bao gồm: tài sản cố đònh và thiết bò; các khoản phải thu, tài
sản thiếu hụt mất mát,.v.v…
Để phân tích tài sản có một cách toàn diện, các nhà quản trò phải nghiên cứu
1.4.1.2. Các chỉ tiêu thuộc phạm vi tài sản có:
từ việc xác đònh chính sách, chiến lược kinh doanh đến các thủ tục nghiệp vụ, khả
Tài sản có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng
năng kiểm soát nội bộ và độ an toàn về tài sản của ngân hàng. Khi cung cấp tín
thanh toán của một ngân hàng, chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên
dụng, các ngân hàng phải quan tâm đến nguyên tắc rủi ro… Khi phân tích tài sản có,
khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của một
công việc đầu tiên của người quản trò là phải phân loại các khoản nợ để quản lý một
cách hiệu quả các khoản nợ này. Nhìn chung chia làm năm lọai : Nợ lưu hành bình
37
thường; nợ cần lưu ý nhưng không xếp loại; nợ kém tiêu chuẩn; nợ có dấu hiệu nghi
ngờ và nợ khê đọng không có khả năng thu hồi.
38
Tài sản có của ngân hàng phần lớn là các khoản cho vay và ứng trước, do
có của ngân hàng để trang trải. Giải pháp này nhằm đảm bảo nguyên tắc: ngân hàng
tài sản có là phải xếp loại chúng.
phải gánh chòu những rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng không được phép lấy
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tiến hành hoạt động phân tích là phải
nguồn tiền gửi của khách hàng để bù đắp tổn thất. Điều này giúp cho tình hình tài
sắp xếp lại đối tượng phân tích theo một trật tự nhất đònh phù hợp với mục tiêu phân
chính của ngân hàng được lành mạnh hơn, đồng thời buộc ngân hàng phải thận trọng
tích. Khi tiến hành phân tích qui mô, chất lượng nghiệp vụ tín dụng, các nhà phân
khi cung cấp tín dụng.
tích thường sử dụng các chỉ số tài chính sau:
Ngân hàng phải gánh chòu những rủi ro trong kinh doanh bởi lẽ, khi mà mọi
- Chỉ số 1: I1= Tổng dư nợ/ nguồn vốn huy động.
lợi nhuận thuộc về quyền thụ hưởng của ngân hàng, thì mọi mất mát nếu có, cũng
Chỉ số này giúp so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy
phải do ngân hàng gánh lấy. Trong thực tế, không một ngân hàng nào trên thế giới
cuối cùng chỉ có vốn cổ phần là phải chòu đựng thiệt hại rủi ro tín dụng. Nói cách
lượng tín dụng. Theo qui đònh của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng có tỷ lệ nợ
khác, các nhà sáng lập hay hội đồng cổ đông phải bỏ vốn cổ phần ra để bù vào.
quá hạn trên tổng dư nợ >7% được xem là ngân hàng yếu kém. Nếu chỉ số này
tài sản sau:
Đánh giá khả năng thanh toán của một ngân hàng là một lónh vực khó khăn.
+ Tiền gửi không kỳ hạn .
Về cơ bản, phân tích khả năng thanh toán của một ngân hàng là xem xét khả năng
+ Vay ngắn hạn các tổ chức tín dụng.
giải quyết được vấn đề nguồn vốn vào lúc tương đối bức xúc.
+ Các cam kết cho vay: theo dõi ngoại bảng.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn phải thường xuyên duy trì nguồn tiền
Chỉ số đo lường khả năng thanh toán tức thì cao chứng tỏ ngân hàng có thanh
mặt, tiền gửûi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác và các tài sản có thể
khoản tốt. Nhưng nếu quá cao, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân
chuyển ngay thành tiền ở mức đủ chi trả trong ba ngày làm việc tiếp theo.
hàng, bởi vì tài sản có động là những tài sản không sinh lời của ngân hàng hoặc có
Một trong các chỉ số dùng để đánh giá khả năng thanh toán của ngân hàng
thương mại là chỉ số đo lường khả năng thanh toán tức thì:
Nhược điểm của hệ số ROE; đối với một ngân hàng cụ thể, lợi nhuận trên
tạo ra tăng trưởng nội tại tác động đến khả năng huy động vốn bên ngoài và tạo hình
tòan bộ các tài sản có tương đối thấp, tuy nhiên mức lợi trên vốn cổ phần có thể rất
ảnh tốt cho ngân hàng trong thò trường tiền tệ.
cao. Trong trường hợp này, vốn cổ phần của ngân hàng sẽ nhỏ so với tài sản có của
Để đánh giá chung khả năng sinh lời của ngân hàng, khi phân tích phải tập
nó, tức là ngân hàng sẽ bò mất nhiều khả năng độc lập nên có thể đang có các rủi ro
hợp đúng các khoản thu nhập và chi phí trong kỳ, lọai bỏ các khoản thu không đúng
về ký thác, mặc dù mức lợi nhuận trên vốn cổ phần cao tạo ra hình ảnh ngân hàng
chế độ và các khoản thu bất hợp lý ra khỏi công thức xác đònh lợi nhuận. Vì nguồn
đang hoạt động có vẻ tốt. Chính sự sắp xếp tài chính trên cho thấy sự thiếu sót của
hình thành vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại chủ yếu là do huy động vốn từ
chỉ tiêu ROE khi dùng để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng bằng lợi tức trên
thò trường nên cơ cấu thu nhập và chi phí của các ngân hàng thương mại không giống
vốn cổ phần. ROE nếu quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn huy động quá lớn so với
+ Lãi cổ phần=Lợi nhuận ròng/vốn cổ phần của các cổ đông
hữu hiệu; tỷ trọng thấp giữa tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn so với tổng ký thác;
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, còn phải có một loạt các biện pháp về quản trò
kết quả của lợi tức cao kiếm được từ tài sản có. Tỷ lệ này càng cao nói lên sự quản
ngân hàng liên quan đến các lónh vực chuyên môn như: kế toán, ngân quỹ, tiếp thò,
lý các tài sản có tốt. Tuy nhiên cũng thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tài
kinh doanh…cùng với những quyết đònh đúng và kòp thời của nhà quản trò.
sản cóù.
- ROE=Thu nhập ròng/vốn tự có x 100
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tiền tệ của
các NHTM.
Chỉ tiêu này đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng. Hệ
Bất kỳ hoạt động nào cũng đòi hỏi mang lại hiệu quả, với nhiều góc độ nhìn
số ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ đơn vò vốn đầu tư. Hệ số ROE qui đònh giá
nhận khác nhau của một hoạt động nào đó thì sự đánh giá hiệu quả cũng khác nhau.
Giả sử có một dự án cần được đánh giá thì : đứng về phía xã hội sẽ đánh giá hiệu
mua và giá bán đó chính là lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Như vậy có thể nói
mạch máu của toàn bộ nền kinh tế. Nếu một ngân hàng thương mại nào đó hoạt
rằng kinh doanh ngân hàng chính là kinh doanh quyền sử dụng hàng hóa tiền tệ.
động kém hiệu quả sẽ gây ra sự xáo trộn hoạt động của các thành phần kinh tế và
gây ảnh hưởng đến nền kinh tế.
Kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt. Chất liệu kinh
doanh chủ yếu của loại hình này là “quyền sử dụng các khoản tiền tệ”
Nền kinh tế càng phát triển thì kinh doanh ngân hàng càng phát triển với nội
dung phong phú và đa dạng hơn; mặc dù các hoạt động kinh doanh đó vẫn dựa trên
cơ sở kinh doanh quyền sử dụng tiền tệ.
Một trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nguồn gốc xa xưa đó là
Trong điều kiện của cơ chế thò trường tiền tệ có một chức năng đặc biệt là nó
hoạt động thanh toán hộ cho khách hàng của mình.Thông thường các ngân hàng giữ
vừa là công cụ để huy động các nguồn tài nguyên xã hội vào quá trình sản xuất
hộ tiền cho khách bằng cách mở các tài khoản tiền gửi cho khách hàng. Khi khách
phân phối, tiêu dùng như lao động, nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bò, các
hàng cần thanh toán cho một chủ nợ nào đó khách hàng chỉ cần ra lệnh là ngân hàng
công nghệ sản xuất, v.v…đồng thời nó còn là một công cụ để Nhà nước điều hành
nào đó để thu lợi.
chủ yếu, nó là nền tảng của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Để thoả mãn nhu cầu nói trên của một nền kinh tế phát triển, ngân hàng ra
Các ngân hàng hiện đại ngày nay còn phát triển nhiều dòch vụ kinh doanh
đời với mục đích “giữ hộ” các khoản tiền của những người chưa có nhu cầu sử dụng.
mới khác để thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế như hoạt động bảo lãnh tín dụng,
45
46
hoạt động tư vấn tài chính, chuyển tiền hộ cho khách hàng, cho thuê các phương tiện
Thái Lan chú trọng tín dụng phát triển nông nghiệp để đẩy mạnh xuất khẩu.
giữ tiền- vàng bạc đá q, đầu tư vào các doanh nghiệp, kinh doanh chứng khoán
Bằng cách hạ lãi suất mở rộng tín dụng đối với lónh vực nông nghiệp, đảm bảo nhu
v.v…
cầu vốn cho nông dân đặc biệt là vùng sâu vùng xa.
Có thể khẳng đònh rằng kinh doanh ngân hàng là loại hình hình doanh gặp
giới luôn chú trọng yếu tố chất lượng tín dụng khi phát triển hệ thống các NHTM,
Tuy nhiên hệ thống ngân hàng Thái Lan cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém :
bởi vì tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM, có liên quan và tác động đến mọi
-Hệ thống Ngân hàng phát triển nhanh nhưng vấn đề quản lý Ngân hàng non
hoạt động khác của NHTM. Hầu hết các NHTM không chỉ huy động các nguồn tiền
kém, hệ thống giám sát Ngân hàng vừa không hợp lý, vừa thiếu minh bạch, các báo
nhàn rỗi trong nền kinh tế đồng thời tiến hành phân phối lại vốn tín dụng hợp lý và
cáo tài chính của một số Ngân hàng cũng như của công ty thiếu chính xác, bò bóp
hiệu quả mà còn là điều kiện để NHTM phát triển sản phẩm cung ứng trên thò
méo, các Ngân hàng Thái Lan đã che dấu tình trạng thua lỗ từ năm 1992 đến năm
trường. Dưới đây là kinh nghiệm của NHTM ở một số nước điển hình về việc nâng
1995.
cao hiệu quả tín dụng:
-Mặt khác, các Ngân hàng đã mạo hiểm sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư cho vay
1.5.1. Thái Lan:
Toàn bộ hoạt động tín dụng chòu sự giám sát chặt chẽ của NHNDTQ. Với vai
tài sản hạn chế dưới 50% tổng số vốn; các Ngân hàng không được đầu tư quá 20%
trò giám sát hoạt động các Ngân hàng, quản lý và kiểm soát điều chỉnh toàn bộ kế
tổng số vốn vào cổ phần; bên cạnh đó Ngân hàng thực hiện 100% dự phòng đối với
hoạch cho vay của uỷ ban kế hoạch nhà nước, hạn mức tín dụng sẽ được NHTW
những tài sản có xếp loại đáng nghi ngờ. Tỉ lệ dự trữ thanh khoản theo quy đònh là
phân bổ đến các chi nhánh Ngân hàng đòa phương trên cơ sở cân đối giữa nguồn vốn
7% trong đó 2% tiền gửi tại NHTW, tối đa không quá 2,5% tiền mặt, còn lại dưới
huy động và nhu cầu vay vốn của khách hàng đã được chỉ đònh. Để đáp nhu cầu vốn
dạng chứng khoán và buộc các Ngân hàng bò đóng cửa phải tăng vốn điều lệ lên
hệ thống Ngân hàng một cấp này cho phép điều chuyển vốn từ Ngân hàng thừa vốn
15% tổng vốn thì mới có thể tiếp tục hoạt động.
sang Ngân hàng thiếu vốn trong phạm vi không quá 20% số dư tiền gởi, những Ngân
-Thứ ba, chính phủ thành lập cơ quan tái cơ cấu tài chính (Financial
hàng quốc doanh nếu vẫn còn thiếu hụt vốn sẽ được NHNDTQ cấp vốn. Với cơ chế
giãm, chất lượng tín dụng được nâng cao, khắc phục tình trạng thua lổ như những
khó đòi gia tăng.
năm 1992,1995.
Sản phẩm tín dụng còn đơn điệu, vì chủ yếu tập trung tín dụng cho DNNN,
1.5.2. Trung quốc
nên sản phẩm NH phục vụ đơn điệu mang nặng tính hành chính, cho vay theo kế
1.5.2.1. Trước 1984 hệ thống NH Trung quốc được xây dựng theo mô hình một
hoạch chỉ đònh từ trên xuống.
cấp, thể hiện những đặc trưng cơ bản sau:
1.5.2.2. Sau năm 1984 thực hiện cải cách ngân hàng theo mô hình hai cấp:
Ngân hàng nhân dân Trung quốc (NHNDTQ) là NHTM nắm quyền điều tiết
Việc cải cách hệ thống Ngân hàng bắt đầu thực hiện vào 1984 khi NHNDTQ
chính khu vực tài chính, được thành lập như một NH đơn cấp vừa đảm nhận vai trò
từ bỏ chức năng của NHTM bằng cách thành lập Ngân hàng công thương để trở
như một NHTW vừa đảm nhận vai trò NHTM. NHNDTQ nắm giữ việc cung ứng
- Xoá bỏ các chi nhánh thua lỗ của các NHTM quốc doanh, thành lập các
NHTM cổ phần đòa phương ở 300 thành phố.
Đến năm 1993, NHNDTQ đãø chính thức chấm dứt độc quyền tín dụng, các NHTM
- Tháng 4/1999 Trung Quốc thử nghiệm thành lập công ty xử lý tài sản thế
được toàn quyền quyết đònh, chủ động điều tiết cân đối tín dụng, tự do huy động tiền
chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng, công ty CINDA có trách nhiệm các khoản nợ khó
gởi cho vay, đa dạng hóa các sản phẩm trên thò trường để đáp ứng đầy đủ yêu cầu
đòi lên đến 363.2 triệu USD của Ngân hàng xây dựng Trung Quốc. Tháng 10/1999
của nền kinh tế đang trong quá trình cải cách.
Trung Quốc thành lập công ty xử lý tài sản thứ hai để xử lý nợ khó đòi của NHTM
Năm 1984, Trung Quốc mở cửa cho phép Ngân hàng nước ngoài tham gia
Trung Quốc. Qua thí điểm thành công Trung Quốc đà mạnh dạn chuyển giao toàn bộ
nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát khá chặt chẽ của nhà nước. Năm 1995, các
số nợ khó đòi lên đến 299 tỷ USD tương đương với 20% GDP cho các công ty xử lý
Ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh, thành lập NH liên doanh thí điểm
của 4 NHTM lớn nhất đó là: Ngân hàng xây dựng Trung Quốc (China Construction
Hệ thống Ngân hàng Trung Quốc đã có chuyển biến tích cực đóng vai trò
quan trọng việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng phải chòu sự chi phối của nhà
Kết luận Chương một: