HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tâm của
các thầy cô giáo, đồng nghiệp, ngƣời thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Hằng Phương,

ĐÀM THÙY LINH

ngƣời thầy đã nhiệt tình, tận tâm hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa sau
đại học và các thầy cô giáo khoa Ngữ văn của trƣờng ĐHSP Thái Nguyên,

HÁT QUAN LANG CỦA NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN
GIAN

các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, trƣờng Đại học KHXH &
NV, Viện Văn học Khoa Sau Đại Học đã giúp em hoàn thành khoá học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà nghiên cứu Văn hoá Dân
gian Nguyễn Thiện Tứ và Thƣ viện tỉnh Cao Bằng đã cung cấp tƣ liệu và

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, ngƣời thân đã động viên
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 0
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................. 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ........................................................................................ 2
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .............................................. 6

3.1. Mục đích nghiên cứu ...................................................................... 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 6
4. PHẠM VI ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ..................................................... 6

4.1. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 6

Thạch An - Cao Bằng ....................................................................... 21
1.3. Nghi lễ đám cƣới và trình tự một cuộc hát Quan lang ở Thạch An – Cao
Bằng ................................................................................................................. 22
Chƣơng 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LỜI HÁT QUAN LANG
Ở THẠCH AN - CAO BẰNG ............................................................................. 36
2.1. Lối thử thách bằng thơ ............................................................................. 36
2.2. Bài học về cách ứng xử và đạo lý làm ngƣời ........................................... 51
2.3. Sự trân trọng đối với ngƣời phụ nữ ......................................................... 62
2.4. Lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui ........................... 67
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG LỜI

4.2. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... 7

HÁT QUAN LANG ............................................................................................. 76

5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................. 7



3.5.1. Sự đan xen ngôn ngữ các dân tộc ............................................. 90
3.5.2. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh, giàu chất thơ ....... 94
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 109
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 113

1.2.2. Nguồn gốc của hát Quan lang................................................. 20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

0



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1




việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc. Đồng thời

MỞ ĐẦU

cũng là tìm hiểu và phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc Tày qua loại
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

hình sinh hoạt văn hoá phong tục này.


Nền văn hoá Việt Nam đƣợc cấu thành bởi văn hoá của 54 dân tộc, đó là

năng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân tộc ít ngƣời nhƣ: Mo Mƣờng,

nền văn hoá kết hợp hài hoà những tinh hoa văn hoá có phong cách riêng của

hát cúng ma của ngƣời Mông, Then Tày, Hát Quan lang… đã đƣợc ngành văn

các dân tộc anh em trong đại gia gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong đó,

hoá, đặc biệt là ngành văn hoá dân gian chú ý khai thác.

văn hoá các dân tộc thiểu số góp phần quan trọng làm nên diện mạo phong

Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu hát Quan Lang về nhiều

phú, đa dạng của bức tranh văn hoá Việt Nam. Việc nghiên cứu và khai thác

phƣơng diện: nguồn gốc, nội dung, hình thức nghệ thuật, phƣơng thức diễn

văn hoá Tày ở Việt Bắc sẽ không chỉ nhằm đi sâu khai thác những giá trị tƣ

xƣớng... Song chƣa có công trình nào nghiên cứu về hát Quan lang ở Thạch

tƣởng và thẩm mỹ về văn hoá của dân tộc, mà phần nào còn làm sáng tỏ diễn

An - Cao Bằng một cách toàn diện hệ thống.

trình văn hoá Việt Nam trong lịch sử.


tài liệu đặc biệt có giá trị. Trong thời gian này, công trình nghiên cứu về hát

hát Quan lang của ngƣời Tày ở Thạch An là công việc hữu ích góp phần vào

Quan lang chƣa nhiều, chỉ là một số bài viết đƣợc đăng trên báo chí.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1



2




Đến năm 1973, trong cuốn “Dân ca đám cƣới Tày - Nùng”, Nông Minh

tƣ tƣởng, thái độ tình cảm của mình. Nhƣ vậy, dân ca đám cƣới không chỉ là

Châu đã tập hợp hơn 100 bài hát đám cƣới Tày – Nùng. Tác giả sƣu tầm và

những bài ca nghi lễ khô cứng mà còn bao hàm cả thành phần giao duyên.”

dịch từ nguyên văn thơ Tày - Nùng ra tiếng Việt. Bên cạnh giá trị sƣu tầm,

[33, tr.70]. Cũng trong sách này, tác giả Vi Hồng trong bài “Nội dung của


Quan Lang không nhiều nhƣng cũng đủ giúp ta hình dung bƣớc đầu về diện

bài hát đám cƣới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hoá văn nghệ”, “giá trị của

mạo hát Quan Lang.

những bài hát đám cƣới là đã phản ánh, miêu tả xã hội và đời sống của dân
tộc Tày”. [5]

Đến những năm 80 của thế kỷ XX mặc dù trong văn kiện đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định vị trí và vai trò của văn hoá dân

Nhƣ vậy, cuốn sách “Dân ca đám cƣới Tày - Nùng” của Nông Minh
Châu xuất bản đã cho ta những tƣ liệu quý giá và những hiểu biết ban đầu rất
cần thiết, đặc biệt là về phƣơng diện diễn xƣớng dân ca Tày - Nùng.

gian các dân tộc ít ngƣời trong nền văn hoá Việt Nam, nhƣng công tác sƣu
tầm, nghiên cứu lời hát Quan Lang vẫn còn hạn chế .
Năm 1995, trong cuốn “Tục cƣới xin của ngƣời Tày” [1], Triều Ân -

Năm 1974, trong cuốn “Bƣớc đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc”, [33 ]

Hoàng Quyết đã giới thiệu về tục cƣới xin và lễ cƣới của ngƣời Tày; thơ

có bài viết của Lƣờng Văn Thắng “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ

Quan Lang, Pả Mẻ đƣợc sƣu tầm ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Tuyên

Quan lang”, của Vi Quốc Bảo “Những bài hát đám cƣới - Những bài thơ trữ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3



4




Sli, Lƣợn: Lƣợn Quan Lang; Sli, Lƣợn lề lối và điệu lƣợn Phong Slƣ và một

phƣơng tiếp thu, sáng tạo và bổ sung. Vì thế, Hát Quan lang ở mỗi địa

số yếu tố nghệ thuật tạo ra phong cách riêng của Sli và Lƣợn nói chung “Đó

phƣơng có sắc thái riêng, nên vấn đề nghiên cứu hát Quan lang ở mỗi địa

là phong cách hài hòa giữa lý trí và tình cảm, giữa cảm xúc thi ca hồn nhiên

phƣơng, chính là đi khám phá sự đa dạng phong phú của hát Quan lang.

và sự thông minh linh hoạt về trí tuệ”.

Những bài viết và những công trình nghiên cứu ở trên là tiền đề gợi mở



- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài.

ca này.

- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích và lý giải những vấn đề liên

Trong sách “Thơ Quan lang” [49] xuất bản năm 2008, Nguyễn Thiện Tứ
đã giới thiệu trình tự những lời thơ Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng, song
chƣa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nội dung và hình thức nghệ thuật
của văn bản ngôn từ.
Hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hiện nay vẫn chƣa đƣợc khai
thác, nghiên cứu một cách triệt để trong một công trình khoa học nào.

quan đến hát Quan lang chủ yếu từ góc độ Văn học dân gian.
- Trong điều kiện có thể chúng tôi đi điền dã và sƣu tầm thêm đƣợc một
số lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng chƣa đƣợc xuất bản.
4. PHẠM VI ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
4.1. Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, hát Quan lang vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài chú trọng vào phần lời hát Quan

của ngƣời Tày ở Việt Bắc nói chung và ở Thạch An - Cao Bằng nói riêng. Nó

lang, tuy nhiên có chú ý đặt yếu tố ngôn từ trong đặc trƣng nguyên hợp của

trở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc vào dịp đám



Đối tƣợng nghiên cứu chính là lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thạch An - Cao Bằng
Chƣơng 2: Nội dung cơ bản trong lời hát Quan Lang ở Thạch An - Cao Bằng

- Trên bình diện phƣơng pháp luận là tiếp cận chủ yếu theo quan điểm
nghiên cứu ngữ văn (hay ngữ văn học), tức là dựa vào thành tố ngôn từ (lời

Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật trong lời hát Quan lang ở
Thạch An - Cao Bằng

hát Quan lang) để phân tích.
- Tuy nhiên, hát Quan lang là một sinh văn hóa cộng đồng hiện vẫn còn
tồn tại trong đời sống văn hóa của ngƣời Tày ở Thạch An - Cao Bằng. Vì vậy,
việc nghiên cứu hát Quan lang là nghiên cứu một hiện tƣợng văn hóa dân gian
đang tồn tại và phát triển trong môi trƣờng văn hóa. Cho nên, nghiên cứu hát
Quan lang không phải chỉ là nghiên cứu văn bản đã đƣợc sƣu tầm mà còn
phải đặt văn bản trong môi trƣờng diễn xƣớng của nó. Thực hiện đề tài này,
chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp cụ thể:
+ Phƣơng pháp điều tra điền dã.
+ Phƣơng pháp khảo sát thống kê.
+ Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa những vấn đề đã đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu.
- Làm sâu sắc hơn một số vấn đề mà ngƣời nghiên cứu trƣớc mới bắt đầu
tìm hiểu.
- Góp phần tìm hiểu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của ngƣời Tày
qua lời hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng.


Từ 106005’40’’ đến 106034’02’’ Kinh Đông (từ Nà Pùng, xã Quang

1.1.1. Cộng đồng người Tày Cao Bằng
Cao Bằng là một tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc nơi cƣ trú của
nhiều dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao... nhƣng số lƣợng lớn hơn cả là ngƣời
Tày, chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh “Ngƣời Tày là dân cƣ bản địa giữ vị
trí quan trọng trong lích sử cổ đại, trung đại và hiện đại ở vùng biên giới
phía Bắc nƣớc ta. Ngƣời Tày là những cƣ dân sớm có mặt trong thành phần

Trọng đến Bản Mới, xã Đức Long).
Phía Nam giáp huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Phía Bắc giáp huyện
Hoà An. Phía Tây giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn. Phía Đông giáp huyện
Long Châu tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Huyện Thạch An hiện nay đƣợc
chia thành 16 đơn vị hành chính cấp xã: Kim Đồng, Thái Cƣờng, Vân Trình,

cƣ dân nƣớc Văn Lang xa xƣa và là một trong những dân cƣ sáng lập nên

Lê Lai, Thị Ngân, Thụy Hùng, Đức Long, Danh Sỹ, Thƣợng Pha, Đức Xuân,

nhà nƣớc Âu Lạc” [53, tr. 84].

Lê Lợi, Trọng Con, Đức Thông, Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng và Thị

Ngƣời Tày ở Cao Bằng đƣợc hình thành từ ba nhánh :

trấn Đông Khê.

- Nhánh ngƣời Tày gốc còn gọi là thổ, có nghĩa là thổ dân, là chủ nhân


ngƣời kinh dƣới xuôi lên cai quản bảo vệ biên giới, họ lấy vợ ngƣời Tày, con

triển nông nghiệp. Địa hình đồi thấp, thoải hay lƣợn đều có khả năng trồng

cháu họ lập nghiệp ở địa phƣơng lâu dần chuyển thành ngƣời Tày, Kinh dƣới

trọt hoặc chăn nuôi lớn. Khí hậu chia làm bốn mùa rõ rệt nên canh tác trồng

xuôi lên đồng hoá với ngƣời Tày nhiều nhất là khi nhà Mạc lên lập Vƣơng

trọt theo mùa. Giới động thực vật phong phú nhiều chủng loại.

triều ở Cao Bằng (1594-1677).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10




Từ xa xƣa, tộc ngƣời Tày chủ yếu sống dựa vào trồng trọt và cày cấy

sống đoàn kết quy tụ với nhau. Nhiều gia đình rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ,


dấu bên trong một ý nghĩa xã hội âm vang một thời xác nhận vai trò ngƣời

thuộc nhiều vào thiên nhiên, do đó tốc độ tăng trƣởng của ngành các cây rau

chồng - ngƣời cha trong gia đình ngƣời Tày, ngƣời Nùng.” [44, tr. 2].

màu khác, mức tăng trƣởng bình quân hàng năm từ 3 - 6% đời sống của nhân
dân dần dần đƣợc ổn định.

Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu mối quan hệ gia đình của ngƣời Tày,
chúng ta không thể phủ nhận “ở đó bao trùm một tinh thần tƣơng thân tƣơng

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, môi trƣờng tự nhiên cũng

ái, bình đẳng, dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa Chồng và Vợ, giữa Nam và

gây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống con ngƣời. Chế độ mƣa

Nữ. Ngƣời Tày (...) trân trọng, yêu quý ngƣời đàn bà, ngƣời mẹ, ngƣời vợ và

theo mùa và mƣa nhiều dẫn đến tình trạng mƣa lớn gây ra quá trình rửa trôi

con gái. Vì lẽ, họ hiểu sâu sa rằng, ngƣời đàn bà đảm nhận vai trò vô cùng

xói mòn đất và lũ lụt.

quan trọng trong lao động sản xuất, quản lý kinh tế gia đình, và lớn lao hơn

Về mùa đông, Thạch An cũng chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc,
các hiện tƣợng thời tiết nhƣ sƣơng muối, băng giá đều gây ảnh hƣởng xấu đến

nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc. Sự giàu có, đa dạng của kho tàng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12




văn hoá nghệ thuật dân gian về cơ bản vễ đƣợc bảo tồn và lƣu truyền cho đến

mọi nhà, khắp bản mƣờng, ngoài đồng, trên rẫy, ra chợ… Không chỉ có thanh

ngày nay. Những nét độc đáo trong nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc

niên nam nữ mà ngƣời già, trẻ em đều Sli, Lƣợn, thích nghe Sli, Lƣợn.” [15]

trong huyện, đƣợc thể hiện qua các truyện cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ,

Quả thực đã có một thời, tiếng Lƣợn ngập tràn làng bản, đồi núi và hoà vào

câu đối, hát lƣợn... Những làn điệu dân ca trữ tình của dân tộc Tày, Nùng

tận tâm hồn, huyết mạch đồng bào:


Ngày xƣa con trai con gái Tày ít đƣợc học chữ, không biết chữ bởi thế thƣờng

lòng ngƣời. Hát Sli là hát đối đáp nên tham gia vào cuộc Sli bao gồm ít nhất 2

đến nhờ một ngƣời khác gọi là Slấy cá viết thƣ hộ. Slấy cá là một trí thức bình

ngƣời hoặc đông ngƣời (2 đám ngƣời), thƣờng là một bên nam và một bên nữ.

dân sống trong cộng đồng Tày. Phong Slƣ do Slấy cá viết ghi lại những tâm

Sli đƣợc ứng tác ngay tại chỗ nhƣng phải đảm bảo sự ăn khớp, cô đọng, hàm

tình thầm kín của trai gái Tày với giai điệu rất tha thiết. Vì vậy, những bức

súc. Ngƣời hát Sli vừa có thể sử dụng vốn hát truyền thống của dân tộc vừa có

thƣ đó trở thành một loại dân ca mang tính cộng đồng. Tình yêu của nam nữ

thể tự ứng tác theo cách riêng của mình. Những bài ứng tác hay đƣợc giữ lại

trong Phong Slƣ thƣờng là tình yêu trong xa cách, gặp trắc trở, tan vỡ. Bởi

làm phong phú thêm cho kho tàng hát Sli của dân tộc mình.

vậy, tiếng hát giai điệu Phong Slƣ thƣờng buồn da diết. Tuy nhiên không bi

Điệu hát Lƣợn, theo tác giả Vi Hồng, Lƣợn là luận, là lặp lại, là luyến, là

lụy, kêu than mà khuyên nhau vƣơn tới những ƣớc mơ lãng mạn, nhân văn.


14




huống, lời nói tự nhiên đó đƣợc gọt giũa cao trở thành cô đọng, bóng bẩy,

cũng nhỏ để sao cho tôn những đƣờng nét của cơ thể phụ nữ, cài khuy bên

giàu chất thơ, mang tính xã giao lịch sự.

nách phải nhƣ áo dài của ngƣời Kinh.

Sẽ khó có thể kể hết đƣợc các loại dân ca Tày - Nùng, nó phong phú và

Màu sắc của áo dài Tày là màu vải chàm sậm đen ánh sắc hay màu tím,

muôn hình muôn vẻ. Tất cả hợp lại thành một kho tàng dân ca Tày - Nùng đồ

hồng. Xƣa kia cũng nhƣ hiện nay, một số phụ nữ Tày dùng vải lụa hay nhƣng

sộ và giàu bản sắc. Trong vốn cổ văn hóa quý báu đó có một bộ phận là dân

đen để may áo dài, càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ.

ca đám cƣới Tày – Nùng (Hát Quan lang). Hát Quan lang là bộ phận dân ca

Cùng màu sắc với xống áo là chiếc thắt lƣng: thắt lƣng không phải cắt


tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt.

gồm áo cánh ngắn (slửa cỏm) là trang phục mặc thƣờng ngày của nam giới,

Về chữ viết: Ngƣời Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thành văn

áo dài năm thân bằng vải chàm hay vải lụa đen, gấu áo phủ quá đầu gối, áo

của dân tộc Tày rất ít ỏi và gần nhƣ không có. Có thể chia lịch sử chữ viết của

cài cúc bên ngực trái, loại áo dài này mang tính nghi lễ chỉ mặc trong dịp lễ

tộc ngƣời Tày ra thành ba giai đoạn:

tết, hội hè... loại áo này có nguồn gốc từ các tộc ngƣời vùng Đông Á, quần
(khoá) khăn đội đầu (khân) đƣợc may bằng vải sợi bông hay sợi tơ tằm và tất cả
đều đƣợc nhuộm màu chàm.

- Giai đoạn cổ đại: Không có chữ viết , chủ yếu giao tiếp bằng phƣơng
thức truyền miệng.
- Giai đoạn trung đại: Có chữ Nôm Tày. Chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng

Bộ nữ phục Tày gồm: áo cánh ngắn, áo dài, váy quần, thắt lƣng, khăn

theo chữ Hán của ngƣời Trung Quốc mà đặt ra. Theo nhiều nhà nghiên cứu,

đội đầu, giày vải, và các đồ trang sức khác nhƣ nón, ô, vòng cổ, vòng tay, dây

nhìn từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm



Quan lang ở đây lại chỉ nhiệm vụ dẫn chàng rể đi đón dâu, Quan lang thƣờng

đời không muộn hơn chữ Nôm Việt thế kỷ XVI.

chỉ ngƣời có trách nhiệm chính trong đoàn ngƣời đƣa chàng rể đến nhà gái.

- Giai đoạn hiện đại: Vừa dùng chữ Nôm vừa dùng chữ Latinh. Do vốn

Ngƣời này thƣờng đƣợc gọi là ông Quan Lang. Đi đến nhà gái, ông Quan lang

từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các hoạt động hành chính, cũng nhƣ các

thƣờng phải ngâm các bài thơ làm mọi nghi thức của việc hôn nhân, nên các

ngành khoa học, thêm nữa do phải sử dụng vốn từ Hán hoặc Nôm khiến cho

bài thơ này đƣợc gọi là thơ Quan lang [37, tr. 76].

việc sử dụng chữ viết cũng nhƣ ngôn ngữ Tày gặp rất nhiều khó khăn. Năm

Hai là: Hát Quan lang là hát trong đám cƣới, cuộc vui của đám cƣới có

1954, lớp trí thức mới đã tự sáng tạo ra chữ Latinh Tày nhƣng không đƣợc

say sƣa, tƣng bừng hay không là nhờ ở tài thơ ca và giọng hát của ông Quan

phổ biến. Năm 1960, nhà nƣớc đã giúp dân tộc Tày xây dựng hệ thống chữ

lang. Có lẽ chính vì thế mà ngƣời ta thƣờng gọi dân ca này là hát Quan lang


“Quan lang” là cách phát âm theo phƣơng ngữ Tày vùng Cao Bằng, còn nhiều

thích, hát Quan lang khác với các loại hình dân ca khác nhƣ Phong Slƣ, Sli,

vùng Tày khác có cách phát âm là “Quan làng”. Thời gian diễn ra thơ Quan

Lƣợn, Then... nó cũng có tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhƣng mặt

lang đƣợc tính từ khi nhà trai bƣớc chân đến cổng làng nhà gái. [49, tr. 5]

khác nó cũng là loại hình sinh hoạt theo phong tục nghi lễ cƣới xin của ngƣời
Tày. Cho đến nay nhiều ngƣời vẫn chƣa định nghĩa đƣợc rõ ràng về loại hình

Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát
thực tế, chúng tôi thấy có thể hiểu về hát Quan lang nhƣ sau:

nghệ thuật này. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhƣng tất cả các cách giải

Hát Quan lang là hệ thống các bài ca đƣợc sử dụng trong đám cƣới của

thích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất về “Hát Quan lang” nhƣ sau:

ngƣời Tày. Hệ thống những bài ca này có thể kéo dài tới hàng ngàn câu, hàng

Một là: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc Tày. Theo nghĩa cổ

trăm bài, chia thành các phần cụ thể. Trong đó các phần mục tƣơng ứng với

“Quan” là ngƣời con trai đã lớn tuổi mà chƣa có vợ “Lang” là con rể. Nhƣng


Thơ Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày đƣợc lƣu
truyền lâu đời trong dân gian. Những bài thơ vấn đáp hát khi cƣới lƣu truyền

Chúng tôi thấy cần phân biệt hai khái niệm “Quan lang” và “Quan làng”.

qua nhiều nơi, nhiều thế hệ đã dân gian hoá, đến nay cũng khó nhận bài nào

Theo nhân dân và các cụ ở Thạch An và Cao Bằng thì từ “Quan làng” chỉ

có tác giả, bài nào của dân gian lƣu truyền, bổ sung, sửa chữa...

dùng để gọi ông chủ đám ma. “Quan làng” là một ngƣời đàn ông đứng tuổi,

Tƣơng truyền những bài thơ vấn đáp hát khi cƣới, đƣợc một thầy dạy học

có uy tín trong vùng. Quan làng có nhiệm vụ giúp gia chủ “sai khiến” các con

giỏi tên là Lê Thế Khanh ghi chép lại bằng chữ Nôm biên soạn bổ sung truyền

cháu trong bản làng tổ chức đám ma cho thật tốt, nhằm đảm bảo hồn ngƣời

cho các đời sau, đến ngày nay. Lê Thế Khanh ngƣời Tày ở Thạch Lâm - Cao

chết “đi đến nơi về đến chốn” một cách êm đẹp! Vì vậy ở Cao Bằng có sự

Bằng, khi còn trẻ đã từng về học ở Kinh đô Giao Châu (đất nƣớc ta lúc đó) là

phân biệt khá rõ hai từ “Quan lang” và “Quan làng”.


mục đích đón đƣợc cô dâu về nhà chồng. [13, tr. 50-51]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trong cuốn “Thực lục Cao Bằng” Bế Văn Cung là Đốc trấn tỉnh Cao



ta có thể phỏng đoán, thơ Quan lang bắt nguồn từ một loại dân ca trữ tình của
dân tộc Tày, và chỉ có thể xuất hiện vào thời kỳ chế độ kinh tế cá thể đã phát
triển khá cao và chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thịnh hành trong xã
hội. Ở thời kỳ này, địa bàn hôn nhân của nam nữ thanh niên cùng một dân tộc
đã đƣợc mở rộng, tức là một thanh niên nam ở địa phƣơng này có thể xin cƣới
một cô gái ở địa phƣơng khác về làm vợ. Tất nhiên việc cƣới xin này chủ yếu
là do cha mẹ và họ hàng hai bên thoả thuận, xếp đặt. Tƣơng truyền thơ Quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20




lang ở Thạch An - Cao Bằng gồm có 56 bài nhƣng hiện nay rất ít nghệ nhân

Ngƣời ta mê hát Quan lang vì nhiều lẽ, nhƣng trƣớc hết là ở sự hiểu biết,

còn biết trọn vẹn về nó.

văn minh, trang trọng, lịch sự và đặc biệt là tài đối đáp thơ của ông Quan lang


đồng bào thể hiện lòng vui mừng phấn khởi bằng những bài hát. Ngay cả việc

vui mừng của họ khi đƣợc nghe hát những bài “thơ Quan lang” (thơ lẩu).

thực hiện những nghi lễ trang trọng, ngƣời ta cũng đem lời ca tiếng hát thay

Xƣa kia, khi đến dự một đám cƣới, câu đầu tiên của khách hỏi chủ là: có

thế cho những câu đối thoại giữa hai họ. Thông qua đó, hát Quan lang gắn kết

“Thơ lẩu” không? Nếu không có “Thơ lẩu” thì rƣợu sẽ nhạt lắm! Ngày cƣới là

mối quan hệ cộng đồng, làng bản dòng họ đôi lứa. Nhiều thuần phong mĩ tục

ngày vui mừng nhất trong một đời ngƣời, cho nên cần phải có lời ca tiếng hát,

của dân tộc đƣợc phát huy và đặc biệt là tính giáo dục lòng hiếu khách, sự

cần có “Thơ Lẩu”. Đám cƣới dù đang ồn ào đến đâu, hễ tiếng hát “thơ Lẩu”

khiêm tốn, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, lòng thành kính với tổ tiên, tình vợ

cất lên, thì mọi ngƣời đều say sƣa lắng nghe. Nhất là họ nhà trai thƣờng đến

chồng thuỷ chung …

nhà gái vào buổi chạng vạng tối, sau khi khách khứa đã ăn cơm chiều. Mọi

Vì vậy, những bài Quan lang hát mừng đám cƣới đã đƣợc đồng bào Tày tập


của một đám cƣới cổ truyền từ lúc đoàn nhà trai sang nhà gái cho đến lúc

em nhỏ đều có thể đọc thuộc lòng vanh vách.

rƣớc dâu về tới nhà.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22




Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày ở Thạch An – Cao Bằng, hôn

bƣớc đƣờng) tiếp tục đi đến gia đình bên cô dâu hoặc chú rể để làm thủ tục

lễ chiếm một vị trí quan trọng. Nó liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và

xin tám chữ “Slƣ mỉnh” (tức họ tên, ngày giờ sinh của đôi nhân duyên) về

tinh thần của mỗi con ngƣời trong cộng đồng. Ở mỗi dân tộc, việc cƣới xin


Bƣớc một: Dạm hỏi là khi đôi nam nữ yêu nhau, nguyện xây dựng mái

Bƣớc bốn: Ăn hỏi là khi những bƣớc trƣớc đó cơ bản xong, đến lễ ăn hỏi

ấm gia đình với nhau, báo cáo với gia đình bên nhà trai chủ động cho ngƣời

vật lễ ăn hỏi do hai bên gia đình họ hàng bàn bạc thống nhất: tiền sắm đồ cƣới

sang dạm ngõ (chạm ngõ), bỏ qua bƣớc thăm dò. Bên nhà trai nhờ ngƣời thân

là bao nhiêu, bên nhà trai, nhà gái phải sắm thứ gì, ngày cƣới nhà trai phải

thuộc trong họ mang theo một lít rƣợu, một kilôgam thịt lợn đến gia đình nhà

mang những thứ gì sang, số lƣợng là bao nhiêu rồi thƣa lại cho nhà trai. Riêng

gái làm thủ tục dạm hỏi (đó là tục lệ đi hỏi vợ, ngƣợc lại nếu đón rể về nhà thì

tiền mặt thì đƣa ngay ngày hôn đó. Ngày xƣa, mỗi thứ đều tính một trăm

bên nhà gaí phải làm thủ tục đó). Đại diện nhà trai đặt vấn đề với cha mẹ cô

gồm: Thịt lợn, gạo nửa nếp nửa tẻ, rƣợu hai chum. Trƣớc lễ cƣới một ngày,

gái bằng những lời lẽ rất tế nhị, ví von, tôn trọng. Nhà gái cũng đáp lại rất tôn

nhà trai đƣa các lễ vật sang và có một ngƣời đại diện đi cùng gọi là “đệ đám”

trọng, đại ý là: cha mẹ tuỳ theo ý con, con ƣng thì cha mẹ cũng chiều, con


ngày, nhà gái tổ chức vào buổi sáng, nhà trai đón dâu vào buổi chiều. Chú rể

đình và hai họ, ngƣời đƣợc gia đình nhờ làm thủ tục dạm hỏi (gọi là ngƣời

phải sang nhà gái trƣớc, đoàn nhà trai đi đón dâu gồm có: Ngƣời đại diện thay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23



24




mặt gia đình gọi là “Quan lang”, chú rể, phù rể, một bà mối, hai cô thiếu nữ

đóng cửa lại, túi nhốt mèo và đó đơm cá treo trên cửa, lấy chổi đặt ngang cửa,

để gánh đồ lễ. Tổng số đoàn đón dâu bao giờ cũng là số chẵn, là tám, mƣời

trải chiếu lệch,…

hoặc mƣời hai ngƣời. Ngƣời trong đoàn, cả già trẻ, đều có cuộc đời hạnh
phúc, êm đẹp, đƣợc xóm làng quý mến.



Về trang phục: cô dâu, chú rể ngày trƣớc mặc áo dài vải chàm. Áo cô dâu

dâu, nhƣng số lƣợng bài hát thƣờng ít hơn ở bên nhà gái. Những ngƣời đƣợc

thắt lƣng bằng vải màu đen hoặc chàm, bằng tấm vải xếp đôi rộng khoảng

mời làm Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hầu nhƣ vẫn còn giữ đƣợc sách,

mƣời phân thắt về phía sau buông xuống đến khoảng giữa ống quần hoặc

chép lƣu truyền trong dân gian các bài hát này.

chấm gót. Cô dâu vấn khăn, chú rể đội mũ hoặc khăn xếp. Hiện nay phần lớn
cô dâu, phù dâu mặc áo dài, váy kiểu tân thời. Chú rể mặc quần áo complê.
Trong đoàn nhà trai, chọn ngƣời làm Quan lang là quan trọng. Quan lang
phải biết mọi lễ nghi, phong tục lễ cƣới của ngƣời Tày và hoạt bát để giải quyết

Đám cƣới truyền thống nào của ngƣời Tày ở Thạch An - Cao Bằng cũng
đều có diễn xƣớng thơ vấn đáp hát khi cƣới. Hát Quan lang là hình thức sinh
hoạt văn hóa mang tính đặc thù, đƣợc hình thành do yêu cầu của cuộc sống
con ngƣời, nó gắn với hôn lễ, phục vụ hôn lễ.

mọi tình huống trong công việc cƣới xin, đặc biệt là phải biết “Lƣợn lẩu”. Ông

Hát Quan lang vừa mang chức năng trao đổi tình cảm, vừa thể hiện chức

Quan lang đƣợc coi nhƣ linh hồn của đám cƣới. Quan lang (nam), Pả mẻ (nữ)

năng nghi lễ trong hình thức truyền thống. Hát Quan lang cũng không nằm


- Những bài ca mừng phù dâu, phù rể

chặng (cuộc). Những chặng (cuộc) so tài thử trí này vừa mang tính sinh hoạt

- Những bài ca chia tay, nhắn gửi

vừa là hình thức nghi lễ đƣợc diễn ra từ khi đoàn đón dâu đặt chân tới nhà gái,

Nội dung, dung lƣợng của bài ca tuỳ thuộc vào các đề tài, tình huống cụ

đến lúc kết thúc xin phép nhà gái đón dâu. Ứng với mỗi sự thử thách và các

thể và tài ứng đối của ngƣời đại diện nhà trai và nhà gái. Trong diễn trình diễn

nghi thức là những bài ca. Các bài ca có thể sắp xếp theo trình tự sau:

xƣớng của những bài ca đám cƣới (Hát Quan lang) nêu trên ta thấy mọi sự

* “Giai đoạn thử thách” gồm:

dẫn dắt, giao tiếp giữa hai họ đều đƣợc thực hiện bằng thơ ca, do ông Quan

- Những bài ca mở cổng

lang là ngƣời cầm trịch. Đây là đặc điểm độc đáo trong đám cƣới của dân tộc

- Những bài ca chăng dây

Tày. Nó cho thấy hình thức tổ chức đã có nề nếp, quy củ tuân theo các luật


Lễ hồi ròi, slam nâƣ (Nhị hỷ): Đây là lễ của ngƣời con gái đã đi nhà

- Những bài ca mời rƣợu

chồng bƣớc vào ngày thứ ba nay “hồi ròi” (trở về theo lối cũ) để con rể cùng

- Những bài ca mời cơm

con gái về thăm quê, cha mẹ và họ hàng thân thích.
Bên cha mẹ vợ tổ chức một bữa cơm sang trọng vui vẻ không kém ngày

- Những bài ca bái tổ
- Những bài ca nạp gánh

cƣới để tỏ ra vui lần hai (Nhị hỷ) mời đầy đủ các vị thân nhân nội ngoại…

- Những bài ca đáp ơn cha mẹ

Trong bữa tiệc cũng có bình thơ chúc tụng, hát xƣớng…

- Những bài ca nhận rể

Đến đây, một đám cƣới đƣợc coi là hoàn tất.

- Những bài ca xin đón dâu

Dân ca đám cƣới Tày thực chất là cuộc đối đáp giữa nhà trai và nhà gái,

- Những bài ca lễ bố mẹ chồng


Chốn này chốn én ƣơng mở hội

Gần chắc lƣợn gằm đây gằm mjảc

Có hai cây chuối sinh tiêu

Gần ké thỉnh lùm lẩu tềnh bôm

Gió quạt đi quạt lại mát mẻ

Dịch: Ngƣời biết hát câu hay câu đẹp

Xem nhƣ bút vẽ văn thƣ

Ngƣời già nghe quên rƣợu trên mâm [27]

Xem nhƣ bàn cờ cửa trùng

Có những cặp phù dâu, phù rể đã lấy chén rƣợu làm đề tài tạo nguồn

Ngƣời ta đem về làm gì?

cảm hứng:

Xin hỏi khách hiền nhân quân tử

- Thƣa cùng các bạn đƣờng xa

Biết thì nói rõ phân minh


Có hai cây chuối sinh tiêu

Thóc vàng đem phơi nắng

Gió quạt đi quạt lại mát mẻ

(...) Mới chảy thành rƣợu quý ngƣời dùng. [27]

Hƣơng nó thơm nhƣ quế ngàn sơn

Bài ca đám cƣới thực sự là bài ca đối - đáp. Có những bài ca đối – đáp

Chuối này thật quý nhiều hơn

chia tay giữa kẻ ở ngƣời về khi kết thúc đám cƣới:

Từ ngày xƣa phân khai vạn đại

- Bên nam hát:

Lá chuối gói bánh gai đƣờng

Giờ đây chúng tôi về quê bản

Lƣu truyền khắp bốn phƣơng thiên hạ. [27]

Bƣớc đi xa chào ngƣời ở lại
Bẻ hoa còn cài lên trên cành
Mong hoa mãi tƣơi xanh chớ héo

Gửi bạn hai chén rƣợu đi đƣờng

làm nảy nở những cuộc tình duyên. Trong lễ cƣới trai gái tìm đến nhau, để ý,

Cùng nhau gửi lời thƣơng lời nhớ

để tình. Họ yêu nhau về lời ăn tiếng nói, cảm nhau về tiếng hát lời thơ, phục

Xuân nào hoa mới nở hai lần

nhau về tài đối đáp.

Ƣớc gì gặp đƣợc nhau hai bận. [27]
Cuộc hôn lễ của đôi vợ chồng trẻ đã đánh thức tình yêu đôi lứa, khơi lên

Mọi ngƣời đến đám cƣới không chỉ “cơm no rƣợu say” mà còn đƣợc

khát vọng xây dựng hạnh phúc của những trai làng, gái bản đến dự cƣới, trong

thƣởng thức giọng ca của ông Quan lang, bà Pả mẻ và của những trai tài gái

đó có tiếng hát yêu thƣơng của cặp phù dâu phù rể. Nhân lễ cƣới này, họ có

sắc. Tâm hồn hoà quyện trong những tâm hồn. Ngƣời già nghe tiếng hát thấy

dịp tỏ bày tình cảm và vì thế cuộc hát ra đời:

mình nhƣ sống lại cái tâm trạng trẻ trung một thời cũng đựợc làm cô dâu chú
rể. Ngƣời trẻ nghe tiếng ca thì háo hức mong ngày vui nhanh đến với mình.



dân tộc có những điểm khác.

Đáng trách lệ đời xƣa đã đặt

Hát đám cƣới của ngƣòi Mƣờng không gắn trực tiếp với nghi thức đám

Đáng trách lệ Bàn Cổ đã ban

cƣới. Trong đám cƣới, họ mời một ngƣời hát chuyên nghiệp đến để hát những

Đặt ra lệ cƣới xin không hợp

bài hát chúc mừng cô dâu chú rể, chúc mừng hai họ:

Đặt ra lệ ăn hỏi không minh
Đón riêng mình cô dâu về bản

Ta nói Xƣờng nói rạng cho vui

Sao không đặt thêm ra phép nữa

Trai anh gái em nhà ta nên cửa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

31





Có lòng thƣơng dọn cỗ ăn trên khung cửa

Mình bảo mình lấy củi lấy nƣớc về nấu

Có trầu, có nang, có vàng, có bạc

Nƣớc chè mới tức khắc về đây

Có rƣợu cần ngọt, có đọt hƣơng thơm

Vậy thì chè mẹ chè bố từ đâu tới

Có thúng gạo, quan tiền, mâm thau nhắc lên.

Chè bố chè mẹ từ đâu ra?

Đối với dân tộc Kơtu, trong đám cƣới, bố vợ và con rể có thể hát đối đáp. Khi bố vợ cất lời hát:

Ông mối nhà trai đáp:
Chè này giồng ở đầu ngõ

Tôi có một đứa con gái xinh đẹp

Bố giang chân đạp cành chè

Tôi muốn có trâu to

Mẹ vƣơn tay hái búp chè


dân tộc nói lên tính chất tự nhiên của sự hình thành các hình thức nghệ thuật

Lấy đâu đồ kể ra ngay bây giờ.

dân gian, đồng thời nó cho ta thấy quá trình vận động sinh hoạt dân ca từ chỗ
là bộ phận hữu cơ trực tiếp gắn liền với đời sống (nghi lễ phong tục) đến chỗ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

33



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

34




trở thành một sinh hoạt văn hoá tinh thần cũng vẫn mục đích là phục vụ đời
sống nhƣng đã mang tính nghệ thuật, chuyên nghiệp cao hơn (ở dân tộc Kơtu
bố vợ và con rể cùng hát, đến dân tộc Tày Quan lang là ngƣời trung gian hát,
cho đến ngƣời Mƣờng đã mời một ngƣời có tính chất chuyên nghiệp đến hát).

Chƣơng 2:
NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LỜI HÁT QUAN LANG
Ở THẠCH AN - CAO BẰNG
2.1. Lối thử thách bằng thơ



sinh hoạt, vừa là hình thức nghi lễ đƣợc diễn ra theo trình tự thời gian từ khi

mang đậm tính sinh hoạt quần chúng, nhƣng mặt khác nó còn là loại hình sinh

đoàn nhà trai đặt chân tới nhà gái đến lúc kết thúc xin phép đón dâu về. Ở mỗi

hoạt văn hoá phong tục độc đáo của ngƣời Tày ở Thạch An – Cao Bằng. Hát

địa phƣơng sự thử thách có những mức độ và tình huống khác nhau.

Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng là bộ phận dân ca tồn tại song hành với
phong tục nghi lễ cƣới xin của ngƣời Tày. Qua tục hát Quan lang ta thấy đƣợc
hình thức tổ chức lễ cƣới của dân tộc mang tính truyền thống độc đáo, tuân
theo những trật tự nghi thức có tính quy củ, nền nếp, trật tự trƣớc sau.
Hát Quan lang là sinh hoạt văn hoá tinh thần lành mạnh. Nó in sâu vào
đời sống sinh hoạt và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong lễ cƣới
của ngƣời dân Tày Thạch An. Nhờ đó mà đám cƣới thêm vui vẻ, đời sống
tinh thần của đồng bào thêm phong phú. Nó còn gắn kết mọi thành viên trong
cộng đồng với nhau. Đây chính là môi trƣờng giúp cho hát Quan lang tồn tại
và phát triển.

Theo phong tục tập quán truyền đời, ngƣời Tày không bao giờ bƣớc qua
một thứ đồ dùng nào ở trong nhà. Vì thế nên trong đám cƣới hễ thấy vật
chƣớng ngại gì ở giữa đƣờng, giữa cửa, vị Quan lang hát bài xin cất vật ấy.
Những bài hát chăng dây, cất chổi, cất đó… thể hiện phong tục này. Những
bài hát ở phần này còn mang một ý nghĩa khác. Ở đây, nhà gái không phải là
muốn gây khó dễ, làm phức tạp, rắc rối cho nhà trai, mà cũng không phải
thách đố tranh giành thua, đƣợc cuộc. Ngƣời ta bày trò theo tập quán và cũng
hát mừng theo tập quán. Đám cƣới là ngày hội của cả bản, cho nên đồng bào


Trai gái nghe quên cất mâm dọn bát

Để chú rể vào nhà trình lễ
[49, tr. 12-13]

Nghe câu đẹp quên bƣớc đứng nghe.
Thử thách bắt đầu từ khi họ nhà trai đến cổng nhà gái, họ phải trải qua
các chặng đƣờng đầy thử thách của nhà gái. Đến cổng nhà gái, mọi ngƣời tụ

Bài hát quá ngắn, mọi ngƣời họ nhà gái vẫn muốn nghe hát và muốn
thấy đƣợc tài ứng đối thơ của họ nhà trai nên không chịu mở cổng làng, nhà
gái lại cất lên tiếng hát:

tập rất đông. Một ngƣời thiếu phụ cất tiếng hát chào đoàn nhà trai:

Mây nẩy làn bấu đảy quá pây

Xo chiềng thâng mọi gần puôn pản

Gần rại rụ gần đây xam nỏ

Khảu bản bấu chắc lƣợn sắc gằm

Dử Quan lang mà nẩy rẳp lùa

Khỏi đảy phép bản mƣờng dú nẩy

Gạ chăn khỏi hẩƣ mừa thâng slóa


Những duyên cớ mà nhà gái đƣa ra thì ngay lập tức Quan lang đáp lời
bằng những lý lẽ thấu tình đạt lý để nhà gái mở cổng cho vào:

Khỏi là gần xiên quây bấu rọ

Sloong họ slim rẩp nả thuận lòng

Bấu chắc răng duyên cớ mì răng

Pỏ mẻ cắp họ hàng thuận ý

Khỏi xo nàng dò lần khay ảng

Hoằn nẩy hoằn đại lệ rẳp lùa

Rẳp khƣơi mấƣ khảu bản khảu rƣờn

Boong khỏi tải khƣơi mà lệ thản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

37



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

38



Dịch:

Lễ vật đủ mọi thứ có đây

Chúng tôi ngƣời ở nơi quê khác

Con rể xin tỏ bày ơn nghĩa

Chƣa ai nói cho biết đầu đuôi

Trƣớc tiên nhờ các á mở đƣờng

Có việc cử về đây đại sự

[49, tr. 16-17]

Xin nộp tiền mãi lộ cho qua

Nhƣng sự thử thách của nhà trai vẫn chƣa dứt, cổng vẫn bị đóng, nhà gái
lại cất tiếng hát:

[49, tr. 9-10]
Bên nhà gái giúp nhau cất những cành gai, dải lụa, dây đỏ ngáng đƣờng.

Dử gạ nẩy là gần đây nỏ

Đoàn nhà trai đi đầu là Quan lang, tiếp tục vào bản, vào sân nhà cô dâu. Quan

Boong khỏi gỏi khay quảng hẩƣ pây



Ba nén bạc mãi lộ không nhiều

là trái với lẽ thƣờng, coi thƣờng công lao động và vật phẩm quý là lúa gạo:

Nộp cho đủ cổng cao rộng mở

Tẻo mì lẩu rào kha boong khỏi

Chúng tôi làm theo lệ phép quan.

Nẳm mà lao thất lội bân đin

[49, tr. 18-19]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

39



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

40




Quét cả cung vua quan cửa đại



chổi rơm là biểu tƣợng của mùa màng. Con hổ tƣợng trƣng cho sức mạnh của

những bài hát: “Quan lang xo củ nhù quét khoáng tu” (Quan lang xin cất chổi

núi rừng, sức mạnh tự nhiên. Chổi rơm tƣợng trƣng cho sự vất vả cực nhọc

ngáng cửa), “Quan lang xo củ gộc thảng pja” (Quan lang xin cất đó đơm cá),

trong việc sản xuất lúa gạo. Khuất phục và đại thắng đƣợc hại biểu tƣợng trên

“Quan lang xo củ tẩy xăng mèo” (Quan lang xin cất túi nhốt mèo), “Quan

là ƣớc mơ của ngƣời Tày cổ đại. Con ngƣời vƣợt đƣợc hai thử thách ấy là con

lang xo củ táp héc táng tu” (Quan lang xin cất giẻ lót tay canh cửa)... Ví dụ

ngƣời lý tƣởng của thời đại ấy... [14, tr. 207-208]

nhƣ bài ca xin cất chổi quét ngáng cửa:

Khi Quan lang xin cất từng thứ ở cửa đi thì bên nhà gái đã giải thích có

Nhù quét hƣa chủa rƣờn tằng tởi

lý lẽ, nghe có vẻ xuôi tai:

Quét thuổn tằng cung nội rƣờn chƣơng

Nhù quét nẩy vằn vằn quét lảng

Trẻ nào nghịch để ngang chắn cửa

Quét cung nội quét hết gia môn

Còn cái đó đơm cá trẻ con đi đánh cá về mải mừng đón chú rể quá nên

Quét nhà trên nhà dƣới sạch sẽ

treo tạm lên ấy. Cái túi nhốt con mèo vì nhà hôm nay có cỗ sợ mèo vụng trộm

Nhà cửa đƣợc mát mẻ phong quang

nên phải nhốt lại... Từng vật cản đƣợc cất đi nhƣng cánh cửa nhà chính vẫn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

41



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

42




đóng. Quan lang một lần nữa trình bày nhiệm vụ quan trọng của mình là đến

Đƣơng thời qjì vằn đây cao kiến


Đã có tin thông sự đến ngƣời

Dịch:

Xin lấy chữ thuận tình hai họ
Tôi xin thƣa các cụ giƣờng trên

Giờ này giờ vƣợng hội thiên khai

Mở rộng cửa hai bên cho hết

Đƣờng thì tốt ngày lành cao kiến

Cánh “mạy hoắc” mở sát áp tƣờng

Có vật lễ đến biếu quý thân

Cánh “mạy rầm” hai bên giang rộng

Không phải đâu binh quân xa lạ

Chúng tôi vào yết kiến lễ trình

Trình ngƣời xin mở cửa vào nhà

Sao cho nhanh phƣợng loan hội ngộ

[49, tr. 58]
Tất cả các việc diễn ra nằm trong tục lệ gọi là “Lệ thƣ tu” (lệ giữ cửa).

Xo au dử thuận tình sloong bƣởng

mời tíu tít, tiếng cƣời nói vui vẻ, nét mặt ai cũng rạng rỡ. Vƣợt qua ngần nấy

Giờ nẩy giờ vƣợng hội thiên khai

“Thử thách” của nhà gái, nhà trai những tƣởng xong chuyện, đƣợc ngồi xuống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

43



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

44




nghỉ ngơi đàm đạo nào ngờ giƣờng không có chiếu trong khi đó mấy cô chủ lịch
sự mời chào. Quan lang lại hát bài “Xo pjái phục” (Xin trải chiếu):

Bài ca với đủ mọi lý lẽ hết sức thuyết phục, ý nói mọi vật tồn tại trong
tự nhiên và trong cuộc sống đều tuân theo quy luật phát triển tự nhiên của

Dám khảu rƣờn mốc phông bặng bjoóc

nó, lẽ nào nhà gái làm trái quy luật ấy. Các cô gái trải lại chiếu nhƣng lại bị

Mọi phƣn mọi mì duyên mì slắc

[49, tr. 36-37]

Phƣn nẩy pjái tả coóc bố đây

Lúc này nhà gái mới chịu mang chiếu đến trải vào giƣờng nhƣng cố tình
trải ngƣợc chiếu hay trải chiếu dúm dó. Cả đoàn đón dâu vẫn kiên trì đứng
chờ. Quan lang hát bài “Xo pjển phục pjẻ” (Xin lật lại chiếu trái):

Dịch:
Chiếu đã trải đây đó tƣởng xong

Gần tầƣ hăn tơ hồng mì lảc

Ngƣời phƣơng xa khác mƣờng thấy lạ

Gần tầƣ hăn phục phạc pjái mai

Sao chiếu lại lệch vậy khó coi

Gƣởng nẳm hăn lai slai lai tái

Trải lại thẳng cho tôi đa tạ

Nẻp slửa tam bƣởng rại nàn hăn

Mỗi tấm chiếu sáng tỏa văn hoa

Khỏi xo dƣờng các nàng hẩƣ lẹo

Nhanh chóng hãy trải lại cho ngay

Lủc tầƣ ngám inh pha tẳt tạm

[49, tr. 38-39]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

45



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

46





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status