ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
TRẦN THỊ PHƯƠNG NHUNG
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ TRÊN BÁO VÀ ĐÀI PHÁT THANH
TRUYỀN HÌNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Báo chí họ
c
Mã ngành
: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: ÊGS.TS ĐINH VĂ
N HƯ Ơ ØNG
Hà Nội, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập. Các
kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố. Những kết luận
khoa học trong luận văn là mới và chưa có tác giả công bố trong
bất kì công trình khoa học nào
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp phê bình của quý thầy cô giáo
và các bạn đồng nghiệp.
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương Nhung
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đến tài.......................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 8
3.1 Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 9
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 9
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................................ 11
6.1 Ý nghĩa khoa học ............................................................................................. 11
6.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................ 11
7. Kết cấu luận văn ................................................................................................ 12
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT
THỂ VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỒI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ........................................................................ 13
1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể ................................. 13
1.1.1. Di sản văn hóa ............................................................................................. 13
1.1.2. Di sản văn hóa phi vật thể ............................................................................ 15
1.1.3. Một số loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở Tỉnh Thừa Thiên Huế .............. 16
1.2 Vai trò của Báo chí với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể..... 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG I ......................................................................................... 25
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN CỦA BÁO VÀ ĐÀI
2.4.4 Một số hạn chế khác ..................................................................................... 68
2.5 Nguyên nhân của hạn chế ................................................................................ 69
2.5.1 Nguyên nhân khách quan .............................................................................. 70
2.5.2 Nguyên nhân chủ quan ................................................................................. 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG II ....................................................................................... 74
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA BÁO VÀ ĐÀI PT – TH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ......... 76
3.1 Một số bài học kinh nghiệm cần rút ra trong công tác bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa phi vật thể của Huế ................................................................................... 76
3.2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật
thể của Huế............................................................................................................ 80
3.3 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Báo và Đài PT – TH
Thừa Thiên Huế trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của Huế .. 84
3.3.1 Về nội dung .................................................................................................. 84
3.3.2 Về hình thức ................................................................................................. 89
3.3.3. Nhóm giải pháp nhằm thu hút công chúng ................................................... 95
3.3.4 Nhóm kiến nghị, giải pháp đối với lãnh đạo tòa soạn, cơ quan báo chí.......... 98
TIỂU KẾT CHƯƠNG III .................................................................................... 103
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 108
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CTV
Bảng 2: Mức độ quan tâm của công chúng đối với các chương trình văn hóa trên
Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên ............................................................ 62
Bảng 3: Đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung các chương trình chuyên
mục về văn hóa ........................................................................................ 65
Bảng 4: Đánh giá của công chúng về chất lượng hình thức các chương trình, chuyên
mục về văn hóa ........................................................................................ 66
Bảng 5: Mức độ tương tác của công chúng với Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế .... 96
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Huế - nơi đã từng là Thủ phủ của 9 đời Chúa Nguyễn ở Đàng trong, là Kinh đô
của triều đại Tây Sơn và 13 triều vua Nguyễn trong gần 400 năm (1558 – 1945), cố
đô Huế ngày nay còn lưu giữ trong lòng nó những di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.
Năm 1993, Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa
thế giới. Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế được ghi tên vào danh sách các Di sản
văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Thông qua các kênh truyền thông,
quảng bá và du lịch, Huế đã giới thiệu các giá trị văn hóa của quê hương và đất
nước đến với bạn bè trong và ngoài nước. Đặc biệt, từ năm 2000, Huế bắt đầu tổ
chức một lễ hội văn hóa nghệ thuật, du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế đầu tiên
ở Việt Nam – Festival Huế 2000. Thông qua các kỳ Festival Huế được tổ chức định
kỳ vào năm chẵn và Festival làng nghề truyền thống tổ chức định kỳ vào năm lẻ,
với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo chí, Huế thành phố Festival của Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của hàng nghìn du
khách trong nước và quốc tế.
Báo và Đài Phát thanh truyền hình (PT – TH) Thừa Thiên Huế là hai cơ quan
báo chí lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương phải đảm nhiệm vai
trò là cầu nối thông tin, truyền tải các giá trị văn hóa của địa phương đến công
chúng trong và ngoài nước. Một trong những nét đẹp văn hóa có giá trị của Thừa
Thiên Huế cần được truyền bá, lưu giữ và phát huy đó chính là văn hóa phi vật thể.
tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đến tài
Việt Nam là một đất nước có lịch sử phát triển 4000 năm xây dựng và phát
triển đã để lại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên các vùng miền tổ
quốc. Đã có rất nhiều công trình, sách nghiên cứu về di sản văn hóa, công tác bảo
tồn và phát triển di sản văn hóa.
Trong cuốn “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc” [24], các tác giả xuất phát từ sự tiếp cận văn hóa, các yếu tố cấu thành nền văn
2
hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa hơn nữa thế kỷ qua do
Đảng ta lãnh đạo, đã phản ánh rõ những nét chính yếu về tính tiên tiến của nền văn
hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, về bản sắc văn hóa dân tộc. Qua hoạt động thực
tiễn và tham khảo kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hóa ở một số nước trên thế giới,
cuốn sách ghi nhận rõ nét về thực trạng văn hóa Việt Nam, đề xuất một số giải pháp
và kiến nghị để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Từ đó, đưa ra những định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng nền văn
hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, để trở thành nền tảng tinh thần xã hội trên
con đường thực hiện mục tiêu: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
GS.TS Ngô Đức Thịnh trong bài “Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể”
[47] đã khẳng định: Văn hóa phi vật thể là một cách phân loại, chỉ ra các dạng chính
thức của văn hóa phi vật thể, các đặc trưng của văn hóa phi vật thể và việc sưu tầm
bảo tồn chúng. Qua đó, tác giả muốn gửi thông điệp rằng: Văn hóa phi vật thể là
văn hóa trải dài trong cả không gian và thời gian, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,
trong giai đoạn hiện nay với sự giao thoa, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, các
quốc gia thì văn hóa phi vật thể mang tính mỏng manh, dễ bị thương tổn. Do đó,
Nhà nước cần thông qua các cấp chính quyền, các nhà khoa học, giữ vai trò định
hướng trong nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc.
ánh văn hóa làng xã, lễ hội truyền thống…Đáng kể có các công trình sau: Khóa luận
Việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trên báo chí Việt Nam thời
kỳ đổi mới (báo Văn hóa, Sài Gòn giải phóng 93 – 96) năm 1996 của sinh viên
Nguyễn Nguyên Vũ do TSKH Đoàn Hương hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với
công tác bảo tồn và phát triển dân ca quan họ của sinh viên Vũ Thị Thu Thêm năm
1995 do PGS.TS Đinh Văn Hường hướng dẫn; Khóa luận Báo chí trong việc tuyên
truyền và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc của sinh viên Nguyễn Hồng Giang
năm 1995 do TSKH Đoàn Hương hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với nghệ thuật sân
khấu của sinh viên Nguyễn Thục Hạnh năm 1995 do GS.TS Đỗ Quang Hưng hướng
dẫn; Khóa luận Báo chí với vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc của sinh viên Đào Kim
Anh năm 1996 do PGS.TS Đinh Văn Hường hướng dẫn; Khóa luận Lễ hội truyền
thống Việt Nam phản ánh trên báo chí của sinh viên Trần Ngọc Dung năm 1998 do
4
TSKH Đoàn Hương hướng dẫn ; Khóa luận Báo chí với vấn đề giới thiệu và giữ gìn
các giá trị văn hóa lễ hội của sinh viên Lê Ngọc Hà năm 1998 do GS Hà Minh Đức
hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với nghệ thuật truyền thống dân tộc của sinh viên
Trần Thị Liễu năm 2001 do TS Hồ Xuân Sơn hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với
vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa phi vật thể ở Hà Nội năm 2002 của
sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương do Th.s Nguyễn Sơn Minh hướng dẫn ….Trong
số các công trình nghiên cứu đó, hai công trình gần với đề tài mà tác giả khóa luận
này lựa chọn nhất là luận văn Báo chí Thừa Thiên Huế với công tác bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa Huế của thạc sĩ Trần Văn Thiện năm 2002 do PGS.TS Đinh
Văn Hường hướng dẫn và luận văn Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi
vật thể của Việt Nam trên Báo chí của thạc sĩ Lê Vũ Điệp năm 2007 do GS Hà
Minh Đức hướng dẫn.
Đối với đề tài luận văn Báo chí Thừa Thiên Huế với công tác bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa Huế của Ths.Trần Văn Thiện, ưu điểm của luận văn là đã đưa
ra một hệ thống các quan niệm về di sản văn hóa, phân loại di sản văn hóa bao gồm:
được báo chí với nhiệm vụ truyền bá văn hóa, toàn cảnh văn hóa phi vật thể Việt
Nam trên báo chí và nêu được cái khó trong việc lập hồ sơ đề cử lên UNESCO công
nhận di sản văn hóa phi vật thể.
Bên cạnh những ưu điểm đó, hạn chế của luận văn này là mặc dù tên đề tài
luận văn là Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam
trên Báo chí nhưng tác giả luận văn lại quá đi sâu vào kiến thức chung về văn
hóa, chương 1 của tác giả chiếm đến 42 trang từ trang 07 đến trang 48 trong khi
phần thực sự nói về vai trò của báo chí đối với việc bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa phi vật thể chỉ có 40 trang trong tổng số 120 trang luận văn. Ngoài ra,
chương 3 của tác giả đề cập đến hướng đi và giải pháp cho bảo tồn và phát triển
di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam thì hầu như chỉ đề cập đến chính sách và
giải pháp văn hóa nói chung chứ chưa đưa ra được ưu điểm, hạn chế cũng như
giải pháp riêng dành cho báo chí trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa phi vật thể. Mặc khác trong phần đề cập đến vai trò của báo chí đối với công
tác này, tác giả luận văn cũng chưa có được những con số thống kê về số lượng
các bài báo, các chuyên mục, các chương trình đề cập đến di sản văn hóa phi vật
6
thể trên báo chí Việt Nam một cách cụ thể mà chỉ đề cập chung chung cũng như
đưa ra một số dẫn chứng trích dẫn các bài viết của các nhà nghiên cứu về văn
hóa phi vật thể.Có thể nói rằng, vai trò của báo chí đối với công tác bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong luận văn chưa được đề cập đúng mức
và thích hợp với tên đề tài mà tác giả lựa chọn.
Xuất phát từ việc đánh giá ưu điểm và hạn chế của các công trình trước đó, tác
giả sẽ có tham khảo, kế thừa và vận dụng những điểm cần thiết của các công trình
trước đó, nhưng xin được nêu ra những nét mới của luận văn “ Vấn đề bảo tồn và
phát huy văn hóa phi vật thể trên Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế giai đoạn
2012 – 2014” như sau:
Thứ nhất, luận văn được tác giả nghiên cứu dưới góc độ báo chí chứ không
tốt để luận văn có thể đạt kết quả tốt và có tính ứng dụng cao vào hoạt động báo chí
ở địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu và nhược điểm (thực
trạng) của Báo và Đài địa phương trong việc thực hiện chức năng của mình để bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của Huế. Đồng thời đưa ra những
kiến nghị và giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của Báo và Đài
PT – TH Thừa Thiên Huế trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi
vật thể của Huế trong các giai đoạn tiếp theo.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn sẽ tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về Quần thể
văn hóa phi vật thể của Huế, vai trò và chức năng của báo chí nói chung trong việc
tham gia công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, vai trò và chức năng của báo
chí địa phương trong việc lưu giữ và quảng bá các giá trị văn hóa địa phương.
- Luận văn đi vào khảo sát cụ thể chi tiết, thống kê các bài viết, chuyên mục ở
hai cơ quan báo chí là Báo Thừa Thiên Huế và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế có
liên quan đến văn hóa phi vật thể của Huế nhằm đưa ra những đánh giá nhận xét
khách quan và chính xác về ưu điểm và hạn chế của báo chí địa phương trong công
tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của Huế.
8
- Luận văn sẽ nêu lên những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả của báo chí địa phương trong công tác này để đem lại những lợi ích thiết
thực cho thành phố Huế trong việc quảng bá và thúc đẩy ngành du lịch phát triển,
bên cạnh đó lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của địa phương, đất
nước trong thời kì hội nhập và phát triển hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác bảo tồn và phát huy di sản
nào. Ngoài ra, phiếu điều tra xã hội học cũng lưu ý đến việc thu thập các kiến nghị
của người dân làm thế nào để nâng cao chất lượng nội dung và hình thức, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của công chúng, vừa đảm bảo tính giải trí vừa cung cấp đầy đủ
thông tin để người dân có thể biết được những kiến thức về văn hóa phi vật thể, từ
đó tác động đến nhận thức và hành vi của người dân trong việc tự ý thức về bảo tồn
và phát huy vốn văn hóa đáng quý đó của địa phương.
Cùng với việc điều tra xã hội học, tác giả cũng sử dụng phương pháp phỏng
vấn sâu. Phương pháp phỏng vấn sâu sẽ áp dụng với các đối tượng sau: những nhà
nghiên cứu về văn hóa phi vật thể của Huế, một số phóng viên của Báo và Đài PT –
TH Thừa Thiên Huế đang làm việc ở mảng văn hóa. Đối với các nhà nghiên cứu
văn hóa phi vật thể của Huế, tác giả sẽ phỏng vấn để tìm hiểu các khái niệm chuyên
môn có liên quan để có thể đưa ra những kiến thức lý thuyết chính xác và đầy đủ
nhất về văn hóa phi vật thể của Huế. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ phỏng vấn để lấy
ý kiến của các nhà nghiên cứu dưới góc độ là các chuyên gia đối với các chuyên
mục, bài viết về văn hóa phi vật thể của Huế trên Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên
Huế về mức độ chính xác của nội dung thông tin được phản ánh trên Báo, Đài. Đưa
ra ưu và nhược điểm cần khắc phục của bài viết, chuyên mục đó để đảm bảo công
chúng có được cái nhìn hoàn thiện và đúng đắn nhất về văn hóa phi vật thể của Huế.
Đối với các phóng viên Báo, Đài hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, người viết sẽ
phỏng vấn để tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn trong công tác đưa tin, viết
bài, xây dựng chuyên mục. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ lấy ý kiến kiến nghị của
các phóng viên đối với các cơ quan có liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy
văn hóa phi vật thể của Huế và đối với lãnh đạo các cơ quan báo chí để có thể tạo
10
điều kiện tốt nhất cho phóng viên tác nghiệp và đem đến cho công chúng những sản
phẩm báo chi đảm bảo chất lượng về cả nội dung và hình thức.
Một phương pháp nữa mà tác giả sẽ áp dụng đó là phương pháp làm việc
chí, ngành du lịch, ngành văn hóa, ngành xã hội học ….. tham khảo để thấy được
việc áp dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có ba
chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Văn hóa phi vật thể và vai trò của báo chí
đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể
Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin của Báo và Đài PT – TH Thừa
Thiên Huế về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của Huế
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng chất lượng, hiệu quả của
Báo và Đài PT – TH Thừa Thiên Huế trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
phi vật thể của Huế
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nói trên
12
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể
1.1.1. Di sản văn hóa
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định
nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa. Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong bài Định
nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu
lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa
học hiện đại. Cho nên xét theo từ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý
nghĩa cơ bản là giồng giọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh (tiếng
Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur). Vậy muốn có ý nghĩa xác
giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa
khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có
một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người
khác” [32,tr 19-20]
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa như sau: Di sản
văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử
dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành,khẳng định các giá trị
của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học…
Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa được phân thành hai loại:
Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa vật thể: bao gồm những vật thể (hữu hình – Tangible) có giá trị
đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội
nào đó tạo ra. Đó là những di vật, di tích như đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng
mộ, những hiện vật bảo tàng, thư tịch, tài liệu lưu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh
thiên nhiên, và những hiện vật quý hiếm khác
Di sản văn hóa phi vật thể: bao gồm những sản phẩm phi hình thể (vô hình –
intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa
xã hội nào đó tạo ra. Nó được lưu truyền và biến tấu theo các phương thức truyền
14
khẩu, mô phỏng và bắt chước. Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các
loại hình văn nghệ dân gian (âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện kể, huyền thoại, tạp
kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn,
bí quyết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa.
1.1.2.
Di sản văn hóa phi vật thể
Trong luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
tạo, hình thức của dạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu
múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình
nghệ thuật khác. Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đến thông tin liên
lạc truyền thống”
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Văn hóa phi vật thể đó là một dạng
tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình
khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong
trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống
của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa
- nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó.
Có thể kể ra đây những dạng thức chính của di sản văn hóa phi vật thể: Ngữ
văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ,
vè, ngụ ngôn...Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca
múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xướng).
Những hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân,
cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng.
Các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội như Phật giáo,
Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu...
Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. Tri thức dân
gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức
bản địa, tri thức địa phương...Những làng nghề truyền thống
1.1.3. Một số loại hình văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở Tỉnh Thừa Thiên Huế
Huế một vùng non sông kỳ thú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong
lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính
toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa
16
Thế giới (World Heritage List) ngày 11/12/1993. Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm
về những di sản phi vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình