báo cáo thực tập tốt nghiệp tại phòng lao động thương binh xã hội huyện an lão thành phố hải phòng - Pdf 13

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN 1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
1.Tên cơ sở thực tập
Phòng Lao Động thương binh xã hội huyện An Lão.
Địa chỉ: Tại trụ sở UBND huyện An Lão số 17 đường Nguyễn Văn Trỗi
Thị Trấn An Lão. Điện thoại số: 0313.911.134;
2. Cơ cấu tổ chức của cơ sở thực tập
Các bộ phận của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện An Lão
gồm 5 bộ phận:
PHÒNG LĐTB&XH HUYỆN AN LÃO
BP
NGƯỜI CÓ CÔNG
BP BẢO TRỢ XÃ HỘI, GIẢM NGHÈO
BP LAO ĐỘNG -VIỆC LÀM
BP BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
BP PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI
Sơ đồ các bộ phận
Cơ cấu tổ chức và biên chế
Tổng biên chế của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện có 9
biên chế và 2 hợp đồng có thời hạn.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học11/11 đ/c
Trình độ lý luận chính trị: Trung cấp chính trị 7/11 đ/c.
Trong đó: Lãnh đạo phòng:
- Bùi Văn Lạc: Trưởng phòng: Chỉ đạo chung.
- Nguyễn Thị Kim Loan: Phó trưởng phòng: Phụ trách bộ phận Bảo trợ
xã hội, giảm nghèo.
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 1
Bỏo cỏo thc tp tt nghip
- Nguyn Th Th: Phú trng phũng: Ph trỏch b phn: Bo v chm
súc tr em v bỡnh ng gii.
Cụng chc, lao ng hp ng (06 biờn ch +02 hp ng)

Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
3.2 Nhiệm vụ:
Dưới đây là nhiệm vụ cụ thể của từng ban trong phòng LĐ&TB xã
hội huyện.
3.2.1. Về lĩnh vực người có công.
* Các nhiệm vụ:
a) Hướng dẫn, thực hiện chính sách, pháp luật về ưu đãi đối với người có
công với cách mạng; chế độ chính sách người có công;
- Công tác chi trả trợ cấp ưu đãi
- Thăm hỏi tặng quà lễ tết
- Phúng viếng các Liệt sĩ
- Ưu đãi học sinh, sinh viên
- Bảo hiểm người có công
- Công tác khen thưởng kháng chiến
- Chế độ đối với người có huân huy chương
b) Phối hợp với các ngành, địa phương, các đoàn thể chính trị - xã hội tổ
chức các phong trào đền ơn đáp nghĩa, quản lý Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”
c) Quy định việc quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ;
e) Hướng dẫn công tác tiếp nhận, quy tập hài cốt liệt sĩ; thông tin về mộ
liệt sĩ theo thẩm quyền.
3.2.2. Lĩnh vực Bảo trợ xã hội, giảm nghèo.
* Các nhiệm vụ:
a) Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về giảm nghèo và trợ
giúp xã hội;
b) Tổ chức thực hện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và các
chương trình trợ giúp xã hội theo thẩm quyền;
c) Làm các thủ tục nhận đối tượng vào các cơ sở bảo trợ xã hội và từ cơ sở
bảo trợ xã hội về gia đình.
- Làm các thủ tục tiếp nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vào các cơ sở trợ

chính sách phát triển thị trường lao động, chỉ tiêu tạo việc làm mới và khuyến
khích tạo việc làm mới.
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
b) Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm theo thẩm quyền; Quản lý
sử dụng quỹ Quốc gia giải quyết việc làm.
c) Thực hiện các dự án dạy nghề theo chương trình phổ cập nghề, đào tạo
nghề cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do Sở Lao động thương binh và xã
hội phân bổ.
d) Hướng dẫn thực hiện về hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể,
kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp
lao động và đình công;
đ) Hướng dẫn thực hiện tiền lương tối thiểu, chế độ tiền lương, tiền công
đối với người lao động và viên chức lãnh đạo quản lý trong doanh nghiệp nhà
nước; chế độ tiền lương, tiền công trong doanh nghiệp hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động theo quy định của Bộ
luật Lao động;
e) Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn lao động,
điều kiện lao động; bồi thường tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ
làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động;
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN 2. NỘI DUNG BÁO CÁO THỰC TẬP
TÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CÔNG TÁC BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG
1. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” thông điệp yêu thương mà mỗi
chúng ta chắc hẳn đã từng được nghe, đó là lời bài hát và cũng là lời khẳng định

trang lứa, thường là các em không được đến trường, không được tham gia vào
các hoạt động văn hóa văn nghệ , thể dục thể thao,… ít có cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ hỗ trợ, khó khăn thiếu thốn rất nhiều.
Về luật pháp: Quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử và quyền được
đối xử nhân đạo (Đã được ghi cụ thể trong Một số điều của công ước Quốc tế về
quyền trẻ em, Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em và các văn bản dưới luật)
Về phát triển: Chăm sóc phục hồi, hòa nhập, động viên tinh thần, tạo điều
kiện phát triển có ích cho bản thân và toàn xã hội.
Nếu công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
không được trú trọng thì sẽ có rất nhiều những mảnh đời non nớt bị mất đi cơ
hội phát triển, gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của các em, tác động xấu
đến sự phát triển bền vững của đất nước, xã hội không ổn định và hàng nghìn hệ
lụy khác kéo theo đó. Nhận thấy tầm ý nghĩa to lớn của công tác chăm sóc thế
hệ trẻ mà nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tôi xin nghiên
cứu sâu về đề tài: “Công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn tại huyện An Lão thành phố Hải Phòng”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của trẻ em có HCĐBKK trên
địa bàn huyện. Đưa ra các giải pháp can thiệp, phương hướng giải quyết vấn đề
dưới góc độ kiến thức ngành Công tác xã hội của NV CTXH nhằm giúp trẻ em
có HCĐBKK giải quyết vấn đề một cách triệt để của mình, hướng đến một cuộc
sống tốt đẹp hơn .
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Thông qua nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà lãnh đạo tại cơ sở thấy
được nhu cầu cần thiết của các em, những thiếu hụt về vật chất tinh thần để từ
đó có các hỗ trợ và giúp đỡ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất.
- Đề tài nghiên cứu góp phần vào việc xây dựng đất nước và toàn xã hội
làm cho mọi người thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công
tác BVCSTE nhất là trẻ em có HCĐBKK.

thiết về đối tương nghiên cứu. Phân tích để thấy rõ hơn thông tin về trẻ em có
HCĐBKK tại huyện An Lão cũng như công tác BVCS nhóm trẻ này.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật quan sát
hiện tượng một trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu, đặt giả
thuyết kiểm chứng giả thuyết, đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ
thể có tính khoa học cao. Đây là phương pháp hỗ trợ nhằm thu thập thông tin về
thực trạng công tác BVCS trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại huyện An
Lão.
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Người điều tra có buổi phỏng vấn, nói chuyện thu thập thông tin, lấy ý
kiến từ chính đối tượng nghiên cứu, qua đó có ghi chép lại được những phản
ánh, tâm tư nguyện vọng; từ đó có thông tin thực tế là tài liệu quan trọng và tạo
sự tin cậy hơn cho đề tài nghiên cứu.
5.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi đã có được thông tin tài liệu, người điều tra sử dụng các khiến
thức toán học tính toán so sánh tổng hợp số liệu một cách chính xác nhất.
5.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Người điều tra đã lấy ý kiến từ các bác, các cô trưởng phó phòng Lao
động thương binh xã hội huyện An Lão, cán bộ chính sách xã, Đây là những
lãnh đạo làm việc nhiều năm ở phòng, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Thơ phó
trưởng phòng phụ trách mảng trẻ em, là người có kiến thức chuyên môn và thực
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tế vững vàng về công tác BVCSTE. Qua đó, lấy ý kiến thực tế tham khảo phục
vụ tốt cho công tác nghiên cứu đề tài.
6. Cấu trúc đề tài
Đề tài “Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
tại huyện An Lão thành phố Hải Phòng” bao gồm 2 chương:

- Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội.
- Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là khoa học và nghệ thuật.
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.1. Đường lối của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, bảo vệ trẻ em qua các
thời kỳ.
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với trẻ em còn được thể hiện
qua các thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử đất nước sao cho phù hợp với sự phát
triển của xã hội:
- Giai đoạn từ 1945 - 1960: Chăm lo sức khỏe, học tập, giáo dục đạo đức
cách mạng (yêu nước, yêu đồng bào, yêu lao động, yêu Bác Hồ) chăm lo sách
báo cho thiếu nhi, chăm lo cho trẻ em bị lưu lạc vì chiến tranh.
- Giai đoạn từ 1961 - 1979: Chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ em:
+ Giáo dục cho các em phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân.
+ Quan tâm việc học tập của các em.
+ Chú trọng bồi dưỡng sức khỏe cho các em.
+ Quan tâm việc tổ chức vui chơi cho các em.
+ Rèn luyện theo 5 điều Bác Hồ dạy.
- Giai đoạn từ 1980 - 1989: Đòi hỏi gia đình, xã hội có nhiệm vụ bảo vệ,
chăm sóc trẻ em theo pháp quyền và bổn phận của trẻ em , đó là:
+ Quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng.
+ Quyền được bảo vệ , chăm sóc sức khỏe, khám và chữa bệnh.
+ Quyền và nghĩa vụ học hết Phổ thông trung học cơ sở.
+ Quyền được vui chơi giải trí lành mạnh .
+ Con thương binh, liệt sĩ, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được xã
hội quan tâm chăm sóc.
+ Trẻ em ở mọi lứa tuổi đều được tôn trọng nhân phẩm, nghiêm cấm
ngược đãi , hành hạ xâm phạm nhân phẩm trẻ em.
+ Trẻ em có bổn phận đối với gia đình, nhà trường và xã hội.
- Từ năm 1990 đến nay: Chăm sóc bảo vệ được thực hiện toàn diện, hài

- Theo Nghị định 28/CP ngày 29/04/1995 của Chính phủ hướng dẫn thi
hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ, gia
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đình liệt sĩ, thương binh, người có công giúp đỡ cách mạng, trẻ em mồ côi là con
liệt sĩ, được hưởng trợ cấp 72.000/ tháng, 240.000 (cả cha mẹ).
- Theo Nghị định 12/CP ngày 27/08/1994 ban hành điều lệ bảo hiểm, trẻ
em dưới 18 tuổi là con những người đóng bảo hiểm xã hội bị chết được hưởng
trợ cấp hằng tháng bằng 40% mức lương tối thiểu 84.000 trường hợp mất cả bố
lẫn mẹ, không có nguồn nuôi dưỡng thì được hưởng 70% mức lương tối thiểu
(147.000).
Đi đôi với việc thực thi các Quyết định, Nghị định, Đảng ta luôn có những
dự án, chương trình công tác chăm sóc nuôi dưỡng, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn trở về với cộng đồng Đảng và Nhà nước ta không ngừng đưa
ra và hoàn thiện bộ luật liên quan về thực hiện quyền trẻ em.
Đường lối của Đảng và Nhà nước ta về chăm sóc, bảo vệ trẻ em còn được
thể hiện trong hiến pháp và pháp luật về chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Hiến pháp xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền của công dân Việt
Nam, các quyền con người, trong đó có quyền trẻ em. Quyền trẻ em trong Hiến
pháp 1992 đã trở thành một chế định pháp lý hoàn chỉnh đồng bộ, chặt chẽ, đặt
trong khuôn khổ, mối quan hệ trực tiếp với chế định lập hiến của các hiến pháp
trước đây, trên cơ sở cam kết của Nhà nước thực hện Công ước Lên Hợp Quốc
về quyền trẻ em và phù hợp với tình hình thực tế của Việt nam trong giai đoạn
mới.
1.1.2. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước Việt nam.
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em lần thứ 2 được Quốc hội khóa
XI kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/05/2004 gồn 5 chương, 60 điều quy định các
quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan nhà
nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các
quyền cơ bản của trẻ em được công nhận trong công ước liên hiệp quốc về

ở Pháp, con trẻ Pháp đều được Người quan tâm với tình cảm sẵn có, khát
khao hoà bình. Sự ân cần ấy trở thành ứng xử tất yếu của Hồ Chí Minh trong
mọi tình huống. Ở Hồ Chí Minh, chính trị trước hết là nhân văn, nhân văn
trước hết là yêu thương con trẻ.
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,
Hồ Chí Minh dành cho trẻ thơ tình cảm và sự quan tâm đặc biệt. Các cháu
tham gia đánh giặc cũng như các cháu tham gia lao động, sản xuất, làm công
tác hậu phương giỏi đều nhận được thư khen ngợi, thăm hỏi kịp thời của
Người. Mỗi dịp khai trường, mỗi độ trung thu, ngày quốc tế thiếu nhi 1-6, Hồ
Chí Minh đều hoà chung niềm vui với trẻ em, động viên ông bà, cha mẹ, thầy
cô giáo, các anh chị phụ trách và toàn xã hội dành cho lớp măng non của đất
nước nguồn tình cảm và vật chất thiết thực nhất. Hàng trăm bức thư, bài báo,
bài thơ tự tay Bác viết, tặng cho các cháu.
Hồ Chí Minh luôn xem trẻ em là vốn quý, là trung tâm của mọi sự phát
triển kinh tế - xã hội. Người luôn quan tâm đến công tác chăm sóc, bảo vệ và
giáo dục các thế hệ con người đặc biệt là trẻ em “ Con người là cái vốn quý nhất
mà thiếu niên nhi đồng lại là vốn quý nhất trong cái vốn quý đó” (Hồ Chí Minh
Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, xuất bản lần 2, HN 1996). Người luôn coi
trọng lợi ích về bảo vệ, chăm sóc trẻ em “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi
ích trăm năm trồng người”;
Thiếu niên nhi đồng là chủ tương lai đất nước. Vì vậy : “Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho cuộc đời sau là điều rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc Hồ
Chí Minh) “ Các em thiếu niên nhi đồng ngày nay sẽ là người xây dựng xã hội
chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản sau này, quan tâm đến thiếu niên nhi đồng là
quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới”. “ Trẻ em như búp
trên cành, biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến trẻ em, Người thường nói: “
Trẻ em là cái mầm, cái búp của dân tộc. Con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục

1.4. Các công ước Quốc tế về quyền trẻ
1.4.1. Công ước Quốc tế về quyền trẻ em CRC
Năm 1989 Công ước quốc tế vế các quyền trẻ em (viết tắt CRC) được Đại
Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua với 150 nước phê chuẩn, đến nay đã có
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
192/197 nước tham gia và phê chuẩn, CRC đã thể hiện toàn diện và đầy đủ các
quyền; Dân sự , kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và mang tính toàn cầu.
* Các nguyên tắc chính trong CRC:
- Không phân biệt đối xử.
- Lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Quyền sống còn và phát triển.
- Tôn trọng ý kiến của trẻ em .
* Bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ em trong CRC.
- Các quyền được sống, tồn tại và sống khỏe mạnh
- Các quyền được phát triển
- Các quyền được bảo vệ khỏi bị tất cả các hình thức lạm dụng, bị xao
nhãng, bóc lột.
- Các quyền được phát biểu ý kiến, được tham gia.
1.4.2. Công ước138
Quy định về độ tuổi tối thiểu : “ Mỗi thành viên phê chuẩn công ước này
phải nêu rõ, trong bản tuyên ngôn gửi kèm theo văn bản phê chuẩn, một tuổi tối
thiểu được nhận vào làm việc hoặc lao động trong lãnh thổ của mình và trong
các phương tiện giao thông được đăng kiểm trong lãnh thổ của mình không
một ai ở dưới độ tuổi đó sẽ được nhận vào làm việc hoặc lao động trong bất kỳ
nghề nào”. Ngoài ra có các quy định về tuổi tối thiểu cao hơn với công việc độc
hại, tuổi tối thiểu thấp hơn đối với công việc nhẹ nhàng.
1.4.3. Công ước 182
Đưa ra các tiêu chuẩn Quốc tế về xóa bỏ các lao động trẻ em tồi tệ nhất,
bao gồm 4 nhóm chính:

Vào đầu thập niên những năm 1980, Liên Hiệp Quốc tế Bảo vệ Thiên
nhiên là tổ chức đã đề khởi khái niệm phát triển bền vững. Đến năm 1987, khái
niệm này được Uỷ ban Thế Giới về Môi trường và phát triển khai triển và định
nghĩa phát triển bền vững đã nêu rõ:
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
“Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại
nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu
của chính họ”.
Về mặt xã hội, bền vững có nghĩa là xã hội công bằng, cuộc sống an bình.
Sự phát triển bền vững cần đề phòng tai biến, không để có người sống ngoài lề
xã hội hoặc bị xã hội ruồng bỏ. Xã hội của một nước không thể phát triển bền
vững nếu có một tầng lớp xã hội đứng ngoài công cuộc xây dựng và mở mang
quốc gia. Thế giới sẽ không có phát triển bền vững về mặt xã hội nếu cuộc sống
hoặc tính mạng của một phần nhân loại bị đe dọa vì bệnh tật, đói nghèo, thiên
tai,
Phát triển bền vững về mặt xã hội còn có nghĩa con người có môi trường
sống hài hòa, công bằng và có an sinh xã hội. Chính vì vậy mà áp dụng lý thuyết
này vào đề tài nghiên cứu ta cần phải trợ giúp các em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn để các em có cơ hội phát triển và hòa nhập vào cuộc sống chung của toàn
xã hội. Vì sự phát triển bền vững của đất nước, của dân tộc, của toàn xã hội nên
chúng ta phải chú trọng công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng.
1.6. Một số khái niện cơ bản của đề tài nghiêncứu
Để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu về “Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại huyện An Lão” có hiệu quả, trước hết cần hiểu
rõ một số khái niệm cơ bản sau:
1.6.1. Khái niệm trẻ em
Theo điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em: “ Trẻ em là người dưới
18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ có quy định tuổi thành niên

không có sự giúp đỡ của Nhà Nước, cộng đồng xã hộ, gia đình và người thân.
1.6.3. Khái niệm chăm sóc trẻ em
Chăm sóc là các hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về vật chất
và tinh thần để đảm bảo sự phát triển, đảm bảo sự phát triển hài hòa về nhân
cách của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chăm sóc chính là tạo ra môi
trường pháp lý, hành chính thuận lợi để bảo vệ quyền của trẻ em và tạo điều
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
kiện cho các em hòa nhập công đồng, xã hội và phát triển toàn diện như những
trẻ em bình thường khác.
1.6.4. Khái niệm Bảo vệ trẻ em
Bảo vệ trẻ em là những hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn không để trẻ em
bị sao nhãng bị lạm dụng, xâm hại và bị bóc lột, bạo lực cũng như hỗ trợ trẻ em
rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trẻ em cần được giúp đỡ, phục hồi phát
triển trong môi trường an toàn và lành mạnh ở hình thức đơn giản nhất Bảo vệ
trẻ em là đảm bảo mọi quyền của trẻ em không bị xâm hại, nó bổ sung cho các
quyền khác đảm bảo cho trẻ em được ghi nhận những gì các em cần để tồn tại và
phát triển, đảm bảo quyền của trẻ em với sự an toàn chăm sóc và phát triển toàn
diện.
1.6.5. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một lĩnh vực đặc thù trong hoạt động công tác
xã hội và áp dụng những giá trị, kiến thức và kỹ năng của nghề Công tác xã hội
để thực hiện và đảm bảo an toàn và bảo vệ cho trẻ em.Công tác xã hội chăm sóc
trẻ em là việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội chuyên nghiệp
trong lĩnh vực với gia đình, trẻ em và cộng đồng nhằm phòng ngừa trẻ em bị lạm
dụng, xâm hại, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để phục hồi giúp
các em có điều kiện phát triển.
1.6.6. Đặc điểm tâm lý của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trẻ em là lứa tuổi chưa thành niên, có đầy đủ những đặc diểm tâm lý phát
triển của lứa tuổi, đây là giai đoạn quan trọng để các em hình thành nhân cách

của mình, luôn mặc cảm thấy mình có lỗi, tự hỏi vì sao lại như vậy? Thấy mình
vô dụng suy sụp, hay nản trí, dằn vặt bản thân.
- Không nói thật. Vì trẻ em ước mơ một hoàn cảnh khác, né tránh những
đề tài đau thương, sợ bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng muốn lấy lòng người lớn, cố ý
nói dối để né tránh câu chuyện, không muốn tiếp xúc với người khác hoặc để
gây sự chú ý của người nghe. Trẻ không phải lúc nào cũng nói thật về tâm trạng
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
của mình. Trẻ có thể vì quá sợ hãi mà không xác định dược tâm trạng của mình
hoặc không biết nói như thế nào để diễn tả tâm trạng.
Như vậy, chúng ta có thể thấy tâm lý của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn hết sức phức tạp trẻ rất dễ bị kích động, để tiếp cận được với nhóm trẻ này
phải hiểu về tâm lý các em thì việc trợ giúp mới có thể đạt kết quả cao. Dù sống
trong hoàn cảnh khó khăn hơn với các bạn đồng trang lứa thì trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn vẫn luôn có mong muốn và nguyện vọng ngày càng cao
về tinh thần và vật chất và những nhu cầu về hoàn thiện chính mình để vươn lên
cuộc sống. Vì vậy việc thấu hiểu đầy đủ về mặt tâm lý của trẻ để một mặt
khuyến khích tâm lý tích cực và hạn chế tâm lý tiêu cực, giúp trẻ phát triển một
cách toàn diện về cả nhân cách, đạo đức, thể lực và trí tuệ
Sinh viên: Cao Thị Tâm - CN CTXH K11 25

Trích đoạn Thực trạng cụng tỏc bảo vệ,chăm súc trẻ em cú hoàn cảnh ĐBKK tại huyện An Lóo Hoàn thiện hệ thống chớnh sỏch hỗ trợ trực tiếp Đối với phũng Lao động – Thương binh và xó hội huyện An Lóo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status