VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ VĂN CÂN
HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 62.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
2. TS. NGUYỄN PHI NGA
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ VĂN CÂN
HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
2.4. Xác định và đo lƣờng kết quả đầu ra của hoạt động ĐTTC và ĐTNC
2.5. Khung lý thuyết và công cụ phân tích HQKT của hoạt động đào tạo
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG ĐÀO
TẠO THEO NIÊN CHẾ VÀ ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ CỦA
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
3.1. Thông tin, số liệu đầu vào dùng cho phân tích chi phí – hiệu quả của
hoạt động đào tạo
3.2. Thực hiện phân tích chi phí – hiệu quả
3.3. Phân tích thực trạng HQKT trong ĐTNC và ĐTTC của GDĐH ở Việt
Nam
3.4. Xem xét chung về HQKT của 3 nhóm trƣờng ĐTTC
Chƣơng 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ CỦA GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
4.1. Căn cứ để đề xuất các giải pháp nâng cao HQKT trong ĐTTC
4.2. Một số giải pháp nâng cao HQKT trong ĐTTC
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ VỀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
10
10
17
21
26
34
42
ĐHCNHN
ĐHCNQN
ĐHKTQD
ĐHNNHN
ĐHSĐ
ĐHSPHN
ĐTNC
ĐTNC-HP
ĐTTC
ĐVHT
GDĐH
GTC
GV
LICP
PĐCP
PPGD
SV
TC
TD-ABC
TH
TSCĐ
TTB
Activity-Based Costing
(Tính toán chi phí dựa trên hoạt động)
Cán bộ nhân viên
Chịu chi phí
Chi phí – Hiệu quả
Cơ sở vật chất
Đại học Bách khoa Đà Nẵng
Bảng 1.2. Chi phí đào tạo thực tế và chi phí đào tạo hợp lý tại Việt Nam
32
(năm 2010)
Bảng 1.3. Chi phí đào tạo hiện hành dựa trên xác định hệ số chi phí
33
Bảng 1.4. Chi phí đào tạo theo yêu cầu thực tế
34
Bảng 1.5. Các chỉ số thể hiện hiệu quả trong GDĐT
38
Bảng 2.1. Những khác biệt cơ bản giữa ĐTNC và ĐTTC có ảnh hƣởng
46
đến HQKT của hoạt động đào tạo
Bảng 2.2. Mối quan hệ giữa câu hỏi đánh giá và loại phân tích
55
Bảng 2.3. So sánh về thời gian học của SV trong ĐTTC và ĐTNC
72
của Trƣờng đại học Bách khoa Đà Nẵng
Bảng 3.8. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (giả định)
145
của Trƣờng đại học Nông nghiệp Hà Nội
Bảng 3.9. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (giả định)
146
của Trƣờng đại học Sƣ phạm Hà Nội
Bảng 3.10. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (giả định)
147
của Trƣờng đại học Kinh tế quốc dân
Bảng 3.11. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (thực tế)
148
của Trƣờng đại học Công nghiệp Hà Nội
Bảng 3.12. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (thực tế)
149
của Trƣờng đại học Sao Đỏ
Bảng 3.13. Kết quả phân tích chi phí – hiệu quả trong ĐTTC (thực tế)
96
SPHN
Bảng 3.20. So sánh HQKT giữa ĐTNC và ĐTTC ở Trƣờng đại học
98
KTQD
Bảng 3.21. Sự tăng/giảm cơ cấu chi phí nguồn lực giữa ĐTTC và ĐTNC
102
Bảng 3.22. Sự tăng/giảm cơ cấu chi phí nhóm nguồn lực giữa ĐTTC và
105
ĐTNC
Bảng 3.23. So sánh HQKT giữa ĐTTC và ĐTNC ở Trƣờng đại học
108
CNHN
Bảng 3.24. So sánh HQKT giữa ĐTTC và ĐTNC ở Trƣờng đại học Sao
109
Đỏ
Bảng 3.25. So sánh HQKT giữa ĐTTC và ĐTNC ở Trƣờng đại học
CNQN
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ (ĐTTC) ra đời năm 1872 tại Đại
học Harvard; đến đầu thế kỷ 20 đƣợc áp dụng tại hầu hết các trƣờng đại học ở
Hoa Kỳ, rồi lan tỏa sang các nƣớc Bắc Mỹ và Tây Âu từ những năm 1960.
Sau đó, các nƣớc châu Á cũng lần lƣợt áp dụng ĐTTC, bắt đầu từ Nhật Bản,
Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine,
rồi đến Trung Quốc, Ấn Độ.
Ở Việt Nam, chủ trƣơng chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế (ĐTNC)
sang ĐTTC đã đƣợc đ t ra cách đây hơn 20 năm. Từ năm học 1993-1994, Bộ
Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT) đã khuyến khích các trƣờng đại học nghiên
cứu và áp dụng ĐTTC. Đi đầu trong định hƣớng này là Trƣờng Đại học Bách
khoa Tp. Hồ Chí Minh (năm học 1993-1994); tiếp đến là các trƣờng nhƣ Đại
học Đà Lạt, Đại học Thủy sản Nha Trang, Đại học Cần Thơ, Đại học Sƣ
phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh (năm học 1994-1995); sau đó là các trƣờng
Đại học Xây dựng, Đại học dân lập Thăng Long, Đại học Khoa học tự nhiên
thuộc Đại học quốc gia Tp. HCM...[25,7]
Đến năm 2001, Bộ trƣởng Bộ GDĐT ra Quyết định số 31/2001/QĐBGDĐT chỉ đạo các trƣờng đại học và cao đẳng thí điểm tổ chức ĐTTC; và
ngày 15/8/2007, Bộ trƣởng Bộ GDĐT ra Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT
ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống
tín chỉ”.
Với sự chỉ đạo tích cực nhƣ vậy, năm học 2006-2007 đã có thêm nhiều
trƣờng đại học trong cả nƣớc chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhƣ:
Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Luật, Đại
1
học Huế, Đại học Vinh, Đại học Thái Nguyên... Và đến năm học 2010-2011,
đa số các trƣờng đại học báo cáo đã thực hiện ĐTTC.[25,7]
Trên lộ trình chuyển đổi từ ĐTNC sang ĐTTC, Giáo dục đại học Việt
lý và giá thành đào tạo giảm đi bao nhiêu so với ĐTNC; thể hiện trên những
bình diện nào, thông qua những chỉ số đo lƣờng nào.
Liên quan đến hiệu quả kinh tế trong ĐTTC, loại công trình nghiên cứu
thứ hai sau khi phân tích những điều kiện để triển khai ĐTTC thƣờng chỉ ra
r ng: Để đảm bảo chất lượng trong ĐTTC, cần phải đầu tư nhiều hơn cho các
cơ sở đào tạo. Ví dụ nhƣ:
- Theo Tôn Quang Minh (2015): Thực ra khi chuyển từ ĐTNC sang
ĐTTC nhà trƣờng buộc phải bổ sung, trang bị thêm rất nhiều các điều kiện
đảm bảo khác, ví dụ tăng thêm các điều kiện để sinh viên có thể tự học hiệu
quả nhƣ tài liệu, phòng đọc, tăng giờ mở cửa phòng thực hành, thí nghiệm,
tăng chất lƣợng giảng dạy của giảng viên… Do vậy, nói ƣu điểm của phƣơng
pháp ĐTTC là giảm đƣợc chi phí chung là không đúng.[18,1]
- Theo Nguyễn Tấn Hùng (2010): Hiện nay, cơ sở vật chất cho các
phòng học không đƣợc đảm bảo, lớp tín chỉ quá đông (trên 100 sinh viên),
giảng viên chỉ có thể thuyết trình mà không có điều kiện tổ chức trao đổi, thảo
luận; không có những dự án lớn để tu sửa phòng học, mua sắm phƣơng tiện
kỹ thuật phục vụ giảng dạy, khuyến khích giảng viên thực hiện giảng dạy tích
cực.[15,151]
Tuy nhiên, cũng chƣa có nhà hoạt động thực tiễn nào chỉ ra đƣợc r ng,
trong ĐTTC, cần phải tăng kinh phí lên bao nhiêu để triển khai các hoạt động
nói trên.
Nhƣ vậy, có thể nói r ng: Về mặt lý luận, đã có nhiều công trình nghiên
cứu về HQKT trong ĐTTC của Giáo dục đại học. Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu chủ yếu mới dừng lại ở những nghiên cứu định tính của vấn đề này. Những
câu hỏi sau đây cho đến nay vẫn chƣa đƣợc trả lời thỏa đáng:
3
- Chất lƣợng trong ĐTTC sẽ ra sao khi thời gian dạy trên lớp của giảng
học ở Việt Nam thông qua các nghiên cứu định lƣợng để tính toán và ƣớc
lƣợng HQKT trong ĐTTC của Giáo dục đại học Việt Nam.
Với những lập luận trên đây, tác giả Luận án cho r ng: Đề tài “Hiệu quả
kinh tế trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của giáo dục đại học ở Việt Nam”
thực sự có tính cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng thể:
Tìm kiếm những giải pháp nh m nâng cao hiệu quả đào tạo của Giáo dục
đại học ở Việt Nam.
2.2. Các mục tiêu cụ thể:
- Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong ĐTTC.
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong ĐTTC.
- Xây dựng khung lý thuyết, thiết kế các công cụ để đánh giá hiệu quả
kinh tế trong ĐTTC.
- Thực hiện phân tích chi phí - hiệu quả trong ĐTNC và ĐTTC ở một số
trƣờng đại học của Việt Nam.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong ĐTTC; so sánh với hiệu quả kinh tế
trong ĐTNC.
- Tìm kiếm giải pháp nh m nâng cao hiệu quả kinh tế trong ĐTTC của
Giáo dục đại học ở Việt Nam.
- Đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hiệu quả kinh tế trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
3.1. Phạm vi nghiên cứu:
Vì thời gian có hạn và g p nhiều khó khăn trong thu thập tƣ liệu (đ c
biệt là các số liệu về tài chính của các trƣờng đại học, cao đẳng) nên Luận án
chỉ tập trung vào việc phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trong ĐTTC và
5
5.2. Các phương pháp xử lý thông tin:
- Phân tích định tính: Đƣa ra những phán đoán về bản chất của sự kiện,
đồng thời thể hiện mối quan hệ logic của các sự kiện, các phân hệ trong hệ
thống các sự kiện đƣợc xem xét; xây dựng các giả thuyết và giả thiết nghiên
cứu, chứng minh cho các giả thuyết đó từ những sự kiện rời rạc thu thập đuợc.
- Phân tích định lượng: Xác định xu hƣớng, diễn biến của tập hợp số liệu
thu thập đƣợc; sắp xếp, trình bày các số liệu để làm bộc lộ các mối liên hệ và
xu thế của sự việc, sự kiện.
- Nghiên cứu trường hợp: Sử dụng trong phân tích chi phí đào tạo thực
tế trong năm của một số trƣờng đại học.
- Nghiên cứu so sánh: Sử dụng trong so sánh về chi phí và hiệu quả giữa
hai hình thức đào tạo là ĐTTC và ĐTNC.
6. Những đóng góp của Luận án
6.1. Đóng góp khoa học:
- Trên cơ sở tổng quan và hệ thống hóa các nghiên cứu, Luận án đã làm
nổi bật thêm những ƣu điểm (điểm mạnh, lợi thế) cũng nhƣ những hạn chế
(nhƣợc điểm) của phƣơng thức ĐTTC so với ĐTNC (xét trên bình diện hiệu
quả kinh tế của hoạt động đào tạo); đồng thời cũng nêu lên đƣợc những khó
khăn, vƣớng mắc, bất cập mà các cơ sở đào tạo đại học và ngƣời học phải đối
m t trong quá trình chuyển đổi từ ĐTNC sang ĐTTC (xét trên bình diện đầu
tƣ cho hoạt động đào tạo).
- Cũng thông qua hệ thống hóa các công trình lý thuyết có liên quan, đ c
biệt là các công trình của các tác giả nƣớc ngoài, Luận án đã xây dựng và
trình bày một cách tƣờng minh những khái niệm: hiệu quả, hiệu suất, hiệu quả
kinh tế nói chung, hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, và
cuối cùng là HQKT của hoạt động đào tạo.
7
cho các chƣơng trình đào tạo, học phần/môn học; ho c áp dụng vào việc phân
tích và so sánh về hiệu quả kinh tế giữa các chƣơng trình/dự án trong lĩnh vực
giáo dục - đào tạo nh m chọn ra đƣợc phƣơng án tối ƣu nhất để triển khai
thực hiện.
- Một số giải pháp nh m nâng cao HQKT trong ĐTTC của Giáo dục đại
học ở Việt Nam do Luận án đề xuất khá hợp lý và có tính khả thi cao, có thể
đƣợc các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng của Việt Nam xem xét áp dụng vào
hoạt động thực tiễn nh m mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo.
7. Cấu trúc của Luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và
Phụ lục, Luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ.
Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong đào tạo
theo hệ thống tín chỉ.
Chƣơng 3: Thực trạng về chi phí và hiệu quả trong đào tạo theo niên chế
và trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Giáo dục đại học ở Việt Nam.
Chƣơng 4: Một số giải pháp nh m nâng cao hiệu quả kinh tế trong đào
tạo theo hệ thống tín chỉ của Giáo dục đại học ở Việt Nam.
9
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Để thực hiện đề tài, tác giả Luận án đã tích cực tìm kiếm các tài liệu
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập đến ĐTTC ở nhiều khía cạnh, cùng
luận nhƣ Lâm Quang Thiệp (2006), Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà
(2012) đƣa ra nhận định: Đào tạo theo tín chỉ có chi phí thấp hơn và hiệu quả
cao hơn so với đào tạo theo niên chế. Hai tác giả này diễn giải
Học chế tín chỉ cho phép sinh viên quyết định tiến độ đào tạo tùy khả
năng và điều kiện của bản thân. Vì vậy, sinh viên có thể học vƣợt tiến độ để
rút ngắn thời gian đào tạo. Thông thƣờng thời gian đào tạo là 4 năm thì sinh
viên có thể hoàn thành trong 3,5 năm ho c 3 năm. Việc rút ngắn thời gian đào
tạo của sinh viên không chỉ tiết kiệm thời gian và chi phí cho bản thân và gia
đình sinh viên mà còn tạo cho họ nhiều cơ hội về việc làm và tổ chức cuộc
sống. Đồng thời, nhà trường và xã hội cũng giảm bớt được nhiều chi phí đào
tạo và các chi phí khác nếu sinh viên rút ngắn thời gian đào tạo.[7,24]
Trong một bài viết có nhan đề Một số vấn đề về đào tạo theo hệ thống
tín chỉ, khi bàn về những ƣu thế của ĐTTC, Đào Ngọc Cảnh và Trịnh Duy
Oánh (2012) khẳng định: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có chi phí thấp và
hiệu quả cao hơn.[8,3]
Với thiện chí hỗ trợ giáo dục đại học ở các nƣớc đang phát triển chuyển
đổi sang ĐTTC, Ngân hàng Thế giới đã giới thiệu chuyên khảo “The
Academic Credit System in Higher Education: Effectiveness and Relevancy
in Developing Countries” (Đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại
học: Hiệu quả và phù hợp với các nƣớc đang phát triển) của Omporn Regel
(1992). Đây là một tài liệu quý, đã đƣợc Bộ GĐDT tổ chức dịch ra tiếng việt
vào năm 1994, và đƣợc giới nghiên cứu ở Việt Nam tham khảo, trích dẫn
khá nhiều. Có thể nói r ng, đây là một công trình nghiên cứu đƣợc trình bày
11
rất có hệ thống và đầy đủ nhất về mọi khía cạnh của ĐTTC. Omporn Regel
(1992) cho biết:
Những lợi thế chủ yếu mà ĐTTC có đƣợc là do nó phân chia khối lƣợng
môn học đều quan trọng nhƣ nhau.
f) ĐTTC tạo nên tính linh hoạt để sinh viên có thể xin đổi ngành học
giữa quá trình học tập. Thay vì yêu cầu sinh viên phải học lại, ĐTTC sẽ tính
toán số tín chỉ sinh viên đã tích lũy đƣợc để hƣớng tới văn b ng, và chỉ yêu
cầu bổ sung những tín chỉ còn thiếu.
g) ĐTTC tạo nên sự đa dạng trong lịch học, vì việc học tập có thể
đƣợc chia thành nhiều giai đoạn tƣơng ứng với số tín chỉ đƣợc ấn định. Đ c
điểm này của ĐTTC tạo điều kiện cho các hoạt động diễn ra suốt năm của
các cơ sở đào tạo, b ng cách cho phép học kỳ mùa h trở thành một phần
của chƣơng trình đào tạo. Đợt học này thƣờng kéo dài khoảng 8 tuần, và lợi
ích chủ yếu của nó là giúp sinh viên có thể thực tập ho c làm việc.
h) ĐTTC tạo ra một cơ chế cho phép sinh viên làm việc hƣớng tới văn
b ng với tiến độ của riêng mình, b ng cách học bán thời gian, xen kẽ thời
gian làm việc và học tập, dừng học hay thôi học khi thấy phù hợp. Do đó,
ĐTTC có thể tích hợp việc học tập lấy văn b ng với việc học tập lâu dài ho c
học lại.
i) Trong ĐTTC, việc bắt đầu các khóa học mới có xu hƣớng dễ dàng hơn
so với trong ĐTNC, do đó nó tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo nhanh
chóng cải tiến chƣơng trình đào tạo theo nhu cầu mới của thị trƣờng giáo dục,
có thể cân b ng nhu cầu của sinh viên, tránh đƣợc sự lãng phí nguồn lực, tức
là có thể phân bổ nguồn lực nhiều hơn cho các ngành đang có nhu cầu cao và
cắt giảm nguồn lực đối với các ngành có nhu cầu thấp. So với đào tạo truyền
thống, bản chất linh hoạt của ĐTTC cũng tạo điều kiện cho việc cải cách
chƣơng trình đào tạo.
j) ĐTTC cho phép sinh viên chuyển từ trƣờng này sang trƣờng khác, từ
ngành học này sang ngành học khác phù hợp với nguyện vọng của họ, tạo
13
điều kiện cho các cá nhân phát triển tối đa khả năng của mình. Các tín chỉ tạo
o) ĐTTC tạo ra mối liên kết hợp lý giữa thành tích học tập, lợi ích kinh
tế đƣợc tạo ra và chi phí cho việc vận hành cơ sở đào tạo. Hoạt động vận
hành, cả về khía cạnh quản lý và khía cạnh kinh tế, có thể đƣợc thể hiện b ng
giờ tín chỉ, ví dụ nhƣ: Trả học phí theo giờ tín chỉ đã chọn, trả lƣơng theo giờ
tín chỉ đã dạy, tính toán chi phí về cơ sở vật chất theo giờ tín chỉ đã sử dụng,
và xây dựng chƣơng trình đào tạo theo giờ tín chỉ bắt buộc.
p) ĐTTC cho phép các khoa kết hợp các nguồn lực để cùng nhau cung
cấp các khóa học, tránh đƣợc sự trùng l p. ĐTTC tối ƣu hóa việc sử dụng các
nguồn lực con ngƣời và cơ sở vật chất. Nó cũng giúp cho việc sử dụng các
giảng viên có hiệu quả cao hơn. Các giảng viên có thể đƣợc chỉ định dạy một
số lớp trong một học kỳ nên có thể dạy đƣợc nhiều sinh viên hơn.
q) Với việc mở rộng quy mô giáo dục đại học trong bối cảnh chi phí
ngày một tăng, việc sử dụng giờ tín chỉ đƣợc xem nhƣ là phƣơng tiện để giải
quyết một số vấn đề quản lý đang nổi cộm. Chính phủ có thể xây dựng những
công thức tài trợ cho các cơ sở đào tạo công lập dựa trên số giờ tín chỉ đƣợc
sinh viên thực hiện. Các trƣờng đại học cũng có thể thấy r ng, trong điều kiện
ngân sách hạn chế thì áp dụng ĐTTC là phù hợp hơn. Tính linh hoạt của
ĐTTC cho phép giảm bớt các khóa học đƣợc lựa chọn mà không có sự gián
đoạn lớn khi nguồn kinh phí ngày càng trở nên eo hẹp.[47, 5-14]
1.1.2. Những hạn chế (nhược điểm) của ĐTTC
Bên cạnh những ƣu điểm là chủ yếu, ĐTTC cũng không thể tránh khỏi
có những hạn chế, nhƣợc điểm.
Lâm Quang Thiệp (2006), và một số nhà nghiên cứu khác nữa cho r ng
ĐTTC có 2 nhƣợc điểm cơ bản là:
a) Cắt vụ kiến thức: Phần lớn các mô đun trong học chế tín chỉ đƣợc quy
định tƣơng đối nhỏ, cỡ 3 ho c 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày
kiến thức thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó
gây ra ấn tƣợng kiến thức bị cắt vụn.
15
- ĐTTC giúp mở rộng các cơ hội để đạt đƣợc văn b ng; nhu cầu có đƣợc
văn b ng ngày càng tăng nên các cơ sở đào tạo đại học, với tƣ cách là cơ quan
chứng nhận kiến thức và kỹ năng mà ngƣời học đã thu đƣợc, có thể nắm giữ
vai trò thống trị trong việc cung cấp văn b ng. Hơn nữa, tính linh hoạt của
ĐTTC cũng có thể hối thúc các cơ sở đào tạo đáp ứng quá mức nhu cầu của
sinh viên, phá vỡ sự cân b ng giữa việc cung cấp các khóa học đã đƣợc hoạch
định và các khóa học đang nổi lên theo thị hiếu.[47, 15-17]
Qua đây có thể thấy r ng, sau một thời gian dài nghiên cứu về ĐTTC,
các học giả Việt Nam vẫn chƣa có đƣợc một cách nhìn đầy đủ và thấu đáo về
những hạn chế (nhƣợc điểm) của ĐTTC.
1.2. Các nghiên cứu về khó khăn (vƣớng mắc, bất cập) khi chuyển đổi từ đào
tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và đề xuất, kiến nghị nhằm đảm bảo
chất lƣợng trong đào tạo theo tín chỉ
Việc chuyển đổi từ ĐTNC sang ĐTTC của Giáo dục đại học ở Việt Nam
đƣợc triển khai trong bối cảnh nguồn kinh phí cấp cho các trƣờng đại học
tƣơng đối hạn hẹp. Đây cũng là xu hƣớng chung của giáo dục đại học thế giới.
Tình trạng này khiến cho các nhà hoạt động thực tiễn (các nhà quản lý cơ sở
đào tạo đại học) băn khoăn, lo lắng về việc đảm bảo chất lƣợng trong ĐTTC.
Họ cho r ng, nếu các cơ sở đào tạo không đƣợc cấp kinh phí thỏa đáng
để tiến hành các hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy của giảng viên, phƣơng
pháp học của sinh viên, phƣơng pháp quản lý nhà trƣờng; biên soạn lại
chƣơng trình, giáo trình; bổ sung thêm tài liệu, vật liệu phục vụ việc dạy và
học; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị…
thì rất khó có thể thực sự phát huy đƣợc những ƣu điểm của ĐTTC và đảm
bảo đƣợc chất lƣợng trong ĐTTC. Từ đó, họ phân tích những khó khăn,
vƣớng mắc, bất cập; đồng thời nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nh m đảm bảo
chất lƣợng trong ĐTTC.
một cách đầy đủ, phong phú và đa dạng cho ngƣời học. Hiện nay, những khó
khăn về cơ sở vật chất, điều kiện phòng học (nhiều phòng học còn chật chội
18