Lich su dang bo tinh bac ninh - Pdf 37

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Ninh
BAN CHỈ ĐẠO

NGUYỄN
NGỌ

CÔNG Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh
Trưởng ban

NGUYỄN SỸ

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ
Phó Trưởng ban

NGÔ ĐÌNH LOAN Nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh
Uỷ viên
NGÔ VĂN LUẬT

Nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh
Uỷ viên

PHẠM
THIỆU

KHẮC Nguyên Trưởng Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Phó Trưởng
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Bắc
Uỷ viên

NGUYỄN
NHƯỜNG

TIẾN Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Phó Trưởng ban

LÊ ĐĂNG DÂN

Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Uỷ viên

NGUYỄN
THỊNH
NGUYỄN
LÂM

ĐỨC Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ
Uỷ viên
ĐĂNG Trưởng phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ

PHAN ĐÌNH THI

Uỷ viên
Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Uỷ viên

LÊ THỊ AN

Phó Trưởng phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Uỷ viên


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

nước.
Để lưu lại những trang sử vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh trong suốt
chặng đường hơn 80 năm qua; đồng thời góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền
thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức biên
soạn, xuất bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008).


Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của 3 tập sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh (1926-2000), nội dung cuốn sách được trình bày một cách khái quát,
nhưng có hệ thống về chặng đường hơn 80 năm đầy vinh quang và gian khổ của
Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới
toàn diện, sâu sắc và triệt để do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo và đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Chắc chắn cuốn sách sẽ là nguồn tư liệu quý để tuyên truyền, giáo dục truyền thống
yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần cách mạng cho các thế hệ người Việt
Nam nói chung, người Bắc Ninh nói riêng, nhằm tiếp tục xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng trong quá trình sưu tầm và biên soạn, song cuốn sách khó tránh khỏi còn thiếu
sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau được
hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 8 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Lời giới thiệu
Phần mở đầu



Thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Bắc Ninh đặt dưới sự quản lý
của Ủy ban hành chính Bắc Bộ, rồi Ủy ban hành chính Liên khu I, Liên khu Việt
Bắc. Để thuận lợi cho việc chỉ đạo, quản lý, Quốc hội, Chính phủ đã quyết định
điều chỉnh địa giới các huyện, xã của tỉnh Bắc Ninh như sau: Tháng 8-1950, huyện
Gia Lương ra đời trên cơ sở hợp nhất Gia Bình và Lang Tài; tháng 4-1961, huyện
Gia Lâm cùng một số xã của các huyện Thuận Thành, Tiên Du, Từ Sơn thuộc tỉnh
Bắc Ninh được chuyển giao về Hà Nội. Tháng 10-1962; huyện Quế Võ ra đời trên
cơ sở hợp nhất Quế Dương và Võ Giàng; tháng 3-1963, huyện Tiên Sơn ra đời, sau
khi Tiên Du, Từ Sơn đã chuyển một số xã sang Gia Lâm và Đông Anh; xã Đông
Thọ, xã Văn Môn chuyển sang Yên Phong, nhận của Yên Phong hai xã Tương
Giang và Phú Lâm và từ Quế Võ hai xã Khắc Niệm và Võ Cường.
Ngày 27-10-1962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, với 14 huyện, 2 thị xã. Ngày 01-4-1963, đơn vị hành
chính mới chính thức đi vào làm việc.
Sau 1/3 thế kỷ hợp nhất, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, ngày 6-11-1996 đã ra
Quyết định phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 1-1-1997,
tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Thị xã Bắc Ninh
trở thành thị xã tỉnh lỵ. Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên gần 822,7 km 2 với 1 thị
xã, 5 huyện, có 123 xã, phường, thị trấn; dân số 925.997 người, là tỉnh có mật độ
dân số cao (1.163 người/km2).
Sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập, để thuận lợi cho việc chỉ đạo, Quốc hội, Chính
phủ đã quyết định điều chỉnh địa giới các huyện, xã của tỉnh Bắc Ninh như sau: Tại
Nghị định số 68/1999/NĐ-CP ngày 9-8-1999, Chính phủ quyết định chia tách
huyện Gia Lương thành hai huyện Lương Tài và Gia Bình; tách huyện Tiên Sơn
thành huyện Từ Sơn và Tiên Du. Tháng 4- 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định số 37/2002/NĐ-CP thành lập đơn vị hành chính phường Suối Hoa, thị xã
Bắc Ninh và thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình. Tháng 1-2006, Thủ tướng Chính
phủ ban hành Nghị định số 15/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Bắc Ninh. Ngày
24-9-2008, thị xã Từ Sơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của

Võ. Đây là loại đất nguyên dạng phù sa sông Hồng, tỷ lệ mùn cao, dinh dưỡng khá,
phù hợp với nhiều loại cây trồng cho năng suất cao. Nước sông Đuống đậm đặc
phù sa nên hệ thống thủy lợi, thủy nông lấy nước tưới cho lúa, màu rất tốt. Sông
Thái Bình hợp lưu ba dòng Đức: Thiên Đức (Đuống), Nguyệt Đức (Cầu), Nhật Đức
(Thương), bắt đầu từ Phả Lại đến cửa Vạn Úc, dài 93 km, trong đó có 10 km hữu
ngạn chảy qua Gia Lương, lòng sông rộng 300m-400m, độ sâu trung bình mùa cạn
cũng đến 8-9m, rất thuận lợi cho giao thông đường thủy.
Hệ thống sông nhỏ, sông nội đồng phân bố khá dày đặc. Sông Ngũ Huyện Khê sông Thiếp, từ Đông Anh đổ xuống, chảy vào sông Cầu tưới tiêu cho một vùng
đồng ruộng rộng lớn thuộc các huyện Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ. Sông Tiêu
Tương khởi đầu từ Phù Lưu (Tiên Sơn), sông Ngụ (Gia Lương), sông Dâu (Thuận
Thành) đều rất hữu ích cho nền nông nghiệp lúa nước.
Toàn bộ địa phận Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình
hàng năm là 23,50C, lượng mưa đạt 1.100 mm-1.200 mm/năm, có năm lên 1.800
mm/năm. Độ ẩm trung bình là 82,5%. Khí hậu Bắc Ninh thuận lợi cho việc sinh
trưởng của lúa, màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và luân canh tăng vụ.


Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng, được hình thành trên trầm tích sa bồi, với loại đất
chủ yếu là phù sa. Đồng đất và khí hậu tạo cho nhân dân trong tỉnh sản xuất ra loại
thóc gạo ngon nhất, xứng đáng với lời ngợi ca: Đạm thực diệc giai Kinh Bắc (cơm
Kinh Bắc ăn nhạt cũng ngon).
Từ xa xưa, nhân dân Bắc Ninh đã sớm chú ý đến sản xuất vật phẩm tiêu dùng, tiểu
thủ công nghiệp. Hệ thống làng nghề xuất hiện sớm như gò đúc đồng (Đề Cầu, Đại
Bái, Quảng Bố, Trang Liệt), đồ hàng sắt (Đa Hội, Đông Xuất, Ân Phú, Việt Yên,
Thị Cầu, Nga Hoàng), đồ gốm (Bát Tràng, Phù Lãng), dệt vải lụa (Nội Duệ, Lũng
Giang, Duệ Đông, Tiêu, Hồi Quan, Xuân Ổ, Tam Tảo, Tam Sơn, Yên Phụ, Phù
Ninh, Thống Thiện, Thượng Mão, Lãng Ngâm, Bà Dương, Tuyên Bá, Lĩnh Mai,
Ngọc Trì), nung gạch ngói (Xuân Ổ, Vĩnh Kiều, Tấn Bào, Tiêu Sơn, Lũng Giang),
chạm đồ gỗ (Hương Mạc, Kim Thiều, Phù Khê), đồ sơn mài (Đình Bảng, Nội Trì,
Lam Cầu, Phù Dực, Định Cương), cày bừa (Đông Xuất), giấy dó (Xuân Ổ, Phong

Hương La. Sau đó các nhà truyền giáo tiếp tục dựng thêm cơ sở ở Phượng Mao,
Phong Cốc (Quế Dương), Xuân Hòa, Quả Cảm (Võ Giàng), Ngô Khê, Đông Tảo
(Yên Phong), Dũng Vi (Tiên Du), Cẩm Giang (Từ Sơn), Ngăm Điền (Gia Bình).
Nho giáo và Hán học vào Bắc Ninh từ đầu Công nguyên 5), để từ đó lan tỏa đi khắp
đất nước. Tuy nhiên đến thời nhà Lý, Nho giáo và Hán học mới được phát triển.
Suốt chặng đường 826 năm (1075-1901), tham gia thi cử tại nơi cửa Khổng, nho sĩ
Bắc Ninh đã giành nhiều vị trí hàng đầu cả về số lượng và học vị.
Xứ Kinh Bắc có gần 700 người đỗ đại khoa. Có trạng nguyên khai khoa Lê Văn
Thịnh, quê xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. Khoa Mậu Thân (1508), nho sĩ Bắc
Ninh chiếm giải Tam khôi: trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, người xã Hương
Mạc, huyện Đông Ngàn; bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh, người xã Như Nguyệt, huyện
Yên Phong; thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm, người xã Phúc Khê, huyện Đông
Ngàn. Ở xã Hoài Bão, huyện Tiên Du có Nguyễn Đăng Hạo thi hương, thi hội, thi
đình, thi đông các đều đỗ đầu. Sau đó Nguyễn Đăng Hạo đi sứ, nổi tiếng ở nước
Tàu, được vua nhà Thanh phong tặng là khôi nguyên. Em trai là Nguyễn Đăng
Minh đỗ cùng bảng và cháu gọi bằng chú là Nguyễn Đăng Đạo đỗ trạng nguyên.
Gia đình Nguyễn Đăng là một vọng tộc ở huyện Tiên Du - trạng nguyên Nguyễn
Đăng Đạo 6) đi sứ, thông minh, tài giỏi kiệt xuất được phong lưỡng quốc trạng
nguyên, Khi Nguyễn Đăng Đạo mất được vua ban cờ và câu đối:
Tiến sĩ thượng thư thiên hạ hữu
Trạng nguyên tể tướng thế gian vô.
Dịch:
Thiên hạ có tiến sĩ làm chức thượng thư
Thế gian hiếm trạng nguyên lại là tể tướng.
Xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn có bảng nhãn Ngô Đạm với chức hàn lâm thi thư,
dự hội Tao Đàn được phong tước Thái Bảo. Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu là con.
Tiến sĩ Ngô Diễn và Ngô Dịch là cháu ông. Cha truyền con nối hiển đạt, là một
dòng họ danh vọng ở Đông Ngàn.
Trong biển học mênh mông suốt mấy trăm năm đó, làng Kim Đôi huyện Võ Giàng
(nay là huyện Quế Võ) nổi bật hơn cả bởi sự đồ sộ về số lượng đại khoa.

sở, đều dựng bia ghi công.
Thăng Long rồng cuộn hổ ngồi đã tạo dựng nên văn minh Đại Việt và trước hết là
nền văn minh lúa nước. Vua Lý Thái Tông đích thân đi cày ruộng “Trẫm không tự
cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất thiên hạ?” 9). “... nhân dân thiếu ăn
thì xuống chiếu khuyến nông” 10). Lại chiếu rằng: “Trâu là một con vật quan trọng
trong việc cày cấy, lợi cho người không ít. Từ nay về sau... không được giết trâu ăn
thịt, ai làm trái thì trị tội theo pháp luật” 11) và hàng năm đến vụ lúa chín, vua Lý
Thánh Tông, Lý Nhân Tông đều ngự giá kinh lý xem nhân dân gặt hái. Công việc
tu bổ đê điều chống hạn lụt cũng được các triều đại hết sức chú trọng. Nghề trồng


dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa cùng nhiều nghề thủ công mỹ nghệ phát triển mạnh
mẽ.
Mùa thu, tháng 8 năm Canh Tuất (1070) làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu
Công và Tứ Phối 12), vẽ tượng Thất thập nhị hiền 13), bốn mùa cúng tế. Hoàng thái
tử đến học ở đây.
Mùa xuân, tháng giêng năm Tân Hợi (1071), vua viết bia chữ “Phật” dài 1 trượng 6
thước đặt ở chùa Tiên Du 14).
Năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông “xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và
thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học" 15). Hán
học được mở rộng và phát triển, đào tạo cho đất nước hàng trăm ông trạng, ông
nghè, ông cống, một đội ngũ trí thức hiểu rộng tài cao.
Tháng 9 năm Nhâm Ngọ (1042), vua Lý Thái Tông xuống chiếu về việc phú thuế
của trăm họ “... lấy quá thì xử theo tội ăn trộm; trăm họ có người tố cáo được tha
phú dịch cho cả nhà trong 3 năm; người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho
bằng hiện vật thu được. Nếu quản giáp, chủ đô và người thu thuế thông đồng nhau
thu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu, nhưng có người tố cáo thì quản giáp (quản giáp là
quan châu giữ việc kinh), chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau” 16).
“Ban sách hình thư”, “... làm sách hình luật của một triều đại, để cho người xem dễ
hiểu”17), “... cho đặt cái hòm đồng ở giữa sân, để ai có nói việc gì thì bỏ thư vào

Kiệt thống lĩnh đại quân củng cố chiến tuyến sông Cầu, lũy cao, hào sâu và đóng
quân ở Yên Phụ, Đại Lâm (Yên Phong), lập căn cứ thủy quân ở Vạn Xuân (Quế
Dương). Quân sĩ nhà Tống đã bị tướng quân Lý Thường Kiệt cùng quân và dân Đại
Việt đánh cho tan tành, buộc phải giảng hòa rút chạy về nước. Cuộc xâm lược lần
thứ hai của quân Tống hoàn toàn bị thất bại.
“Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch:
Sông núi nước Nam, Nam đế ở
Rõ ràng phân định tại sách trời
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ” 22).
Bài thơ trên là bản anh hùng ca bất hủ, được coi là lời tuyên ngôn độc lập của nước
Đại Việt.


Bắc Ninh đã sản sinh và cung cấp cho đất nước một đội ngũ trí thức tài đức, hiểu
rộng biết nhiều, có nhãn quan tinh tế. Họ là nhà ngoại giao, nhà thơ, nhà quản lý
xuất sắc của đất nước.
Trong dòng văn học thành văn bằng chữ Hán - còn gọi là văn học Hán học, dòng
thơ thiền với tên tuổi của Nguyễn Học, Thiền Lão, Lâm Khu, Tô Minh Trí (Yên
Phong), Vạn Hạnh, Đàm Cứu Chỉ, Phạm Thường Chiếu, Vương Minh Thiềm, Lý
Ngọc Kiều (Từ Sơn), đã đem vào thi ca sự khoáng đạt, những tâm niệm về nhân
sinh với những nét đặc sắc Việt Nam.
Đội ngũ văn nhân thi sĩ Bắc Ninh vào thời Lê đã để lại nhiều ấn phẩm có giá trị: Vũ
Mộng Nguyên với Vị khê thi tập; Nguyễn Thiên Tích có Tiên Sơn thi tập; Đào Cừ,
Đàm Văn Lễ cùng biên soạn Thiên Nam dư học tập; Thái Thuận có Lã Đường thi

Lên mây chín tầng hận chưa cao”.
Cuối thời Hùng Vương, nhà nước Âu Lạc ra đời với Cổ Loa thành kiên cố và nỏ
liễu phòng chống giặc ngoại xâm. Tác giả của các công trình quân sự này là Cao
Lỗ, quê ở Tiểu Than (Vũ Ninh). Nhờ đó, vào năm 218 trước Công nguyên, quân
đội Âu Lạc đã giành được thắng lợi quan trọng. Tướng nhà Tần là Đồ Thư bị giết.
Mấy chục vạn quân Tần phải rút lui.
Đến tháng 11 năm 210 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng chết ở Sa Khâu, lợi
dụng cơ hội ấy Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân vào Âu Lạc nhưng bị đánh bại,
bèn tìm cách đánh cắp bí mật quân sự của Cao Lỗ chiếm cao điểm Tiên Du tấn
công Cổ Loa.
Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà bất ngờ tấn công, chiếm được Cổ Loa. Đất
nước Âu Lạc rơi vào tay kẻ thù phương Bắc.
Thâu tóm được Âu Lạc hơn 60 năm thì nhà Triệu bị Tây Hán tiêu diệt. Đến đầu
Công nguyên, nhà Đông Hán lên thay, vùng đất Bắc Ninh thuộc quận Giao Chỉ.
Dưới sự cai trị của thái thú Tô Định, cuộc sống nhân dân vô cùng khổ cực.
Không cam chịu kiếp sống nô lệ, mùa xuân năm 40, cuộc khởi nghĩa Mê Linh do
Trưng Trắc, Trưng Nhị lãnh đạo bùng nổ, nhân dân địa phương đã vùng đứng dậy
hưởng ứng với những tên tuổi như Nguyệt Thai, Nguyệt Độ, Ả Lã - Rộng Nhị, Ả
Tắc - Ả Dị, Diệu Tiên - Pháp Hải, Doãn Công- Đào Nương và hàng chục danh
tướng khác. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc khởi nghĩa Mê Linh đã giành thắng
lợi. Luy Lâu, Long Biên và 63 thành trì khác được giải phóng. Bản anh hùng ca bất
diệt của một thời vô cùng oanh liệt, những tấm gương anh dũng vô song của phụ nữ
Bắc Ninh ngàn năm còn ngời sáng.
Liền trong mấy thế kỷ, nhân dân địa phương phải sống dưới ách thống trị của nhà
Ngô, nhà Tần, nhà Tề, nhà Đường. Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, đã nhận
được sự hưởng ứng kịp thời của Tuy Ông (Lập Ái, Gia Bình); Nguyễn Thi, Nguyễn
Quảng, Nguyễn Vân (Đông Côi, Thuận Thành); Trương Hống, Trương Hát (Vân
Mẫu, Quế Dương) cùng nhiều hào trưởng khác như Tinh Thiều, Triệu Túc, Phạm
Tu, Lý Phục Man... Sau khi chiếm được lỵ sở Giao Châu, ông lên ngôi lấy hiệu là
Lý Nam Đế, lập nước Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên 24).

Châu.
Mùa xuân năm 1076, tại chiến tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt cùng quân và dân
Đại Việt đã đập tan cuộc xâm lược lần thứ hai của quân nhà Tống.
Cuối thế kỷ XIII, dưới triều Trần, Bắc Ninh lại trở thành hướng chính của cuộc
xâm lược do quân Nguyên tiến hành vào năm 1285 và 1288. Với khí thế của Hội
nghị Bình Than, nhân dân địa phương đã hăng hái tham gia xây dựng phòng tuyến
từ Phả Lại đến Châu Cầu, Lãm Sơn, Nghi Vệ, Phật Tích. Hơn 1.000 chiến thuyền


được điều đến đóng giữ ở Bình Than, Vạn Tải và Vũ Dương. Lý Nương tập hợp
được nhiều dân binh ở xã Xuân Ổ. Châu Nương quê ở Đình Bảng cùng chồng là
Trần Thái Bảo đã lập được nhiều chiến công ở Châu Hoan và gìn giữ kho tàng tại
Thăng Long.
Cuối năm 1327, nửa triệu quân Nguyên lại tràn vào Đại Việt. Nhân dân Đại Than,
Bình Than, Châu Cầu, Thất Gian, Phù Than, Tiểu Than, Văn Than, Cao Trụ, Bà
Dương đã tham gia lấp cửa Đại Than góp phần vào chiến thắng kẻ thù lần thứ ba,
giữ vững nền độc lập của đất nước Đại Việt.
Nhà Trần lâm vào tình cảnh vui chơi hưởng lạc, trễ nải việc nước, nhân cơ hội ấy,
cha con Hồ Quý Ly cướp ngôi. Trước tình hình ấy, đầu năm 1407, nhà Minh phát
động cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, từ đó nhân dân nước ta phải sống trong
cảnh đô hộ của nhà Minh.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh đã thu hút nhiều thanh niên Bắc
Ninh vào hàng ngũ nghĩa quân. Ngô Đễ người Khánh Lâm (Rừng Mành) “có nhiều
chiến công, được Lê Lợi phong công thần thống lãnh đại tướng quân” 26). Nguyễn
Nghi người Dương Sơn, nhờ lập được nhiều chiến công, được phong hùng uy
tướng quân. Thành Điêu Diêu (Gia Lâm) của quân Minh bị hạ vào tháng 2 và tháng
3-1427, quân Minh do Đường Bảo Trinh chỉ huy đóng tại thành Thị Cầu buộc phải
đầu hàng, đều có sự tham gia của nghĩa quân và nhân dân địa phương Bắc Ninh.
Chiến thắng Điêu Diêu, Thị Cầu góp phần quan trọng trong sự nghiệp đánh đổ ách
thống trị của nhà Minh tồn tại 20 năm (1407-1427) ở nước ta.

động cách mạng giải phóng dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của
Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tức
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện.
___________
1.
- Phủ Thuận An gồm có: Gia Lâm, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Lang Tài.
- Phủ Từ Sơn gồm có: Tiên Du, Đông Ngàn, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong.
- Phủ Bắc Hà gồm có: Hiệp Hoà, Yên Việt, Kim Thoa, Yên Phúc.
- Phủ Lạng Giang gồm có: Yên Dũng, Phương Nhỡn, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục
Ngạn, Hữu Lũng.
2. Năm 1867 thành lập thêm huyện Đông Anh, cộng với 20 huyện của trấn Kinh
Bắc thành 21 huyện.
3, 4. Lê Quý Đôn: Thượng kinh phong vật chí.
5. Đền và lăng Sĩ Nhiếp - học tổ Sĩ Vương, hiện còn tại làng Tam Á, huyện Thuận
Thành.
6. Đỗ Trọng Vĩ: Bắc Ninh Dư địa chí, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997, tr.
68.
7. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, t.1, tr.249.
8. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr. 249 - 250.


9, 10, 11. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.190, 191, 214.
12. Tứ Phối tức là: Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của
Khổng Tử được thờ phụ với thầy ở Văn Miếu.
13. Thất thập nhị hiền: 72 học trò giỏi của Khổng Tử.
14. Chùa Tiên Du: ở núi Tiên Du thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, còn có tên
là núi Phật Tích, lại có tên là núi Lạn Kha (do truyền thuyết nói Vương Chất vào
núi đốn củi, chống cán rìu xem hai ông già đánh cờ, tan cuộc nhìn lại thấy cán rìu
đã mục nát).
15. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd.

Bắc Ninh là một tỉnh có phong trào cách mạng sớm. Ngay từ những năm 20 của thế
kỷ XX, nhiều thanh niên, học sinh yêu nước đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin,
giác ngộ cách mạng, trở thành những lãnh tụ xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt
Nam, như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt…
Hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bắc Ninh luôn đoàn kết, khắc
phục khó khăn, vượt qua thử thách, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong
đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới.
Để tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân, ngay sau khi tái lập tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời đã có chủ trương và
thành lập Ban Chỉ đạo biên soạn, xuất bản Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Sau gần
10 năm (1997-2005) nghiên cứu, biên soạn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xuất bản 3
tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2000).
Năm 2010, có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long - Hà Nội, Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh tổ chức biên soạn, bổ sung
và tái bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008) trên cơ sở kế
thừa những kết quả nghiên cứu và nội dung của 3 tập Lịch sử Đảng bộ đã xuất bản
và biên soạn tiếp giai đoạn 2001-2008.
Cuốn sách được hoàn thành là kết quả sự chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, trách nhiệm cao của tập thể Ban chỉ đạo, Ban biên soạn và sự động
viên giúp đỡ của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh qua các thời kỳ
cùng đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Bắc Ninh chân thành cảm ơn sự phối hợp, giúp đỡ và đóng góp quý báu đó.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn và biên tập, song cuốn sách khó
tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để
lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926-2008)
với bạn đọc.
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẮC NINH

gái điếm; triệt để sử dụng bộ máy quản lý làng, xã cũ bằng cách tiến hành các đợt
cải lương hương chính vào các năm 1921-1927, nhằm ru ngủ tinh thần dân tộc
trong nhân dân ta, nhất là thế hệ thanh niên.
Chưa hoàn toàn yên tâm ở những biện pháp vô hình nhưng hữu hiệu kể trên, thực
dân Pháp còn áp đặt lên Bắc Ninh một bộ máy quân sự đồ sộ với doanh trại của
Tiểu đoàn pháo thủ số 3 Bắc Kỳ trong thành Bắc Ninh, đại bản doanh của Lữ đoàn
4 Quân khu miền đông ở Thị Cầu - Đáp Cầu, cùng nhiều trại lê dương, trại pháo
thủ và sân bay Gia Lâm.


Thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất, thực dân Pháp
đua nhau nhảy vào cướp đất, lập đồn điền. Tính đến năm 30 của thế kỷ XX, toàn
tỉnh Bắc Ninh có 23 đồn điền, chiếm 13.271 ha, có ở hầu hết các huyện như Mácty
(Marty), Loady (Loisy) ở Gia Lâm; Poanớp (Poineuf), Giônétcô (Jonesco) ở Quế
Dương; Bracôni (Broconir), Luít (Louis), Lôi (Lauise) ở Võ Giàng; Đôloóc
(Dolorge) ở Gia Bình... Ngoài ra còn phải kể đến một số đồn điền của địa chủ kiêm
tư sản người Việt như Vũ Văn An (ở Yên Phong), Nghiêm Xuân Quảng (ở Gia
Lâm), Trần Văn Tư (ở Từ Sơn), Trần Quang Huy (ở Thuận Thành), Hàn Sĩ Thiện
(ở Gia Bình), Nguyễn Huy Tường, Nguyễn Huy Oanh (ở Lang Tài), Phùng Văn
Quân, Ngô Đình Bách, Nguyễn Bất (ở Quế Dương).
Hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ, đường sắt và đường không trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh cũng được thực dân Pháp chú trọng mở mang. Đường thuộc địa số 1
được làm năm 1885 với các đoạn đường số 55 (Gia Lâm - Đáp Cầu), đường số 60
(Đáp Cầu - Lạng Sơn). Các tuyến Gia Lâm - Hải Phòng, Bắc Ninh - Phả Lại, Bắc
Ninh - Hải Dương, Bắc Ninh - Đò Lo cũng lần lượt được xây dựng. Nơi đây còn là
đầu mối của các tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội - Hải Phòng, Hà
Nội - Vân Nam tại các giao điểm Gia Lâm, Yên Viên. Về đường thủy, “Đáp Cầu là
một thành phố tương lai và sẽ là trung tâm thương mại người Âu châu của tỉnh, nhờ
có mực nước sâu nên tàu thuyền buôn bán có thể ra vào” 1). Giang cảng này có cả
khách sạn hạng sang, có chi nhánh của hãng sửa chữa và đóng tàu SACRIC

Giai cấp công nhân Bắc Ninh được hình thành qua nhiều thời kỳ trên những lĩnh
vực khác nhau (xây dựng đường bộ, làm đường sắt, lập bến cảng, làm thuê cho
hãng cầu Lơroa ở Đáp Cầu hoặc làm trong các nhà máy gạch, khuy, giấy, sơn, điện,
sửa chữa xe lửa, v.v.). Chưa tính đến công nhân áo nâu ở các đồn điền, cả tỉnh có
5.000-6.000 công nhân ở các nhà máy. Tầng lớp tiểu tư sản phát triển khá nhanh về
số lượng, họ bao gồm thị dân, thợ thủ công và giới trí thức, cư trú chủ yếu ở thành
thị, mang trong mình dòng máu yêu nước lại nhạy bén, năng động nên đã trở thành
lớp người đầu tiên tiếp xúc với tư tưởng tiến bộ, đóng vai trò to lớn trong việc
truyền bá những tư tưởng đó vào nhân dân.
Những biến đổi về mặt kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội Bắc Ninh có một giá
trị nhất định trong việc hình thành và phát triển các trào lưu tư tưởng và các phong
trào chính trị lúc đó.
Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa dân tộc bản xứ ở các
nước thuộc địa chính là động lực vĩ đại chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa
thực dân phương Tây.
Điều đó hoàn toàn đúng vì ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, sự chuyển đổi
phương thức đấu tranh của khởi nghĩa nông dân Yên Thế đã tạo tiền đề cho sự phát
triển các phong trào cách mạng sau này. Tiếp theo đó, dòng giáo dục yêu nước do
Đông Kinh Nghĩa Thục khởi xướng, với các yếu nhân Bắc Ninh như Nguyễn
Quyền, Hoàng Tích Phụng, Nguyễn Cảnh Lâm, Nguyễn Văn Đảng, Nguyễn Phát
Hoành. Các hoạt động chính trị công khai của họ đã tạo ra nét đặc sắc của thời đại
cách mạng tư sản dân quyền. Cuối cùng sự tiếp bước của Phó Đức Chính, Lương
Ngọc Tốn, Nguyễn Văn Viện trong tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng đã chỉ rõ
những điều kiện xã hội Việt Nam, khi tư tưởng cách mạng từ bên ngoài đưa vào đã
được các trí thức tiểu tư sản tiếp thu tạo ra vị trí xứng đáng trong tầng lớp tư sản,
trong cách mạng dân chủ tư sản.
Phong trào đấu tranh cách mạng đã xuất hiện những xu hướng mới tại Bắc Ninh,
tiếp tục chuyển mình khi tầng lớp trí thức tiểu tư sản tiếp cận với ánh sáng của chủ
nghĩa Mác-Lênin. Sự đàn áp nặng nề và tàn khốc của kẻ thù, những thủ đoạn bóc
lột dã man và tinh vi cộng với sự mê hoặc về chính trị và tinh thần mà thực dân

được tham dự lớp huấn luyện ở

Ngô Gia Tự học cùng với Nguyễn Tuân ở trường Bưởi (Hà Nội) và cũng bị đuổi
học vì tham gia bãi khóa. Ngay sau đó, Ngô Gia Tự trở về quê vừa dạy học vừa tự
học để thi lấy bằng tú tài, tham gia nhiều hoạt động của địa phương, được Nguyễn
Công Thu đánh giá cao, kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cuối
năm 1926 tại số nhà 47 Trần Nhân Tông, Hà Nội, cùng sinh hoạt với Trịnh Đình
Cửu, Trần Tích Du, Trần Tích Dương. Đầu năm 1927, Ngô Gia Tự được cử đi dự
lớp huấn luyện ở Bản Đáy. Sau hai tháng, Ngô Gia Tự được cử về hoạt động ở Bắc
Ninh.
Ngoài ra, Nguyễn Quốc Huy, bạn học của Ngô Gia Tự, cháu nhà chí sĩ Nguyễn
Cảnh Lâm, cũng trưởng thành từ cái nôi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cuối
năm 1926.


Từ những thành phần xuất thân khác nhau, lớp thanh niên trí thức kể trên sau khi
tham dự các lớp huấn luyện của Tổng bộ, được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên đều tán thành và đến với chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, chính
nguồn gốc ấy, cộng với môi trường sinh ra và lớn lên đã chi phối mạnh mẽ quá
trình hoạt động và cống hiến của từng người.
Những hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của Bắc Ninh được đào tạo
ở Quảng Châu, Bản Đáy và trưởng thành ở trong nước, cùng với sách báo do Tổng
bộ xuất bản thực hiện được nhiệm vụ trọng đại là tuyên truyền tư tưởng cách mạng,
tổ chức quần chúng để đưa họ vào trường đấu tranh. Nhờ các nỗ lực ấy, chủ nghĩa
Mác - Lênin được truyền bá vào địa phương một cách hiệu quả, thu hút và quy tụ
tất cả các giai tầng xã hội, đặc biệt là giai cấp công - nông dưới ngọn cờ của mình
chiến đấu cho mục đích cao cả, nguyện vọng tha thiết của dân tộc là giải phóng đất
nước, giành lại nền độc lập, tự do.
Quán triệt và thấm nhuần phương pháp vận động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc, trong một thời gian ngắn và giữa năm 1927, bốn chi hội của Hội Việt

Như vậy, phương pháp gây dựng cơ sở phát triển, phong trào cách mạng của Ngô
Gia Tự, Nguyễn Tuân đều bắt đầu từ nơi mình sinh ra, đã quen thung thổ và tính
cách con người. Họ chú trọng đến thành phần công - nông, tuy hầu hết đều xuất
thân từ gia đình khá giả. Số hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là thanh
niên, học sinh chiếm số lượng cao nhất.
Do những đòi hỏi cấp bách của phong trào cách mạng trong tỉnh và các điều kiện
để thành lập Tỉnh hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đủ, tháng 7-1927, Tỉnh
hội Bắc Ninh được thành lập gồm 3 người (Nguyễn Tuân - Bí thư, Ngô Gia Tự và
Nguyễn Hữu Căn) 4), đảm nhận cả việc gây dựng cơ sở và phong trào cách mạng ở
Bắc Giang.
Cùng với thời điểm này, thông qua Nguyễn Quốc Uy, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên Bắc Kỳ đã cử Dương Hạc Đính phát triển chi hội Phật Tích
(Nguyễn Thị Minh - Bí thư, Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Thủy và Nguyễn Văn
Tụ). Chi hội Hoài Bão (Nguyễn Duy Bình - Bí thư, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn
Văn Dị, Lê Hữu Đông, Nguyễn Duy Đạt, Nguyễn Quang Đản, Nguyễn Đăng Kỳ).
Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1927, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện 6
chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, với khoảng 40 hội viên có mặt ở thị xã
Bắc Ninh, huyện Tiên Du, huyện Võ Giàng và phủ Từ Sơn. Các cán bộ cốt cán như
Ngô Gia Tự, Nguyễn Tuân, Nguyễn Hữu Căn, Nguyễn Quốc Uy và Dương Hạc
Đính đã lăn lộn với phong trào để ươm trồng và phát triển các hạt giống cách mạng
ở vùng đất giàu truyền thống yêu nước và văn hiến.
Sang năm 1928, một trong những nhiệm vụ cấp bách và cần kíp của Tỉnh hội Bắc
Ninh là phải xây dựng bằng được cơ sở ở phủ Lạng Thương - trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa của tỉnh Bắc Giang. Thực hiện nghị quyết trên, Nguyễn Trọng
Ngọc và Nguyễn Hữu Căn đã kết nạp được một số hội viên, lập ra chi hội phủ Lạng
Thương do Trịnh Hữu Chiêm làm Bí thư và Uỷ viên gồm có Trịnh Thị Uyển, Trịnh
Thị Nhu (em gái Trịnh Hữu Chiêm - quê ở Thọ Xương), Dương Văn Phái (quê ở
Nội Hoàng - Yên Dũng trọ học ở Châu Xuyên), Khổng Văn Quỳ, quê ở Châu
Xuyên, Nguyễn Văn Mẫn quê ở thành Tiền Môn - phủ Lạng Thương. Kỳ bộ Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ quyết định thành lập Tỉnh hội Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status