B GIO DC V O TO
B VN HểA, TH THAO V DU LCH
VIN VN HểA NGH THUT QUC GIA VIT NAM
o Ngc Anh
BảO TồN Và PHáT HUY DI SảN VĂN HóA NGƯờI HMÔNG
THÔNG QUA DU LịCH CộNG ĐồNG ở BảN SíN CHảI,
HUYệN SA PA, TỉNH LàO CAI
Chuyờn ngnh: Vn hoỏ hc
Mó s: 62 31 06 40
TểM TT LUN N TIN S VN HểA HC
H Ni - 2016
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LƢƠNG HỒNG QUANG
Phản biện 1: GS.TS Lê Hồng Lý, Viện Nghiên cứu Văn hóa
Phản biện 2: TS. Hoàng Thị Điệp, Tổng cục Du lịch
Phản biện 3: TS. Đỗ Cẩm Thơ, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch
tác động từ du lịch tới truyền thống văn hóa của người H’Mông nơi đây
đặt ra yêu cầu cấp thiết phát triển du lịch cộng đồng đặt trong mục tiêu
bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tộc người.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các học giả nước ngoài
Nhà nghiên cứu Jafiri đã tập hợp các nghiên cứu về du lịch có sự
tham gia của cộng đồng và phân thành một số xu hướng phát triển chính
(Tán thành, Cẩn trọng, Thích nghi). Còn Saariemen nhìn du lịch cộng
đồng trên cơ sở phát triển bền vững dưới hai phương diện tiếp cận (bền
vững về môi trường tự nhiên và bền vững trong các hoạt động).
Nicole Hausler và Wolfgang Strasdas chú trọng đến người dân
tham gia vào các hoạt động quản lý du lịch tại địa phương và lợi ích kinh
2
tế có được từ du lịch, nhấn mạnh du lịch cộng đồng là sự phát triển bền
vững của địa điểm du lịch sinh thái và các hoạt động quản lý của cộng
đồng. Ngoài ra còn nhiều nhà nghiên cứu khác, và những đóng góp của
các học giả nước ngoài là những cơ sở quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về
cách thức phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam.
2.2. Các học giả trong nước
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn có nhiều công trình phân tích một
cách hệ thống những tác động tích cực và hạn chế của du lịch đối với đời
sống, văn hóa người H’Mông ở Lào Cai và ở Sa Pa.
Tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang nhấn mạnh yếu tố con
người là trung tâm trong phát triển cộng đồng. Tác giả Thế Đạt đã đề cập đến
du lịch sinh thái, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự
tham gia tích cực cộng đồng của cộng đồng địa phương. Một số tác giả như
Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đề cập, đưa ra các khái niệm, chính sách,
quy tắc phát triển du lịch bền vững ở những vùng du lịch miền núi. Lê Thạc
đồng tại bản Sín Chải gắn với bảo tồn văn hóa người H’Mông.
- Tổng kết kinh nghiệm, những mặt thành công và hạn chế của việc
phát triển du lịch cộng đồng trong việc bảo tồn, phát huy văn hóa tộc
người H’Mông ở Sín Chải (Sa Pa).
- Đưa ra một số khuyến nghị phát triển du lịch cộng đồng nhằm
góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa người H’Mông tại bản Sín Chải
nói riêng và văn hóa tộc người nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng và bảo tồn, phát huy giá trị di
sản văn hóa người H’Mông ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Bản Sín Chải (Sa Pa, tỉnh Lào Cai)
- Thời gian: trong 5 năm, bắt đầu từ 2009 đến 2014
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên, áp dụng lý thuyết phát
triển cộng đồng và quản lý di sản có sự tham dự làm nền tảng, nhấn mạnh
sự cân bằng các lợi ích của các bên tham gia.
Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Quan sát
tham dự, Phỏng vấn sâu, Thống kê, Phân tích tổng hợp tài liệu.
4
6. Đóng góp của Luận án
Đề tài đóng góp những luận cứ khoa học và có những quan điểm
mang tính giải pháp, nhằm bảo tồn sự đa dạng văn hóa các tộc người
trong xu thế phát triển du lịch. Thông qua trường hợp người H’Mông tại
bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cho thấy các tiềm năng văn hóa
tộc người trong hoạt động phát triển du lịch; ngược lại, du lịch đã và sẽ là
một công cụ quan trọng để bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người, nếu
Hiện nay có ba quan điểm chính về bảo tồn là bảo tồn nguyên vẹn,
bảo tồn kế thừa và bảo tồn phát triển. Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn và
Quan điểm bảo tồn kế thừa nhược điểm chung là cứng nhắc, thiếu cái
nhìn khoa học dưới góc nhìn của bảo tồn. Và quan điểm bảo tồn phát
triển là biện chứng hơn, trong số những người ủng hộ quan diểm này có
Gregory J. Ashworth.
1.2. Khái niệm văn hóa tộc ngƣời
Văn hóa là một khái niệm rộng, đa nghĩa, đa tầng. Văn hóa có tính
chủ thể, gắn với từng cộng đồng người cụ thể theo các quy mô khác nhau
và có những nét đặc trưng khác nhau.
Văn hóa tộc người là tổng thể các thành tố văn hóa, qua đó có thể
phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Các sắc thái văn hóa
được hình thành gắn với quá trình hình thành, phát triển tộc người.
1.3. Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa
Theo nhà xã hội học J.H. Fichter “Theo cách mô tả chúng ta có thể
nói rằng, tất cả những gì ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục
đối với con người hoặc nhóm, đều là có một giá trị” .
Các nhà xã hội học Việt Nam đã khẳng định rõ hơn yếu tố chủ thể
thông qua nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể “bất cứ sự vật nào
đó cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật thể hay tư tưởng, miễn là nó
được người ta thưa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc cấp
cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ…
Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng/dân tộc/quốc gia bao giờ cũng
tạo nên một hệ thống với ý nghĩa những giá trị ấy nảy sinh tồn tại trong
sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau.
1.4. Di sản văn hóa tộc người và giá trị di sản văn hóa tộc người
1.4.1. Di sản văn hóa tộc người
6
tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư;
nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
7
Luật Du lịch đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động có liên quan
đến chuyển đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong
một khoảng thời gian nhất định” .
* Khái niệm du lịch cộng đồng
Khái niệm du lịch cộng đồng có nguồn gốc xuất phát từ hình thức du
lịch tham quan làng bản vào những năm 1970. Hiện nay, có nhiều khái
niệm nhưng chưa có khái niệm chính thức. Theo Nicole Hauseler và
Wolfgang Strasdas: “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó
chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích
kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”. Theo Võ
Quế, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển dựa vào những giá trị
tự nhiên và nhân văn của cộng đồng địa phương, có sự tham gia tích cực và
chủ động của người dân nhằm đem lại lợi ích cho chính cộng đồng.
Tuy tên gọi khác nhau, nhưng các khái niệm đều có một số vấn đề
cơ bản giống hoặc tương đồng về phương pháp tổ chức, địa điểm, mục
tiêu, vị trí phát triển du lịch cộng đồng.
1.5.2. Cộng đồng và phát triển cộng đồng
Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước
thuộc địa của Anh. Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học
mang nhiều ý nghĩa khác nhau, được sử dụng một cách rộng rãi. Theo
nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ cộng đồng các quốc gia theo lãnh
thổ như cộng đồng châu Âu, châu Á... Theo nghĩa hẹp, khái niệm này
được dùng để chỉ một dạng xã hội và nhỏ hơn nữa nó được dùng để chỉ
những đơn vị xã hội cơ bản như làng, xã, gia đình..
phát triển của xã hội, cộng đồng, thậm chí gây ra những rào cản cho các
nấc thang tiếp theo.
Thực tế, không phải yếu tố văn hóa truyền thống nào cũng có thể
trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách. Việc xác lập những sản
phẩm du lịch dựa trên những yếu tố văn hóa tộc người là việc làm cần
thiết trong quá trình khai thác du lịch cộng đồng. Cần tuân thủ nguyên
tắc: tôn trọng cộng đồng cũng như những đặc trưng văn hóa của cộng
đồng với sự hài lòng, tăng tính trải nghiệm của du khách.
Tác giả đưa ra khung phân tích văn hóa tộc người và mức độ phù
hợp (phổ biến) để xây dựng trở thành một sản phẩm du lịch cộng đồng,
gồm Ẩm thực; trang phục; phương tiện giao thông; nhà ở truyền thống;
9
nghề thủ công truyền thống; âm nhạc, nghệ thuật truyền thống; tôn giáo,
tín ngưỡng; lễ hội; ngôn ngữ; hệ giá trị - chuẩn mực:
1.5.6. Du lịch cộng đồng tác động thế nào với văn hóa tộc người?
Du lịch cộng đồng như một mô hình, phương pháp tiếp cận hữu
hiệu. tạo ra những tác động tích cực đối với văn hóa tộc người nhằm tôn
vinh, phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa tộc người,
Tuy nhiên, du lịch cộng đồng cũng có thể gây ra những hệ quả dẫn
tới sự biến đổi văn hóa truyền thống cũng như cấu trúc xã hội tộc người.
Nhằm khai thác những giá trị văn hóa tộc người, du lịch cộng đồng cần
thực hiện các nguyên tắc sau: Nguyên tắc công bằng, dân chủ; Phù hợp
với khả năng của cộng đồng; Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng;
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên thiên
nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững; Cách tiếp cận bền
vững với tài nguyên nhân văn, tài nguyên thiên nhiên.
Chƣơng 2
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG DỰA VÀO TIỀM NĂNG
hóa truyền thống của đồng bào được lựa chọn, khai thác thành những sản
phẩm phục vụ du lịch như chợ tình Sa Pa, lễ hội Róng Poọc (người Giáy),
Tết nhảy (người Dao), Lễ hội Gầu Tào (người H’Mông...)
Du lịch cộng đồng ở Lào Cai nói chung và Sa Pa nói riêng vẫn còn
1 số tồn tại như dịch vụ chưa phong phú, mới dừng lại ở mức độ hài lòng;
người dân phụ thuộc vào người điều hành tour nên thu nhập chưa cao;
hoạt động du lịch cộng đồng nhỏ lẻ, chưa có sự liên kết giữa các hộ dân
với nhau; cơ sở vật chất du lịch thiếu đồng bộ, chưa được đầu tư đúng
mức; chưa phát huy hết giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc để tạo
thành sản phẩm du lịch độc đáo, mới lạ…
2.1.3. Một số điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu ở Sa Pa
Từ năm 2008, được sự giúp đỡ của Tổ chức Thiên nhiên thế giới
(IUCN) và tổ chức Phi chính phủ Hà Lan (SNV), hỗ trợ Lào Cai xây
dựng thí điểm Dự án Hỗ trợ phát triển du lịch bền vững tại Sa Pa, từ đó
nhiều điểm du lịch cộng đồng ở Sa Pa đã hình thành và phát triển như xã
Bản Hồ, Tả Van, Lao Chải, Sín Chải, Tả Phìn, Cát Cát...
2.2. Khái quát chung về Sín Chải
2.2.1. Lịch sử, điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế, văn hóa xã hội
11
Sín Chải là bản của người H’Mông, có 221 hộ dân với 646 nhân
khẩu, 100% là người Hmông đen, sống ở đây được khoảng 6 - 7 đời.
Người H’Mông Sín Chải chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp,
phổ biến là lúa nương, ngô, cây hoa màu. Canh tác ruộng bậc thang là
một trong những thành quả vô cùng to lớn. Ngoài ra họ trồng phong lan,
thảo dược, thảo quả..., nuôi trâu, bò, ngựa, lợn, gà… Hiện nay người
H’Mông Sín Chải còn lưu giữ và phát triển được một số nghề thủ công
truyền thống như dệt vải thổ cẩm, thêu, chạm khắc bạc, rèn đúc, đan lát.
Năm 2013, nghề chạm khắc bạc của người H’Mông ở đây vinh dự
2014, hệ thống cây Đỗ quyên và cây Vân Sam đã được công nhận là cây
Di sản Quốc gia.
+ Ruộng bậc thang: Nét nổi bật của thôn Sín Chải là hệ thống
ruộng bậc thang bao quanh bản. Năm 2009 Tạp chí du lịch “Travel and
Leisure” (Mỹ) cũng đã bình chọn ruộng bậc thang Sa Pa là 1 trong 7
ruộng bậc thang đẹp nhất, kỳ vĩ nhất châu Á và thế giới. Tháng 10 năm
2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp Ruộng bậc thang Sa Pa là
di tích danh thắng cấp Quốc gia. Năm 2014, Mother Nature giới thiệu về
30 điểm đẹp nhất thế giới, trong đó ruộng bậc thang Sa Pa của Việt Nam
đứng ở vị trí thứ 2. Ruộng bậc thang đã thu hút mạnh mẽ du khách khi
đến với Sa Pa nói chung và Sín Chải nói riêng.
- Tiềm năng nhân văn
Các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào H’Mông
được thể hiện ngay ở kiến trúc nhà ở, trong sinh hoạt hằng ngày, trong
lao động sản xuất, trong ăn mặc các bộ trang phục truyền thống... Đến
nay, các loại hình di sản văn hóa tiêu biểu của người H’Mông ở Sín Chải
chưa được đầu tư khai thác một cách hiệu quả so với các thôn bản khác trong
huyện, cụ thể là sản phẩm từ nghề thủ công truyền thống như: rèn đúc, chạm
khắc bạc, trồng lanh dệt vải, nghề đan lát...;
Một số yếu tố như nhà ở truyền thống, ẩm thực, phong tục, tập
quán, lễ hội dân gian… cũng là nét đặc sắc của Sín Chải, cụ thể như nhà
ở truyền thống; nghề trồng lanh, dệt vải; thêu thùa là nét văn hóa đặc
trưng của người H’Mông ở Sa Pa nói chung và Sín Chải nói riêng.
2.3. Sín Chải trong bối cảnh du lịch cộng đồng ở Sa Pa
2.3.1. Ban Quản lý du lịch cộng đồng:
Năm 2013 các hoạt động du lịch cộng đồng bản Sín Chải chính
thức trở thành một điểm du lịch riêng do UBND huyện quản lý. Thực tế,
13
thiếu sự liên kết giữa các ngành, người dân địa phương với các công ty lữ
hành, chưa có sự quy hoạch phát triển hợp lý.
14
2.3.2. Mô hình tổ chức
Tuyến du lịch Cát Cát - Sín Chải được thành lập dưới sự hỗ trợ của
tổ chức SNV nhằm hướng tới sự phát triển du lịch bền vững. Trong đó
nhằm phát huy vai trò, năng lực, sự sáng tạo của người dân tham gia vào
hoạt động du lịch. Bản Sín Chải được dự án lựa chọn để triển khai xây
dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng. Khi dự án bắt đầu, người dân
được tham gia thảo luận, bàn bạc đưa ý kiến đóng góp của mình vào kế
hoạch phát triển du lịch tại địa phương. Vai trò, sự sáng tạo và những ý
kiến của người dân đã được phát huy.
Ban quản lý du lịch cộng đồng của tuyến du lịch Cát Cát - Sín Chải
được thành lập gồm có 13 thành viên, do cộng đồng địa phương bầu ra,
đại diện cho chính quyền địa phương đứng ra xây dựng kế hoạch, tổ
chức, triển khai và quản lý các hoạt động liên quan đến du lịch nằm trong
tuyến du lịch cộng đồng tại địa phương.
Sau đó, tuyến du lịch Cát Cát - Sín Chải được giao cho Công ty du
lịch Cát Cát đầu tư khai thác.
2.3.3. Cơ chế hoạt động, phân chia lợi ích
- Cơ chế hoạt động
Mô hình hoạt động du lịch cộng đồng ở Sín Chải được SNV xây
dựng hướng tới sự phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, sau khi dự án
kết thúc, ban quản lý du lịch cộng đồng bản Sín Chải tự giải thể. Các hoạt
động du lịch ở Sín Chải hoạt động mang tính tự phát đặt dưới sự quản lý
của của Phòng Văn hóa, Thông tin huyện Sa Pa. Bởi vậy, vai trò của
người dân tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng ở địa phương rất
hạn chế.
Du lịch cộng đồng là giải pháp cơ bản của bảo tồn văn hóa vì nó
còn tạo ra môi trường để các giá trị văn hóa truyền thống của người
H’Mông phát huy và nâng cao giá trị của họ. Từ đó, nhiều giá trị văn hóa
truyền thống của người H’Mông được khai thác và phát triển.
Hiện nay, hoạt động du lịch đang diễn ra tại Sín Chải mang tính
manh mún, tự phát, thiếu tính định hướng, tổ chức.
Thực tiễn Sín Chải cho thấy, để xây dựng thành công mô hình du
lịch cộng đồng cần một định hướng đúng đắn và xây dựng một chương
trình hoạt động cụ thể của các bên tham gia. Cần lựa chọn các thành tố
văn hóa tộc người phù hợp gắn với hoạt động du lịch cộng đồng, hài hòa
trong việc phân chia lợi ích các bên, nhìn nhận đúng vai trò của cộng
16
đồng, sự tham gia trực tiếp của cộng đồng vào khai thác các giá trị văn
hóa tộc người.
2.4. Bài học kinh nghiệm chung từ Sín Chải và Sa Pa
- Tiềm năng lớn nhưng chưa được phát huy:
- Thiếu các điều kiện để phát triển:
- Thiếu chiến lược phát triển du lịch:
Chƣơng 3
CÁC LUẬN GIẢI VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA TỘC NGƢỜI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
3.1. Du lịch cộng đồng là phƣơng pháp bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa tộc ngƣời
3.1.1. Du lịch cộng đồng - cách tiếp cận mới với bảo tồn văn hóa
tộc người
Hiện nay, du lịch cộng đồng là cách tiếp cận hữu ích và hiệu quả
nhằm phát huy tiềm năng, giá trị và bản sắc văn hóa tộc người trong phát
triển du lịch. Cách tiếp cận này có ưu điểm là giải quyết được những vấn
phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao, thu hút khách du lịch
- Phát triển di sản văn hóa dân tộc gắn với phát triển cộng đồng
- Phát triển du lịch cộng đồng với bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc cần phải gắn với phát triển du lịch quốc gia
và khu vực
- Cần có sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước và các nhà đầu tư
- Quan tâm tới chu kỳ sống của mối quan hệ văn hóa - du lịch
3.1.3. Du lịch cộng đồng là giải pháp cơ bản trong bảo tồn văn
hóa người Hmông ở Sín Chải
Du lịch và văn hóa có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau nhưng
không phải mô hình du lịch nào cũng phát huy được hiệu quả của mình.
Đối với trường hợp Sín Chải, qua lý luận và thực tiễn cho thấy, phát triển
loại hình du lịch cộng đồng là giải pháp phù hợp với điều kiện đặc điểm
kinh tế, văn hóa xã hội ở Sín Chải. Loại hình này không những khai thác
tiềm năng địa phương mà còn góp phần bảo vệ và phát huy thế mạnh về
các giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương.
Như vậy, các giá trị văn hóa truyền thống tộc người như Sín Chải
là tiềm năng, cuốn hút đối với khách du lịch khi đến Sa Pa nói chung và
18
đến Sín Chải nói riêng. Văn hóa của đồng bào càng đa dạng, càng độc
đáo bao nhiêu thì càng tạo ra nhiều sản du lịch hấp dẫn, mang tính cạnh
tranh bấy nhiêu.
Nhờ có du lịch mà nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người
H’Mông ở Sín Chải được người dân trân trọng, gìn giữ. Không những
góp phần bảo tồn, du lịch cộng đồng còn góp phần khôi phục và phát
triển các giá trị văn hóa truyền thống của người dân thành các sản phẩm
du lịch độc đáo.
Du lịch cộng đồng là giải pháp cơ bản của bảo tồn văn hóa vì nó
khách. sự liên kết các thành viên trong cộng đồng không còn chặt chẽ
như trước đây. Các hoạt động sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng
cũng giảm dần.
Các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, cờ bạc, vấn đề liên quan đến
truyền đạo vào trong cộng đồng người Hmông, lừa gạt chị em bán sang
Trung Quốc, gái mại dâm cũng đã theo du lịch len lỏi vào các bản làng.
Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khai thác một cách hình thức,
nặng về kinh tế hơn là bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống.
3.2. Từ trƣờng hợp Sín Chải, đề xuất các lý luận
Phát triển du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển dựa trên
tiềm năng du lịch tự nhiên, du lịch văn hóa và nguồn lực sẵn có của cộng
đồng. Bởi vậy, mỗi địa phương đều có những thế mạnh, tiềm năng du lịch
về tự nhiên, về văn hóa khác nhau. Mô hình du lịch có thể thành công ở
địa phương này nhưng cũng mô hình đó chưa chắc đã thành công ở địa
phương khác.
Mặt khác, thực tiễn bản Sín Chải cho thấy, từ yếu tố tiềm năng đến
thực tiễn tổ chức hoạt động và phát triển du lịch cộng đồng tại một địa
điểm là một việc làm đầy khó khăn. Sín Chải có một nguồn tài nguyên
nhân văn phong phú, Du lịch cộng đồng tại Sín Chải được chính quyền
địa phương và tổ chức phi chính phủ (SNV) đầu tư cũng như tư vấn các
chương trình hoạt động cụ thể...
Tuy nhiên, kết quả chưa như mong muốn. Bởi vậy, tùy thuộc vào
đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội và tiềm năng du lịch của địa phương
đó mà ta xây dựng mô hình phát triển du lịch cho phù hợp.
Tránh tuyệt đối việc nhân rộng mô hình bằng cách bê nguyên ở nơi
khác về áp đặt cho nhiều địa phương khác nhau.
20
Tiềm năng văn hóa tộc người không phải luôn là một giá trị hữu
21
tài nguyên du lịch và du lịch phát triển dựa trên khai thác nguồn tài
nguyên của cộng đồng địa phương.
Cộng đồng địa phương vừa là chủ thể của văn hóa vừa là người
tham gia cũng như chịu tác động trực tiếp từ các hoạt động du lịch. Người
dân sẽ có những quan điểm, phương pháp nhất định trong việc khai thác
tốt những giá trị văn hóa của cộng đồng cho các hoạt động du lịch, mà
hạn chế những tác động tiêu cực đến những yếu tố truyền thống lâu đời.
Tuy nhiên, trên thực tế, cộng đồng gần như không có tiếng nói trực tiếp
vào hoạt động trong các dự án về phát triển du lịch, từ việc xây dựng nội
dung, quản lý đến tổ chức các hoạt động diễn ra.
Những minh chứng trên cho thấy muốn làm tốt công tác bảo tồn và
phát triển du lịch cộng đồng, cần phải trao quyền cho cộng đồng người
dân địa phương, cộng đồng tham gia trực tiếp vào các khâu trong các dự
án phát triển du lịch.
- Tăng cường đầu tư xây dựng sản phẩm và quảng bá xúc tiến: Sản
phẩm du lịch trong mắt của khách du lịch là những kinh nghiệm mà họ
trải qua trong quá trình tham quan, bao gồm ba thành tố chính: tài nguyên
du lịch tại điểm đến; các điều kiện phục vụ tại điểm du lịch; và khả năng
tiếp cận với điểm du lịch. Các mô hình hoạt động du lịch cộng đồng ở Sa
Pa hiện nay chủ yếu dựa trên nguồn tài nguyên du lịch sẵn có, đầu tư xây
dựng các sản phẩm du lịch mới còn rất hạn chế. ở Sín Chải các sản phẩm
du lịch đặc trưng vẫn chỉ là thăm làng bản, tìm hiểu đời sống văn hóa của
người H’Mông.
Đến nay, Sín Chải không bổ sung thêm sản phẩm du lịch mới,
thậm chí các sản phẩm du lịch trước đây còn bị mai một về loại hình.
Hiện nay, tại bản còn một hộ gia đình làm dịch vụ. Đội biểu diễn văn
nghệ của thôn giải thể do không tạo được nguồn thu nhập cho các thành
phát triển muộn hơn.
Mục tiêu của phát triển du lịch cộng đồng nhằm đến việc du lịch
cộng đồng phải mang đến những sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với
môi trường và xã hội, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá;
Du lịch cộng đồng hướng đến cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng
đồng; đồng thời nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểu biết cho cộng
đồng, mở ra các cơ hội trao đổi kiến thức giữa cộng đồng và du khách;
khích lệ họ tham gia tích cực vào hoạt động du lịch;
Du lịch cộng đồng là công cụ để cộng đồng tham gia, thảo luận,
cùng làm việc và giải quyết các vấn đề mang tính cộng đồng.
23
Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia và chia sẻ trách
nhiệm của cộng đồng, tăng tính tổ chức, huy động nguồn lực của chính
cộng đồng nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng. Nguyên tắc của du lịch
cộng đồng là đề cao sự công bằng, dân chủ, phù hợp với khả năng của
cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ du lịch, xác lập quyền sở hữu và tham gia
của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và nhân văn hướng
đến tới sự phát triển bền vững.
3. Với tốc độ tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ hiện nay của du lịch
Việt Nam và xu thế hội nhập, vấn đề du lịch cộng đồng còn khá mới mẻ.
Thực tiễn cho thấy, chỉ một số mô hình du lịch cộng đồng được xây dựng
cũng như vận hành hiệu quả, như: bản Lác (Mai Châu- Hòa Bình của
người Thái); Suối Voi, xã Lộc Tiên (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế); làng Pác
Ngòi (người Tày) và Làng Bò Lũ (người Dao) ở vườn quốc gia Ba Bể.
Nhìn chung, các mô hình phát triển du lịch cộng đồng của Việt
Nam còn mang nặng tính kinh tế; chưa chú ý đúng mức việc bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, môi trường; chưa chú trọng mục tiêu bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống phục vụ phát triển bền vững.