Báo cáo thực tập thư viện tại Viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam - Pdf 37

B. LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới theo hướng Công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước và đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực đời
sống - xã hội. Trong đó, thành tựu quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển của nền kinh tế Việt Nam mà chúng ta phải nói đến là nền giáo dục. Trong
những năm gần đây việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ luôn được quan tâm
đặt lên hàng đầu, nhiều trường Đại học, Cao đẳng đã đào tạo chất lượng nguồn
nhân lực nhiều chất xám phục vụ tích cực vào sự phát triển của đất nước trên nhiều
lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, giáo dục, … Trường Đại học Nội Vụ - Hà Nội là một
trong những ngôi trường đào tạo ra đội ngũ cán bộ Thư viện. Trường trước đây còn
có tên gọi khác là Trường Trung học Lưu trữ và Nghiệp vụ Văn phòng I, đây là
ngôi trường đào tạo ra đội ngũ cán bộ Thư viện có kinh nghiệm lớn nhất cả nước.
Việc đào tạo “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn” được lãnh đạo nhà trường và các
Khoa đặc biệt quan tâm với phương châm đào tạo “Học đi đôi với hành”. Hàng
năm qua, Khoa Văn hóa - Thông tin và xã hội của Trường luôn cử sinh viên đi
thực tập về chuyên ngành Thư viện nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức
thực tiễn vững vàng, phục vụ tốt cho công việc sau khi ra trường.
Với sự nhận thức đúng đắn về vai trò cũng như tầm quan trọng của đợt thực
tập tốt nghiệp đồng thời với sự hỗ trợ của Khoa Văn hóa – Thông tin và xã hội của
Trường Đại học Nội Vụ - Hà Nội, em đã thực tập tại Viện Hàn Lâm khoa học xã
hội, tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á từ ngày 2/3 đến hết ngày 24/4/2015 với
chuyên ngành chính là Thư viện. Trong thời gian thực tập tại Viện Nghiên cứu
Đông Nam Á, dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của các chị nhất là chị Hạnh
và chị Nga , em đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm và được trải nghiệm thực tế
trong chuyên ngành Thư viện mà em đang theo học.
Qua gần 8 tuần thực tập tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á, em đã thu được
nhiều kiến thức và những kinh nghiệm vô cùng quý báu từ thực tiễn công việc và


từ những cán bộ Thư viện. Những kiến thức và kinh nghiệm này rất cần thiết cho
nghề nghiệp của em trong tương lai.

2.2.4 Đối tượng phục vụ.
2.2.5 Các dịch vụ vủa thư viện
3. Vốn tài liệu.
3.1 Cơ sở dữ liệu.
3.1.1 Sách.
3.1.2 Báo tạp chí
3.1.3 Tư liệu
3.1.4 Tài liệu tra cứu
3.2 Các nguồn lực thông tin
3.2.1 Nguồn lực thông tin văn bản
3.2.2 Nguồn thồn tin điện tử
3.2.3 Nguồn lực thông tin khai thác trên mạng Internet
4. Hoạt động trao đổi thông tin của Thư viện
4.1 Nguồn tài liệu trao đổi
4.2 Nguồn nhận tặng


5. Ứng dụng công nghệ thông tin
B. QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
1. Quá trình thực tập tại viện nghiên cứu Đông Nam Á
1.1 Đăng ký tài liệu
1.2 Xử lý tài liệu
1.3 Nhập tin vào cơ sở dữ liệu CDS-ISIS for Windown.
1.4 Dãn nhãn và xếp giá
1.5 Hồi cố tài liệu
1.6 Phục vụ bạn đọc
1.7 Bảo quản tài liệu
1.8 Khai thác tìm tin trên mạng Internet
2. Tổ chức kho sách
3. Nhật ký công việc trong 08 tuần đi thực tập

Việt Nam. Theo Nghị định số 109/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2012 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, từ ngày 22 tháng 02 năm 2013, Viện chính
thức mang tên là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam là nơi tập trung các nhà khoa học xã hội đầu ngành, với
trên 2000 người, trong đó hơn 700 cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học
vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, làm việc
trong 05 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện, 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 5 đơn vị
sự nghiệp khác (trong đó có 1 cơ sở đào tạo sau đại học và 2 nhà xuất bản).
Cùng với nhiều viện nghiên cứu thành viên có trụ sở chính tại Hà Nội, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam có Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ đặt
tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đặt tại thành phố Hồ
Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đặt tại thành phố Buôn Ma



Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở thống nhất 17 cơ sở đào tạo trước


đâythuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành. Học viện Khoa học xã hội là cơ sở
đào tạo sau đại học về các ngành khoa học xã hội với 58 chuyên ngành đào tạo,


trong đó có 44 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ và 14 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có 32 tạp chí khoa học được xuất bản
bởi các viện nghiên cứu thành viên. Thư viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam là thư viện tổng hợp và đa ngành với nguồn tài

với khu vực.
- Tìm hiểu phát triển tổng kết và giới thiệu lịch sử văn hóa Đông Nam Á theo
quan điểm tổng thể với phương pháp tiếp cận tổng hợp liên ngành, đa ngành nhằm
làm sáng tỏ các giá trị văn hóa và mối quan hệ giữa các nước Đông Nam Á, góp phần
nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau của nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực
để xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
- Tiến hành trao đổi hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học về
Đông Nam Á trước hết với các nước trong khu vực và các trung tâm nghiên cứu trên
thế giới.
- Tổ chức đào tạo cán bộ nghiên cứu về Đông Nam á có trình độ đại học, trên đại
học và tham gia giảng dạy tại các trường Đại học về môn khoa học này.
- Xây dựng hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện và cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết
cho công tác nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài.
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ trên Viện nghiên cứu Đông Nam Á có tổ
chức các phòng ban cơ bản như sau:
• Phòng nghiên cứu văn hóa Đông Nam Á
• Phòng nghiên cứu những vấn đề dân tộc, tôn giáo, môi trường Đông Nam Á.
• Phòng nghiên cứu chính trị và quan hệ quốc tế Đông Nam Á hiện đại
• Phòng nghiên cứu hợp tác và phát triển kinh tế Đông Nam Á
• Phòng nghiên cứu Lào
• Phòng nghiên cứu Campuchia
• Phòng nghiên cứu Thái lan Myanma


• Phòng nghiên cứu Inđônêxia, Mailaixia, Brunây
• Phòng nghiên cứu Philippin, Xingapo
• Phòng nghiên cứu Ấn Độ
• Phòng nghiên cứu Autralia
• Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
• Phòng Thư viện-Tư liệu-Thông tin

Phòng có 3 cán bộ tốt nghiệp sau Đại học tại trường Đại học Văn hóa Hà
Nội, đội ngũ cán bộ trong phòng đã đảm nhiệm toàn bộ các khâu hoạt động thong
tin-thư viện, từ việc bổ sung, thu thập tài liệu đến xử lý thông tin, phục vụ người
dùng tin, các công việc này đều được phân công cụ thể, phù hợp với năng lực của
từng cán bộ.
2.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị của thư viện
Là một thư viện phục vụ cho ngành Đông Nam Á học Việt Nam cả về
nghiên cứu và giảng dạy, Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á đã được đầu tư
cơ sở vật chất và các trang thiết bị hiện đại, theo kịp sự phát triển về kinh tế, xã
hội và chủ trương hội nhập của Viện nghiên cứu Đông Nam Á
Thư viện được bố trí làm 2 phòng (khoảng 140 mét vuông) tại tầng 8 trong
đó có 1 phòng dùng làm Kho và Phòng đọc, 1 phòng gồm bộ phận trao đổi và xử
lý nghiệp vụ. Các phòng đều được trang bị hệ thống chiếu sáng, máy hút ẩm, máy
điều hòa, quạt thông gió, quạt điện.
Các phương tiện làm việc gồm 9 máy vi tính, trong đó 5 máy tính được nối
mạng, 4 máy phục vụ cho việc dịch và xử lý tài liệu, , 2 máy in laser, 1 máy
scanner, 4 đầu ghi CD, 1 máy photocopy, bàn ghế tiện nghi, tủ đựng, hệ thống giá
kệ… và các hệ thống phần mềm chuyên dụng phục vụ cho việc phổ biến thông tin
và người dùng tin. Nhìn chung, trang thiết bị của thư viện tương đối hiện đại đáp


ứng tương đối tốt nhu cầu tin của bạn đọc (bởi vì kinh phí cho thư viện còn hạn
chế thường số kinh phí đó được dùng để bổ sung các tài liệu vào kho sách) nên
việc đầu tư cho trang thiết bị còn hạn hẹp.
Bên cạnh đó, thư viện cũng gặp không ít những khó khan về diện tích
phòng còn hẹp vì kho và phòng đọc chung, gây ảnh hưởng đến tâm lý người dùng
tin, thiếu yên tĩnh, qua đó làm giảm nhu cầu tra cứu và đọc tại chỗ của họ. Phòng
xử lý nghiệp vụ không đủ chỗ chứa các máy móc, tài liệu và chỗ ngồi cho cán bộ
dẫn đến giảm năng suất lao động, và chất lượng công việc của cán bộ thư viện vì
vậy mà các cán bộ mang tài liệu về nhà làm…

hình thế giới đến các nước trong khu vực.
+ Nhóm cán bộ quản lý
Đặc điểm của người dùng tin này là vừa đảm nhiệm chức năng lãnh đạo, quản lý
ở Viện, vừa trực tiếp tham gia hoặc làm chủ nhiệm các đề tài, dự án, công trình
nghiên cứu. Nhóm này chiếm một tỷ lệ không lớn song có vai trò hết sức quan
trọng vì họ là những người tổ chức thực hiện các kế hoạch nghiên cứu của cơ
quan, góp phần đưa ra những kiến nghị, những cứ liệu khoa học nhằm góp phần
hoạch định các chính sách giải quyết các vấn đề của Việt Nam liên quan đến khu
vực và quốc tế. Đặc điểm nhu cầu tin của nhóm này là
- Thông tin về hệ thống các văn bản pháp luật, chỉ thị, nghị quyết, chủ chương


chính sách của Đảng và Nhà nước về qủn lý khoa học (đặc biệt là quản lý cơ quan
nghiên cứu liên ngành và đa ngành) và chính sách đối với khu vực
-Thông tin về chiến lược phát triển kinh tế xã hội, xu hướng phát triển nội tại của
khu vực, sự phát triển của khu vực trong mối quan hệ với bên ngoài
- Thông tin ngành, có tính dự báo các vấn đề “nóng” của khu vực
Việc tổ chức và khai thác vốn tài liệu phục vụ các cán bộ lãnh đạo, quản lý
là việc làm hết sức quan trọng, yêu cầu đáp ứng thông tin phải đầy đủ, toàn diện
giúp làm tăng hàm lượng khoa học trong các quyết định làm cơ sở để xác định
chiến lược phát triển của Viện được tốt hơn. Ngoài ra còn có nghiên cứu sinh, học
viên Cao học trong cũng như ngoài nước của các trường Đại học, Cao đẳng có nhu
cầu đọc tài liệu nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á. Tất cả những đối tượng này
đều được phục vụ tại chỗ, hoặc có thể photo tài liệu khi bạn đọc yêu cầu, thư viện
còn phục vụ cho mượn sách về nhà đối với các cán bộ nghiên cứu của Viện và các
cơ quan khác
+ Nhóm các sinh viên
Phòng thư viện còn tổ chức phục vụ tất cả các sinh viên (chủ yếu là năm thứ
4) của các trường đại học làm các bài báo cáo, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp...
Nhu cầu tin của họ thường ít chuyên sâu hơn hai nhóm trên nhưng họ có đời sống


Thạc sỹ

27

20,3

Nghiên cứu sinh

13

9,8

Tiến sỹ

31

23,3

Qua bảng trên ta thấy người dùng tin ở thư viện Viện nghiên cứu Đông
Nam Á có trình độ học vấn khá cao điều này giúp cho người dùng tin tại viện
nghiên cứu này tự tin tham gia vào nhiều công trình nghiên cứu như các công trình
cấp Viện, cấp Bộ, cấp Nhà nước. Bởi vậy mà, nhu cầu và khả năng sử dụng các tài
liệu mang tính chất nghiên cứu sâu như các chuyên khảo, chuyên luận, tổng thuật,
tổng luận – những tài liệu có giá trị tăng cao. Trong vốn tài liệu của thư viện có
một khối lượng không nhỏ loại tài liệu phổ thông – được bổ sung theo nhiệm vụ
chính trị và đối ngoại một thời.
2.2.5 Các dịch vụ thông tin của thư viện gồm có:
- Mượn về nhà được người dùng tin ưa thích nhất (thường là những cán bộ trong
Viện), giúp tiết kiêm thời gian, mang lại hiệu quả cao vì họ có thể tranh thủ đọc tài

máy tra cứu nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc, là một trong những thư viện đi
đầu trong quá trình tin học hóa hoạt động Thông tin- Thư viện của Viện Khoa học
xã hội Việt Nam. Nguồn lực thông tin của Thư viện ngày càng đa dạng và phong


phú, ngoài các nguồn tài liệu văn bản truyền thống, ngày nay nguồn thông tin đã
được bổ sung thêm các dạng thức điện tử. Nhận thức được vai trò của nguồn lực
thông tin điện tử, Thư viện đã tích cực triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL)
từ năm 1995. Thư viện đã xây dựng được 4 CSDL là:
CSDL sách (gồm sách Tiếng Việt, sách tiếng La tinh, sách Tiếng Anh, sách tiếng
bản địa...)
- CSDL tạp chí.
- CSDL tư liệu.
- CSDL sách tiếng Nga.
- Các CSDL này đã và đang phục vụ bạn đọc có hiệu quả.
Vốn tài liệu của Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á được chia làm 3 nhóm
chính:
- Nguồn thông tin văn bản (sách, báo, tạp chí, tư liệu)
- Nguồn thông tin điện tử (băng từ, CD-ROM, CSDL)
- Nguồn thông tin trên Internet.

3.1 Cơ sở dữ liệu
3.1.1 Sách:
Số lượng sách trong Thư viện hiện nay khoảng hơn 28.000 cuốn gồm nhiều
ngôn ngữ khác nhau như sách tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng các nước
trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan (khoảng 400 cuốn), Lào, Campuchia…
phục vụ khá tốt cho việc nghiên cứu, giảng dạy, và học tập của bạn đọc. Trong
bảng thống kê nội dung tài liệu có thể nhận thấy tài liệu về các chủ đề chính trị,



cung cấp những thông tin và kết quả nghiên cứu mới nhất về chuyên ngành này.
Ngoài ra, thư viện còn có các loại tạp chí khác liên quan đến nghiên cứu
Đông Nam á như Tạp chí Đông Nam á (tạp chí do Hội khoa học Đông Nam á Việt Nam xuất bản), Tạp chí Việt Nam - Đông Nam á Ngày nay và rất nhiều Tạp
chí khác như Tạp chí Dân tộc học, Khảo cổ học, Xã hội học, Nghiên cứu Kinh tế,
Nghiên cứu Quốc tế, Cộng sản
Nguồn tạp chí tiếng Anh, tiếng Pháp của Thư viện cũng rất phong phú. Do
Thư viện có quan hệ trao đổi tốt, thư viện đã sưu tập được trọn bộ Tạp chí Asian
Survey (xuất bản phẩm của trường Đại học Berkeley) từ năm 1960. Tạp chí này có
rất nhiều bài nghiên cứu sâu về Đông Nam á và được nhiều nhà khoa học quan
tâm. Thư viện cũng đã tiến hành xử lý và đưa vào CSDL tất cả các bài về Đông
Nam á và đã đưa ra phục vụ bạn đọc.
Rất nhiều tạp chí hay, có giá trị về Đông Nam Á cũng được thư viện bổ
sung và cập nhật từ năm 1995 trở lại đây như:
- ASEAN Briefing
- ASEAN Economic Bulletin
- Asia & Pacific Review
- Asia Today
- Asian American Policy Review
- Asian Economic Review
- Asian Folklore Studies
- Asian Monitor - Southeast Asia
- Asian Perspectives
- Far Eastern Economic Review
- Foreign Affairs
- Journal of Southeast Asian Studies


- Southeast Asian Journal
- Southeast Asian Research
- Southeast Asian Affairs


-

Tài liệu học tập nghị quyết của Đảng

-

Công báo: Đăng các văn kiện của nhà nước từ Quốc hội đến hội đồng nhân
dân và các Bộ ban nghành từ Trung ương đến các Địa phương.
Các tài liệu mang tính chất chỉ đạo là tài liệu vô cùng quan trọng vì vậy thư

viện rất chú trọng, bảo quản, lưu giữ và đưa ra phục vụ ngày càng rộng rãi góp
phần phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
• Bách khoa toàn thư:
Cùng với chức năng là công cụ để tra cứu tổng hợp được bổ sung một cách chi
tiết. Hai bộ bách khoa thư mà được độc giả sử dụng nhiều là Bách khoa tri thức phổ
thông và Almanach các nền văn minh thế giới.
• Từ điển:
Từ điển thuật ngữ về các nước trong khu vực Đông Nam Á bao gồm cả từ điển
đơn ngữ và từ điển đa ngữ…
Trong thư viện có từ điển của các nước như: Từ điển Việt – Anh, Từ điển Việt – Lào,
Từ điển Việt – Pháp, Từ điển Việt – Campuchia, Từ điển Trung-Việt, Từ điển Việt
-Nhật, Từ điển Khơme-Việt….
Ngoài ra, trong thư viện còn có các loại từ điển về môn ngành tri thức như: Từ
điển kinh tế thị trường xã hội, từ điển kinh tế ngoại thương và hang hải, Từ điển văn
học, từ điển tiếng Việt….
Các loại từ điển này là cơ sở tra cứu đáng tin cậy của bạn đọc vì có nội dung tổng
hợp, giải thích ngắn ngọn những từ ngữ, khái niện chuyên ngành về nghiên cứu Đông
- Tài liệu công bố là những tài liệu có bán rộng rãi trên thị trường, ai cũng có thể
mua được ở các hiệu sách hoặc ở các cơ quan xuất bản.



cuộc sống, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa lễ hội… của các dân tộc Việt
Nam và Đông Nam Á.
Ngoài ra, các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học, hội thảo
Quốc tế quan trọng do Viện tổ chức cũng được lưu giữ thông qua các bức ảnh tư
liệu, các băng hình và đĩa CD-ROM.
Trong kho thư viện còn lưu giữ được khoảng hơn 100 băng học ngoại ngữ
của các nước như: Anh, Malaysia, Thái Lan, Lào…
Đây đều là những tài liệu quan trọng quý hiếm nên chỉ phục vụ các cán bộ
trong viện nhằm mục đích nghiên cứu chứ không phục bạn đọc ngoài viện.
3.2.2 Nguồn lực thông tin khai thác trên mạng Internet
Người dùng tin ở nhóm quản lý, nhóm nghiên cứu và giảng dạy là những
cán bộ của Viện được khai thác Internet miễn phí tại thư viện. Điều này cũng thu
hút được nhiều người dùng tin ở các viện khác tới tìm kiếm thông tin tại viện.
Các Website thường xuyên được truy cập là:

- bao gồm các thông tin về mọi lĩnh vực kiên quan đến
khu vực Đông Nam Á.

- giới thiệu các thông tin về cơ cấu, tổ chức hoạt động
khoa học, các chuyên nghành đào tạo của Trường Đại học Quốc gia Singapore.

- trang web của Viện nghiên cứu Đông Nam Á của
Singapore.

- trang web của Viện nghiên cứu Chiến lược Singapore.
- trang web của Viện Kinh tế Campuchia.



Thammasat, Mahasarakham (Thái Lan), Trường Đại học Malaya (Malaysia), Đại
học Quốc gia Philippines....
Trong điều kiện kinh phí của thư viện còn hạn hẹp, thư viện không thực
hiện được đều đặn việc thỏa thuận trao đổi tài liệu 1 đổi 1 với một số thư viện
nhưng các thư viện của Mỹ vẫn thường xuyên gửi tài liệu cho thư viện Viện
nghiên cứu Đông Nam á bởi vì họ có quỹ trao đổi hàng năm, họ coi thư viện Viện
nghiên cứu Đông Nam á là thư viện đầu ngành về Đông Nam á của Việt Nam, các
tài liệu của họ đã chuyển thành vi phim nên họ gửi bản giấy (sách) cho thư viện.
Các thư viện trên đều là bộ phận của những trung tâm lớn nghiên cứu về Đông
Nam á của Mỹ nên họ có rất nhiều tài liệu quan trọng về Đông Nam á. Nguồn tài
liệu mà Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam á nhận được (thông qua hình thức
trao đổi) chiếm 1/2 số sách và tạp chí tiếng nước ngoài có trong thư viện.
Thông qua quan hệ trao đổi này, trường Đại học Cornell đã gửi cho Thư
viện toàn bộ tạp chí Asian Survey từ năm 1960 đến năm 1999, từ năm 2000 đến
nay do Thư viện Đại học Berkeley gửi. Đặc biệt là trong chương trình tài trợ năm
1996, Viện nghiên cứu Đông Nam á Singapore (được quỹ Ford hỗ trợ kinh phí) đã
gửi 200 cuốn sách do ISEAS Singapore xuất bản từ năm 1968 đến năm 1996 cùng
với toàn bộ tạp chí Economic Bulletin và Contemporary of Southeast Asian.
Đây là chương trình thành công nhất của Viện nghiên cứu Đông Nam á
cũng như Phòng Thông tin - Tư liệu- Thư viện vì thông qua mối quan hệ với Thư
viện Quốc hội Mỹ đã thiết lập được mối quan hệ với các trung tâm Nghiên cứu về
Đông Nam á của Mỹ, Nhật Bản và Australia...Thư viện cũng trở thành cơ quan
cung cấp toàn bộ ấn phẩm về Việt Nam (sách, báo, tạp chí) cho các thư viện trên.
Ngoài ra, năm 1994 Thư viện Quốc hội Mỹ còn trang bị cho Phòng Thông tin - Tư
liệu- Thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam á 1 máy photocopy, 2 máy điều hòa
nhiệt độ, 2 máy vi tính (mở đầu thời kỳ tin học hóa hoạt động của thư viện). Do
đó, nguồn lực thông tin của thư viện đã có một bước phát triển vượt bậc cả về số
lượng và chất lượng. Thời kỳ này, mỗi năm thư viện nhận được từ 300-400 tài liệu
tiếng nước ngoài, những tài liệu có giá trị được nhập vào kho còn những tài liệu



Số lượng tài liệu thư viện nhận được thông qua nguồn nhận tặng tuy không
có nhiều và thường xuyên nhưng tất cả đều được xử lý về mặt nội dung và đưa vào
phục vụ người dùng tin.
5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện ngày càng được quan
tâm và được ứng dụng vào quá trình xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin tư liệu.
Cho đến nay, phòng thư viện đã xây dựng được các CSDL trên máy tính như:
CSDL sách, CSDL sách tiếng Nga, CSDL tạp chí, CSDL tư liệu và không ngừng
tang lên về số lượng.
Bảng các CSDL đã được xây dựng tại viện nghiên cứu Đông Nam Á:
Tên CSDL

Số biểu ghi

CSDL sách
CSDL sách tiếng Nga
CSDL Tạp chí
CSDL Tư liệu
Tổng số

11.600
1.570
8.400
8.700
30.270

Các CSDL này đều được xây dựng trên phần mềm CDS-ISIS for Window
với các quy định thống nhất về fomat, biểu mẫu, nhãn trường, và thường xuyên
được cập nhật và bổ sung, hiệu đính và sửa chữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status