ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ HÀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ
VẬT THỂ HÀ NỘI TRÊN BÁO IN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
cứ công trình khoa học nào. Mọi luận cứ trong luận văn là xác thực. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thị Hà
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn T.S Đỗ Thị Quyên – Người hướng dẫn đã tận tình
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1. Tổng quan về báo in 11
1.1.1. Khái niệm và lịch sử báo in 11
1.1.2. Đặc thù của báo in 13
1.1.3.Vị trí, vai trò của báo in trong hoạt động truyền thông 19
1.2. Cơ sở lý luận về di sản văn hóa 23
1.2.1. Khái niệm Văn hoá 23
1.2.2. Khái niệm về “Di sản văn hoá” 26
1.2.3. Phân loại di sản văn hoá 28
1.2.3.1. Di sản văn hoá vật thể 28
1.2.3.2. Di sản văn hoá phi vật thể 29
1.3. Báo chí với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể 31
1.4. Tổng quan về hệ thống di sản văn hoá vật thể Hà Nội 33
Tiểu kết chương 1 35
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO IN VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ HÀ NỘI 36
2.1. Khái quát về 3 tờ báo: Nhân Dân, Hà Nội Mới, Văn Hoá 36
2.1.1. Báo Nhân Dân 36
2.1.2. Báo Hà Nội Mới 37
2.1.3. Báo Văn Hoá 38
2.2. Tiêu chí chọn tin, bài 38
2.2.1. Tiêu chí về nội dung 38
2.2.2. Tiêu chí về hình thức 39
2.3. Khảo sát nội dung, hình thức phản ánh việc bảo tồn và phát huy di sản
văn hoá vật thể Hà Nội trên báo: Nhân Dân, Hà Nội Mới, Văn Hoá 40
2.3.1. Tổng hợp số liệu khảo sát từ năm 2012-2013 40
2.3.1.1. Về nội dung phản ánh 40
2.3.1.2. Về Thể loại báo chí sử dụng 44
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHẦN PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Một số thông tin cá nhân các đối tượng khảo sát 64
Biểu đồ 2.1: Số lượng tác phẩm báo chí phản ánh nội dung bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa vật thể Hà Nội 40
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tác phẩm phản ánh nội dung bảo tồn và phát huy DSVHVT
Hà Nội 41
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu chi tiết tác phẩm phản ánh bảo tồn và phát huy DSVHVT
Hà Nội 41
Biểu đồ 2.4 Thể loại báo chí chuyển tải nội dung bảo tồn và phát huy DSVHVT
Hà Nội 46 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Văn hoá nói chung, di sản văn hoá nói riêng, luôn có vị trí, vai trò quan trọng
trong đời sống con người cũng như trong bản sắc của mỗi dân tộc. Văn hoá không
chỉ làm nên sự khác biệt, tính đặc thù của mỗi dân tộc mà qua đó làm cho đời sống
nói chung thêm phong phú, đa dạng, giúp cho con người vun đắp lòng tự hào đối
với bản sắc của dân tộc mình. Những di sản văn hóa tồn tại đến hôm nay luôn đóng
vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành, phát triển của một quốc gia, dân tộc,
vùng miền. Đó không chỉ là tài sản của riêng một vùng đất hay con người địa
phương, mà còn là tài sản của quốc gia; phản ánh một cách tập trung nhất, tiêu biểu
nhất truyền thống văn hóa dân tộc. Cùng với thời gian, các giá trị kết tinh trong di
sản văn hóa như một dòng chảy âm thầm, lặng lẽ nhưng có khả năng to lớn, là cội
viết: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề
bảo tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh
thần của xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách
mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị
văn hoá nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo
tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy
các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”.
Thủ đô Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa ngàn năm của văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu di sản văn hóa Hà Nội cũng là nghiên cứu tinh hoa trong di sản văn hóa
Việt Nam. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của các di sản văn hoá Việt
Nam, trong đó có di sản văn hoá vật thể Hà Nội là một bộ phận hợp thành quan
trọng, vì thế có ý nghĩa lớn về nhiều mặt. Điều 10 của pháp lệnh Thủ đô Hà Nội đã
nêu: “Nhà nước có chính sách bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, danh
lam thắng cảnh, khu phố cổ tiêu biểu ở Thủ đô…”.
Hà Nội được xem là một trong những thành phố cổ kính của thế giới. Di sản
văn hóa vật thể nói riêng và di sản văn hóa nói chung là một thành tố có vai trò
3
quan trọng trong việc tạo dựng, tôn vinh giá trị của mảnh đất kinh kỳ. Sau khi điều
chỉnh địa giới hành chính, Hà Nội là địa phương có nhiều di sản văn hóa vật thể
(trong đó chủ yếu là di tích lịch sử văn hóa) với số lượng lớn nhất cả nước. Hệ
thống di sản văn hóa vật thể của Thủ đô góp phần làm cho bức tranh di sản văn hóa
Thăng Long - Hà Nội thêm phong phú, là tiềm năng phát triển du lịch, nhưng đồng
thời đặt ra trách nhiệm nặng nề trong việc quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá
trị di sản. Hà Nội đã, đang và sẽ làm gì để khối di sản quý giá này phát huy giá trị
ngày càng tốt hơn, để sức ép của nền kinh tế thị trường không làm mai một, xâm hại
chúng thì đây càng là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, việc thực hiện đề tài
tiếng nói mạnh mẽ nhất, dài hơi nhất.
Những lý do trên đây đã thúc đẩy tôi chọn lựa đề tài:
“Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội trên báo in” nhằm tìm
ra những thành tựu và hạn chế của hoạt động này trên báo in, kiến nghị và đề xuất
những phương hướng và giải pháp có tính khả thi, nhằm bảo tồn và phát huy tốt hơn
di sản văn hóa vật thể Hà Nội trên báo in trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Những thành tựu nghiên cứu lý luận về văn hoá và di sản văn hoá
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam
Văn hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm : “Ta
muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn
hoá cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải
khéo điều hoà tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa
học của văn hoá phương Tây”.
Năm 1997, GS,TS. Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách Một số vấn đề về bảo
tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc. Trên cơ sở những quan niệm DSVH của
quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời
5
bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta. Năm 2002, Luật di sản văn hoá và
văn bản hướng dẫn thi hành được coi là văn bản pháp quy về DSVH.
Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá - Thông
tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH
cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài. Trong đó tiêu biểu
nhất là các bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá (Vũ
Quốc Hiền), Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành
Vinh); Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng (Đặng văn Bài); Bảo tồn,
tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm (Phan Huy Lê).
Sách Giữ gìn, phát huy di sản văn hoá các dân tộc Tây Bắc do NXB Văn
hoá Dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật phát hành có thể giúp người đọc có thể
hội và Nhân văn. Luận văn đã tập trung khảo sát, đánh giá việc phản ánh vấn đề
giới thiệu và bảo tồn di sản văn hoá Thủ đô trên báo chí.
- Luận văn thạc sỹ “Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Hà
Nội” của tác giả Hoàng Hương Trà (năm 2007), Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn. Trên cơ sở khẳng định những giá trị quý báu cũng như hiện trạng của di
sản văn hoá Hà Nội, vai trò của báo chí trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá
Hà Nội để đề xuất những kiến nghị giải pháp.
Cả hai công trình trên đều đã nêu, phân tích, đánh giá việc phản ánh vấn đề
bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Hà Nội (cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể)
trên báo chí nhưng chưa đưa ra được những vấn đề về lý luận báo chí do vậy cả hai
công trình mới dừng lại ở việc đưa ra giải pháp để bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa dưới góc độ văn hóa học chứ chưa đưa ra được giải pháp để nhằm nâng cao
hiệu quả của hoạt động này trên báo chí nhất là báo in. Bên cạnh đó thời điểm
nghiên cứu của cả hai công trình trên đều khá xa so với thời điểm tác giả thực hiện
đề tài này và lại được thực hiện trước khi Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính.
Trên thực tế, còn khá ít công trình nghiên cứu, đánh giá, tổng kết kinh
nghiệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Hà Nội nói riêng dưới góc độ
truyền thông. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này góp một tiếng nói chung
7
nhằm phân tích và tổng kết việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Hà Nội
trên báo in.
3. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Xây dựng nhận thức về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể của
thủ đô Hà Nội được truyền thông trên loại hình báo in.
- Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội
trên loại hình báo in.
- Xây dựng những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng báo in về vấn đề
bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội.
lượng báo in trong việc phản ánh hoạt động này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp luận (Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu):
- Cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển Văn hoá và Báo chí.
- Dựa vào hệ thống lý luận về báo in nước ta hiện nay.
Đây là cơ sở phương pháp luận để tiếp cận vấn đề này, để đánh giá những
thành tựu và hạn chế của báo in trong việc góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di
sản vật thể Hà Nội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích văn bản.
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh: Phương pháp này
được sử dụng nhằm xem xét thông tin có sẵn trong sách báo … để thu thập các
thông tin định tính phục vụ đề tài.
- Công tác sưu tầm tài liệu: quan sát trực tiếp, sưu tầm, thống kê, phân loại
tin, bài thành từng nhóm theo đặc điểm của nội dung và hình thức.
- Phương pháp điều tra xã hội học (Bảng hỏi).
Quá trình nghiên cứu được thực hiện trong hai năm: 2012 và 2013.
9
Thông qua đó để tìm hiểu vai trò của báo in đối với việc bảo tồn và phát huy
di sản văn hoá vật thể Hà Nội; Báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, và báo Văn Hóa đã có
cách thức truyền thông như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật
thể Hà Nội trên tờ báo của mình từ việc tổ chức về nội dung và hình thức phản ánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận:
Đưa ra những khái niệm học thuật có tính hệ thống về mối quan hệ giữa báo
in, truyền thông và bảo tồn, phát huy di sản văn hoá trong đó có di sản văn hóa vật
thể; đặc biệt là xác lập hệ thống cơ sở lý luận và hiệu quả báo in trong hoạt động
vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Hà Nội.
11
CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về báo in
1.1.1. Khái niệm và lịch sử báo in
Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền thông
không thể thiếu của đời sống xã hội. Đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về
báo in. Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí
định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc
sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin”. [23, tr 25].
Báo in còn được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, đăng tải các sự
cách mạng và chiếm được một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con
người. Thế kỷ XIX, là thời kỳ ngự trị của báo in, báo in đã có mặt khắp nơi trên thế
giới. Các thành phố công nghiệp lớn ra đời, trình độ văn hóa và đời sống của con
người được cải thiện kích thích nhu cầu thông tin giao tiếp trong xã hội, cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự phát triển của báo in.
Thế kỷ XX, được coi là thời kỳ bùng nổ của báo chí với sự đa dạng của các
thể loại, loại hình báo chí được chia theo các lĩnh vực và lứa tuổi. Ở các nước công
nghiệp phát triển cứ 1000 người dân thì tiêu thụ 400-500 nhật báo. Tuy nhiên, đầu thế
kỷ XXI nhiều chuyên gia cho rằng đây là thời kỳ khó khăn của báo in trên thế giới.
Bởi chất lượng của tờ báo chưa đảm bảo, sự ra đời và phát triển của các loại hình báo
chí khác như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử. Hơn nữa một xu thế báo phát
không đang diễn ra làm cho báo in gặp nhiều vấn đề trong việc phát hành.
Ở Việt Nam, sự ra đời của tờ Gia Định Báo có thể coi là thời điểm khởi đầu
của lịch sử báo chí hiện đại. Trước đó, năm 1861 đã xuất hiện tờ công báo của quân
đội viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ in bằng tiếng Pháp. Đầu thế kỷ XX, báo chí đã có
mặt trên khắp ba miền đất nước. Tại Hà Nội, ấn phẩm đầu tiên mang tính chất của
một tờ báo cả về nội dung lẫn hình thức là tờ Đại Việt Tân báo ra số 1 ngày
07/5/1905. Mặc dù báo chí ra đời muộn nhưng do vai trò chính trị quan trọng của
nó, Hà Nội nhanh chóng trở thành trung tâm hàng đầu của cả nước về nguồn tin, tác
giả, tiêu thụ báo, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều cơ quan báo chí.
13
Ngày 21/6/1925, Tờ báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và
trực tiếp chỉ đạo xuất bản số đầu tiên, đánh dấu sự khởi đầu của nền báo chí cách
mạng. Lần đầu tiên trong lịch sử, tờ Thanh Niên đã kết hợp giữa chủ nghĩa yêu
nước và tư tư tưởng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin trong nội dung tuyên truyền
của mình, tổ chức lực lượng thức tỉnh quần chúng nhân dân chuẩn bị cho những
cuộc vận động xã hội, nhằm mục đích giải phóng dân tộc và thiết lập chế độ Xã hội
chủ nghĩa. Với tờ Thanh Niên, Nguyễn Ái Quốc khai sinh ra nền báo chí cách mạng
Việt Nam. Và ngày 21/6 được lấy là ngày báo chí Việt Nam.
mình. Đây là điều mà báo mạng điện tử đang cố gắng phát huy. Điều này tạo cho
báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn.
Thứ hai, báo in có khả năng lưu trữ thông tin lâu. Việc tiếp nhận thông tin từ
báo in so với các loại hình báo chí khác là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người
đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không
sẽ không lưu lại được thông tin mình vừa đọc là gì và nó như thế nào. Hơn nữa
nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác và độ xác định cao. Dù thông tin
chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo sự chính xác về thông
tin vì đã được kiểm định. Mặt khác, báo in còn trở thành nguồn tài liệu quý giá đối
với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não. Báo in có thể
làm tài liệu, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học. Do vậy độc giả
vẫn tìm đến với báo in trong sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền
thông mới bởi báo in có khả năng lưu trữ thông tin cao. Khi người đọc, tiếp nhận
thông tin qua mắt nhưng đồng thời với đó là trí não hoạt động, tập trung mọi ỹ nghĩ
vào trong tờ báo để tiếp nhận thông tin. Như phát thanh hay truyền hình thì thính
giả và khán giả chỉ có thể xem khi không tập trung mọi giác quan, trí não của mình
thì những chi tiết, nội dung thông tin chuyển đến người đọc là không hiệu quả và
không lưu lại được trong trí não.
Cũng giống như sách, khi ta đọc một cuốn sách, những chi tiết trong cuốn
sách, những tình huống, câu chuyện hấp dẫn người đọc. Thì ta chăm chú đọc và suy
ngẫm và lưu lại trong trí não của người đọc và có thể kể lại những gì mình vừa đọc
hoặc tóm lược lại nội dung câu chuyện cho người khác nghe bằng ngôn ngữ của
15
mình. Thì báo in cũng vậy, khi bạn tiếp nhận một thông tin từ báo in, bạn cũng có
thể truyền đạt lại thông tin ấy một cách chi tiết, cụ thể, sinh động cho người khác
nghe thông qua những cử chỉ, điệu bộ của mình để thu hút sự lắng nghe, quan tâm
của người khác. Điều này là hơn hẳn với các loại hình báo chí khác.
Thứ ba, báo in có khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng đầy đủ các
vấn đề, sự kiện. Đây là một thế mạnh mà có thể nói đặc trưng nhất của báo in mà
hiểu rõ được vấn đề, từ đó định hướng cho độc giả những phán đoán, suy nghĩ đúng
đắn về vấn đề, sự kiện. Đó cũng chính là giúp báo in thực hiện được chức năng định
hướng tư tưởng, cho độc giả ngoài chức năng thông tin, giải trí và khai sáng cho
độc giả. Thì đây là một thế mạnh đã giúp báo in hoàn thành nhiệm vụ, chức năng
đối với mỗi loại hình báo chí.
Thứ tư, báo in đa dạng về chủng loại. Phải nói rằng, không có loại hình báo
chí nào theo kịp được báo in về mặt này, bởi sự đa dạng của nó. Báo in bao gồm
nhiều chủng loại như: nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san, tạp chí, đặc
san, phụ san, nội san, chuyên san, tập san, chuyên đề, bản tin…
Báo chí in bao gồm báo và tạp chí là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội
dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Ngoài hai
thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều cơ quan báo chí
Trung ương, tất cả các tỉnh, thành phố còn lại đều có báo, tạp chí riêng.
Căn cứ vào định kỳ xuất bản, tính chất nội dung thông tin, hiện nay báo in ở
nước ta có các loại: báo hàng ngày (là những tờ phát hành mỗi ngày một kỳ vào
buổi sáng hoặc buổi chiều); báo nhiều kỳ trong tuần (là tờ báo phát hành khoảng từ
5 - 6 kỳ trong một tuần); báo một số kỳ trong tuần (là những tờ báo có số kỳ xuất
bản từ 2 - 4 kỳ trong tuần); báo tuần (là những tờ báo xuất bản định kỳ 1 kỳ/một
tuần); báo nửa tháng hay hàng tháng (chủ yếu là những ấn phẩm phụ xuất bản giữa
tháng hoặc cuối tháng của các tờ báo hằng ngày, các tờ báo nhiều kỳ, một số kỳ
trong tuần hoặc tuần báo).
Tạp chí là những ấn phẩm định kỳ có nội dung chuyên sâu vào một hay một
số vấn đề, lĩnh vực về đời sống xã hội, khoa học, kỹ thuật… Định kỳ xuất bản của
17
tạp chí có thể là một tuần, nửa tháng, 1 tháng, 2 tháng. Cũng có tạp chí xuất bản 3,
4, 5 hoặc 6 tháng/ kỳ. Hầu hết các trung tâm tỉnh, thành phố trong cả nước đều được
đọc báo phát hành trong ngày.
Nhật báo là những tờ báo xuất bản hằng ngày, có thể phát hành vào buổi
sáng, trưa, tối.Tuần báo là các tờ báo xuất bản định kỳ tuần một số. Báo thưa kỳ là