ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
ĐINH THỊ DUYẾN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH
VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN DÂN CA
QUAN HỌ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUANG LIỆU
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
ĐINH THỊ DUYẾN
CHỦ TRƢƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH
VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN DÂN CA
QUAN HỌ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
huy di sản dân ca Quan họ từ năm 2006 đến năm 2011. ................................. 61
2.2.1. Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. ............... 61
2.2.2. Kết quả đạt được .................................................................................... 65
Chƣơng 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu. .................... 75
3.1. Nhận xét chung ......................................................................................... 75
3.1.1. Thành tựu ............................................................................................... 75
3.1.2. Hạn chế .................................................................................................. 80
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu. .................................................................... 83
3.2.1. Kinh nghiệm về chỉ đạo. ......................................................................... 83
3.2.2. Kinh nghiệm về thực hiện....................................................................... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 97
PHỤ LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Quang Liệu. Các tài liệu, số liệu được
sử dụng trong luận văn trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có
nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2014
Tác giả luận văn
Đinh Thị Duyến
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
VHTT&DL
Văn hóa, Thể thao & Du lịch
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ trương xây dựng một “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc” là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta về văn hóa nhằm khẳng
định vị trí của văn hóa truyền thống Việt Nam trong xu thế hội nhập. Thực
hiện chủ trương đó, văn hóa được xem là nền tảng tinh thần của xã hội, là
mục tiêu, động lực để phát triển kinh tế, xã hội. Báo cáo chính trị của Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng một lần nữa khẳng định “Đẩy mạnh
việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa làm cho văn hóa thấm sâu vào
từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con
người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc, tăng sức đề
kháng chống những văn hóa phẩm đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hóa
trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và hoạt động của nhân dân”.
Một trong những nội dung quan trọng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
thông qua tại Đại hội XI Đảng ta đã nêu lên định hướng về văn hóa với nội
đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn
hóa ở nước ta.
Hiện nay, di sản văn hóa ở nước ta bao gồm các giá trị văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể. Là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể, dân ca
Quan họ Bắc Ninh đã ra đời từ nhiều thế kỷ trước và phát triển cho đến nay.
Với ý nghĩa là vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
đã chú trọng quan tâm đầu tư và phát triển loại hình di sản văn hóa này. Sau
gần 5 năm (2005-2009) triển khai lập hồ sơ khoa học đề cử di sản, ngày
30/9/2009, tổ chức Văn hóa - Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc
(UNESCO) đã công nhận dân ca Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại. Sau sự kiện này, vấn đề đặt ra bức thiết là chúng ta
2
sẽ giữ gìn, phát huy loại hình văn hóa này như thế nào để nó sống mãi với
cộng đồng. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản dân ca Quan họ là
một chương trình hành động Quốc gia, cần đến sự chung tay của cả cộng
đồng”. Với lí do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh về bảo tồn và phát huy di sản dân ca Quan họ từ năm 2001 đến năm
2011” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Bắc Ninh - mảnh đất “ngàn năm văn hiến” không chỉ được biết đến là
một kho tàng di tích lịch sử - văn hóa phong phú và đặc sắc mà còn là nơi ghi
dấu đậm nét những yếu tố sinh hoạt văn hóa mang tính truyền thống của dân
tộc Việt Nam tiêu biểu là dân ca Quan họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại. Vì thế, từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về đề tài này, có thể chia ra thành 2 mảng đề tài chính:
Thứ nhất, mảng đề tài viết về quê hương Kinh Bắc - Bắc Ninh với
nhiều sắc thái văn hóa khác nhau: Năm 1982, cuốn Địa chí Hà Bắc của tác
sức kỹ lưỡng trong hơn 20 năm.
Năm 2006, Viện Văn hóa – Thông tin kết hợp với Sở Văn hóa – Thông
tin Bắc Ninh tổ chức Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã
hội đương đại (qua trường hợp Quan họ ở Bắc Ninh, Việt Nam)”. Sau cuộc
hội thảo lớn này, tập kỷ yếu “Không gian văn hóa Bắc Ninh - Bảo tồn và phát
huy” được xuất bản tập hợp hơn 50 tham luận của rất nhiều tác giả trong và
ngoài nước. Hội thảo đã nêu bật được nội dung, lề lối sinh hoạt dân ca Quan
họ, nghệ thuật âm nhạc Quan họ, đặc biệt hội thảo nhấn mạnh tới sự tồn tại
của Quan họ trong xã hội hiện đại và phương hướng bảo tồn, phát huy các giá
trị của dân ca Quan họ trong trong xã hội ngày nay. Đây thực sự là nguồn tư
liệu quý giá, xem xét, đánh giá mọi khía cạnh của dân ca Quan họ một cách
sâu sắc và toàn diện nhất. Cùng thời gian này, cuốn sách “Vùng văn hóa quan
4
họ Bắc Ninh” đã ra mắt công chúng. Đây là kết quả của chương trình hợp tác
giữa Bộ Văn hóa - thông tin và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh xây dựng bộ
hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận Quan họ Bắc Ninh là kiệt tác di sản
truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.
Bên cạnh đó còn phải kể đến một số bài viết: Hai tác giả Bùi Quang
Thanh và Phạm Thanh Nam có bài “Có một vùng Quan họ bắc sông Cầu”;
Tác giả Nguyễn Trọng Ánh với bài viết “Hệ thống làn điệu trong dân ca
Quan họ Bắc Ninh”; Tác giả Dương Anh với bài “Tính khép mở trong dân ca
Quan họ Bắc Ninh”. Các tác giả Nguyễn Đình Bưu trong Bàn thêm về Quan
họ; Nguyễn Tiến Chiêu - Tìm hiểu nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh; Lê Thị
Chung - Tìm hiểu lối chơi Quan họ qua làng Quan họ Diềm; Lê Danh Khiêm
- Những tiêu chí xác định làng Quan họ và danh sách những làng Quan họ
gốc và Quan họ hội Lim - truyền thống và hiện đại; Đặng Văn Lung - Về hai
chữ “Quan họ” và Hình thức sinh hoạt dân ca Quan họ đã phát triển đến độ
+ Phân tích hệ thống các chính sách của Đảng bộ Bắc Ninh về bảo tồn,
phát huy di sản dân ca Quan họ từ năm 2001 đến năm 2011.
+ Đúc kết một số kinh nghiệm về hoạch định và thực thi chính sách bảo
tồn và phát huy di sản dân ca Quan họ trong giai đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy
di sản dân ca Quan họ từ năm 2001 đến năm 2011.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những chủ trương, đường lối, quan điểm
của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với công tác bảo tồn và phát triển di sản dân
ca Quan họ.
- Thời gian: từ năm 2001 đến năm 2011.
- Không gian: tỉnh Bắc Ninh
6
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Nguồn tài liệu
- Nguồn tư liệu sơ cấp: được khai thác từ các cơ quan lưu trữ, các văn
kiện, nghị quyết của Trung ương Đảng; các văn kiện, nghị quyết của Tỉnh ủy
Bắc Ninh trong giai đoạn 2001 - 2011.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: được khai thác từ các công trình nghiên cứu
liên quan (báo, tạp chí, đề tài khoa học, chuyên khảo).
- Nguồn tư liệu hồi cố: được khai thác từ các nhân chứng lịch sử.
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là các phương pháp tiếp cận chung
liên ngành gồm có phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp hệ
thống và một số phương pháp hỗ trợ khác như khai thác tài liệu, xử lý thông
tin, thống kê.
Chƣơng 1:
Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn, phát
huy di sản dân ca Quan họ từ năm 2001 đến năm 2005
1.1. Tình hình bảo tồn, phát huy di sản dân ca Quan họ trƣớc năm 2001
1.1.1. Vài nét về tỉnh Bắc Ninh.
* Điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế.
Về địa lý hành chính: Bắc Ninh là tỉnh có diện tích vùng là 823km2.
Theo điều tra dân số ngày 01/4/2009, tỉnh có 1.024.151 người. Đây là một
tỉnh có từ lâu đời, bao gồm cả quận Long Biên, huyện Đông Anh (Hà Nội),
huyện Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay. Bắc Ninh và Bắc Giang trước đây là
2 tỉnh độc lập. Ngày 06 tháng 11 năm 1996 tỉnh Bắc Ninh được tái lập theo
Nghị quyết của quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 lúc này gồm có 6 đơn vị hành
chính gồm thị xã Bắc Ninh và 5 huyện: Quế Võ, Yên Phong, Tiên Sơn, Thuận
Thành, Gia Lương.
Về địa giới hành chính: Bắc Ninh là một tỉnh thuộc khu vực phía Bắc
của vùng đồng bằng sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc Bộ tại tỉnh
Bắc Giang. Bắc Ninh là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô. Phía Tây và Tây
Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông
Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên.
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống
giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A, đường
cao tốc 18, quốc lộ 38, trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng
Sơn và Trung Quốc, mạng lưới đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái
Bình. Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao
lưu kinh tế - văn hóa với cả nước.
9
* Sắc thái văn hóa vùng Bắc Ninh
Kinh Bắc xưa - Bắc Ninh ngày nay từng là cái nôi của nền văn hóa văn
minh đất Việt. Nó tích tụ đậm đặc cả bề rộng lẫn chiều sâu của hàng ngàn
năm lịch sử với những giá trị văn hóa vô cùng độc đáo và hấp dẫn. Những
phát hiện khảo cổ học cho thấy, vùng đất này đã sớm tụ cư thành làng, thôn,
cùng với sự phát triển kinh tế rất phong phú và sầm uất. Ngược dòng lịch sử,
quê hương Quan họ có nhiều tên gọi khác nhau và địa bàn rộng, hẹp khác
nhau qua các triều đại. Từ xa xưa đã nổi tiếng một vùng Kinh Bắc, xứ sở của
Quan họ. Dưới thời Pháp thuộc, cuối thế kỉ XIX, từ ngày 10/10/1895 bắt đầu
tồn tại hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Từ năm 1963 hai tỉnh đó lại được sáp
nhập lại thành một tỉnh Hà Bắc rộng lớn. Đến năm 1997 hai tỉnh Bắc Ninh,
Bắc Giang lại được tách ra. Song nói đến xứ Bắc - Kinh Bắc thì tỉnh Bắc
Ninh ngày nay là địa bàn cốt lõi, trung tâm của xứ Bắc - Kinh Bắc xưa.
Trải chiều dài lịch sử, Kinh Bắc - Bắc Ninh có vị thế và vai trò đặc biệt
quan trọng trong lịch sử dân tộc. Đó là mảnh đất vốn là một trong những cái
nôi sinh thành của dân tộc Việt, trung tâm diễn ra cuộc đấu tranh lâu dài và
khốc liệt của dân tộc chống xâm lược và đồng hóa trong suốt thiên niên kỷ
đầu công nguyên. Nơi đây là quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế triều đại mở đầu nền văn minh Đại Việt. Kinh Bắc - Bắc Ninh còn là một
vùng đất lịch sử của những anh hùng, cội nguồn của văn hóa - văn minh Đại
Việt, đồng thời cũng là vùng đất cổ, giàu truyền thống văn hiến, hiếu học,
khoa bảng. Văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc phong phú và đặc sắc được thể hiện
qua những công trình kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử - văn hóa, phong tục tập quán, các sinh hoạt văn hóa dân gian.
Là nơi du nhập Phật giáo đầu tiên và đã từng là một trung tâm Phật
giáo quan trọng của nước ta từ đầu công nguyên, trung tâm Phật giáo Luy Lâu
có sự kết hợp các tín ngưỡng bản địa đã biến mảnh đất Dâu trở thành “vùng
11
“dĩ nông vi bản”. Nói đến xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh là chúng ta nói đến vùng
đất của những huyền thoại và truyền thuyết, những đình chùa, đền miếu cổ đi
vào lịch sử, là những lễ hội sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa mang tính cộng
đồng cao, là những làng nghề thủ công truyền thống cùng những sản phẩm
thủ công đặc sắc, đặc biệt nơi đây đã hội tụ, sản sinh ra dân ca Quan họ Bắc
Ninh - một loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo và tiêu biểu trong các hình
thức diễn xướng dân gian của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Có thể nói,
hiếm có một vùng quê nào trên đất nước lại thấm đượm truyền thống văn hóa
và hồn dân tộc như vùng đất này. Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu về di sản
dân ca Quan họ - một nét văn hóa đặc sắc và độc đáo của Bắc Ninh càng trở
thành một việc làm có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Quá trình bảo tồn, phát huy di sản dân ca Quan họ trước năm 2001.
* Nguồn gốc tên gọi “Quan họ”
Tên gọi Quan họ có nhiều cách giải thích khác nhau, có thể chia thành
hai luồng chính: người dân Quan họ truyền miệng về những cách giải thích
của làng mình và những người nghiên cứu giải thích theo sự khảo cứu của
từng người. Trước hết, theo cách giải thích của người vùng Quan họ, họ
thường giải thích bằng trí nhớ truyền miệng những truyền thuyết tồn tại lâu
đời ở làng. Người vùng Bịu (Hoài Thị, Bịu Sim, Tiên Du) và vùng Diềm
(Viêm Xá, thành phố Bắc Ninh), vốn là hai nơi kết bạn Quan họ bền vững, lâu
dài nhất cho rằng gọi là hát Quan họ vì tiếng hát ấy là tiếng hát giữa hai họ
nhà quan kết bạn với nhau [31; 17]. Truyền thuyết gắn tiếng hát với một
người có thật trong lịch sử là Trạng Bịu, tức Nguyễn Đăng Đạo, đỗ trạng
nguyên khoa 1684, người Hoài Thượng, Tiên Du, cho rằng ông có công đặt ra
cách ca hát Quan họ [32; 161].
13
Người vùng Châm Khê (Bùi Xá, Yên Phong) truyền rằng: lối hát Quan
quan viên thực sự, nhưng đến sau này, bất cứ nam hay nữ hễ ai được tôn trọng
đều được gọi là quan. Do đó, danh từ quan anh, quan chị, quan bác bắt đầu
xuất hiện…”[48; 136].
Như vậy, các tác giả cuốn sách “Dân ca Quan họ Bắc Ninh” cho Quan
họ là danh từ kép chỉ nhóm người ca hát với ý nghĩa coi trọng. Và lối hát,
tiếng hát gắn liền với tập thể gọi là Quan họ nên cũng gọi là hát Quan họ.
Thời gian gần đây, dựa vào phương pháp nghiên cứu văn bản cổ và sự
suy luận, tác giả Nguyễn Hùng Vĩ cho biết, quan họ là từ quan hộ mà ra: “Sau
khi đã tìm hiểu Quan họ trong thư tịch cũ thì hiểu từ quan họ là đơn giản. Đó
chỉ là những sinh hoạt ca hát thuộc về nhà quan, trong nhà quan, phục vụ nhà
quan [85; 25].
Nhìn chung, sự giải thích về tên gọi Quan họ thì có nhiều, tuy nhiên
chưa có cách giải thích nào có thể coi là hoàn toàn thỏa đáng. Vấn đề này còn
phải được tiếp tục nghiên cứu.
* Không gian và đặc trưng của văn hóa Quan họ:
Dân ca Quan họ là loại hình văn hóa phi vật thể. Theo các nhà nghiên
cứu văn hóa, Quan họ có từ thế kỷ XVII, bắt nguồn từ tục kết chạ giữa các
xóm làng. Về mặt sáng tạo nghệ thuật dân ca Quan họ được coi là đỉnh cao
của nghệ thuật thi ca bởi nội dung lời ca thì đặc sắc, ngôn từ thì giản dị nhưng
được chau chuốt, chọn lựa. Đây là loại hình dân ca truyền khẩu dựa trên nền
thi ca lục bát với 5 cung bậc: cung, thương, giốc, chủy, vũ, phần nhạc của
Quan họ với cung bậc vừa phải, phần lời tha thiết, đằm thắm, phản ánh tài
tình tâm tư, tình cảm của người dân trong lao động sản xuất, sinh hoạt, nhiều
lứa tuổi đều có thể tiếp thu. Số liệu thống kê cho thấy, từ đầu thế kỷ XX, dân
ca Quan họ Bắc Ninh đã được thực hành ở 49 làng, mà cộng đồng xác định đó
là những làng Quan họ cổ, trong đó có 44 làng thuộc về Bắc Ninh, 5 làng
thuộc tỉnh Bắc Giang.
15
đến Quan họ là nói đến nền văn hóa tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn
hóa nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch sử lâu dài, có nhiều tầng,
nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa, gắn bó với văn hóa, văn minh làng xã,
thu hút và biểu hiện những ước mơ, tập hợp và hành động chung cho những
nguyện vọng, những khao khát của con người xứ Bắc từ nhiều đời đối với
quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trên bình diện văn hóa xã hội. Về hình thức, sinh hoạt dân ca Quan họ Bắc Ninh đòi hỏi tính chất
quy củ, khuôn phép chặt chẽ, tuân theo lề lối nhất định thông qua nhiều hình
thức diễn xướng như: hát canh, hát hội, hát chúc, hát mừng, hát thờ…Trong
đó, hát canh và hát đối đáp là hai hình thức đặc trưng tiêu biểu và độc đáo của
dân ca Quan họ Bắc Ninh.
Theo chiều dài lịch sử, Quan họ đã sáng tạo, dung nạp, chuyển hóa,
sinh thành và đào thải trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với các
hình thức sinh hoạt văn hóa khác của địa phương, ở trong nước và các nước
láng giềng để thích nghi, đáp ứng những nhu cầu phát triển qua từng thời đại
nên giá trị nội dung, nghệ thuật của văn hóa Quan họ giàu có, phức tạp, đa
diện, phát triển và biến hóa không ngừng. Quan họ không đơn giản chỉ là một
loại hình dân ca như các loại hình dân ca khác. Quan họ là một loại hình sinh
hoạt văn hóa tổng hợp với sự cấu thành của 5 mặt hoạt động:
- Tục kết bạn Quan họ (là biện pháp sinh hoạt, giao lưu kết nghĩa, là
cách tốt nhất cho sự tồn tại, thăng hoa của Quan họ).
- Hành vi văn hóa Quan họ (là nét ứng xử nhân văn của của con người
vùng Quan họ).
- Dân ca Quan họ (là trung tâm, là đỉnh cao của đời sống văn hóa, là
phương tiện thể hiện văn hóa Quan họ qua lời ca tiếng hát).
- Lễ hội Quan họ (là môi trường thể hiện văn hóa Quan họ).
- Văn hóa tín ngưỡng Quan họ (thể hiện đức tin của con người).
17
18