B GIO DC V O TO
B VN HểA, TH THAO V DU LCH
VIN VN HểA NGH THUT QUC GIA VIT NAM
o Ngc Anh
BảO TồN Và PHáT HUY DI SảN VĂN HóA NGƯờI HMÔNG
THÔNG QUA DU LịCH CộNG ĐồNG ở BảN SíN CHảI,
HUYệN SA PA, TỉNH LàO CAI
LUN N TIN S VN HO HC
H Ni - 2016
B GIO DC V O TO
B VN HểA, TH THAO V DU LCH
VIN VN HểA NGH THUT QUC GIA VIT NAM
o Ngc Anh
BảO TồN Và PHáT HUY DI SảN VĂN HóA NGƯờI HMÔNG
THÔNG QUA DU LịCH CộNG ĐồNG ở BảN SíN CHảI,
HUYệN SA PA, TỉNH LàO CAI
Chuyờn ngnh: Vn hoỏ hc
Mó s: 62 31 06 40
1.3. Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa ........................................................... 24
1.4. Di sản văn hóa tộc người và giá trị di sản văn hóa tộc người ................... 26
1.5. Bảo tồn, phát huy văn hóa tộc người dựa vào du lịch cộng đồng ............. 30
Tiểu kết chương 1................................................................................................. 44
Chương 2: PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG DỰA VÀO TIỀM
NĂNG VĂN HÓA TỘC NGƯỜI ........................................................................ 45
2.1. Phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa ......................................................... 45
2.2. Khái quát chung về Sín Chải ..................................................................... 54
2.3. Sín Chải trong bối cảnh du lịch cộng đồng ở Sa Pa .................................. 72
2.4. Bài học kinh nghiệm chung từ Sín Chải và Sa Pa ..................................... 92
Tiểu kết chương 2................................................................................................. 98
Chương 3: CÁC LUẬN GIẢI VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN
HÓA TỘC NGƯỜI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH ................................... 99
3.1. Du lịch cộng đồng là phương pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
tộc người ........................................................................................................... 99
3.2. Từ trường hợp Sín Chải, đề xuất các lý luận ........................................... 116
3.3. Một số kiến nghị ...................................................................................... 121
Tiểu kết chương 3............................................................................................... 130
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 132
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ................... 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 136
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 150
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFD
Nxb
: Nhà xuất bản
SNV
: Tổ chức phát triển du lịch Hà Lan.
TP
: Thành phố
Tr
: Trang
UBND
: Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc
USD
: Đồng đô la Mỹ
VGGS
: Chiến lược tăng trưởng xanh
lịch như du lịch sinh thái (ecotourism), du lịch dựa vào thiên nhiên (nature
tourism), du lịch xanh (green tourism), du lịch văn hóa (culture tourism),…
nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người ngày một đa dạng.
Du lịch có sự tham gia của cộng đồng (community - based tourism) tuy
mới phát triển ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc vào những năm 1980
5
của thế kỷ XX, nhưng đã nhận được sự tham gia mạnh mẽ của khách du lịch
các nước trên thế giới. Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lợi về cảnh quan
thiên nhiên, đa dạng văn hóa, du lịch đang từng bước được khai thác và phát
triển. Loại hình du lịch cộng đồng đã được triển khai tại một số địa phương và
bước đầu thu được kết quả khả quan như bản Lác (Mai Châu - Hòa Bình của
người Thái); Suối Voi, xã Lộc Tiên (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế); làng Pác
Ngòi (người Tày) và Làng Bò Lũ (người Dao) ở vườn quốc gia Ba Bể…, góp
phần quan trọng vào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa truyền thống.
Trong những năm gần đây, du lịch Lào Cai phát triển mạnh, đặc biệt là
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Mỗi năm các điểm du lịch cộng đồng thu
hút hàng vạn lượt khách du lịch trong nước và quốc tế, góp phần giải quyết
công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào địa phương.
Sín Chải, một bản thuộc xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, là một
tuyến trong hệ thống du lịch của Sa Pa. Đây là địa danh du lịch kì thú và là địa
bàn cư trú chủ yếu của người H’Mông. Sín Chải chứa đựng nhiều điều kiện
thuận lợi cả về cảnh quan thiên nhiên và tiềm năng nhân văn để phát triển loại
hình du lịch cộng đồng. Trên thực tế, mô hình du lịch cộng đồng tại Sín Chải
đang trong giai đoạn hình thành và phát triển bước đầu. Tuy nhiên, những tác
động từ du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng đang có những biểu
hiện ngày một rõ hơn tới đời sống kinh tế, xã hội cũng như truyền thống văn hóa
của đồng bào H’Mông tại nơi đây. Bên cạnh đó, mô hình du lịch cộng đồng tại
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các học giả nước ngoài
Du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng đóng vai trò quan trọng
trong tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa. Loại hình du lịch này đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các
nhà kinh tế, nhà quản lý, nhà khoa học trên thế giới. Du lịch cộng đồng hình
thành và phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc vào những năm 1980. Ở
7
châu Á, khái niệm du lịch cộng đồng thực sự phổ biến từ những năm 1990 trở
lại đây. Nhà nghiên cứu Jafiri đã tập hợp các nghiên cứu về du lịch có sự
tham gia của cộng đồng và phân thành một số xu hướng phát triển chính. Xu
hướng “Tán thành” phát triển vào những năm 1960, xu hướng “Cẩn trọng”
vào những năm 1970 và cuối cùng là xu hướng “Thích nghi”. Ông cho rằng
du lịch có sự tham gia của cộng đồng ra đời từ xu hướng “Thích nghi” này.
Nhà nghiên cứu Saariemen lại nhìn nhận du lịch cộng đồng trên cơ sở
phát triển bền vững dưới hai phương diện tiếp cận. Cách tiếp cận thứ nhất:
bền vững về môi trường tự nhiên là động lực chính để phát triển du lịch; Cách
tiếp cận thứ hai: bền vững trong các hoạt động. Với cách tiếp cận này ông coi
du lịch làm trung tâm, trong đó ông nhấn mạnh tính bền vững của ngành du
lịch nhằm hạn chế những tác động tiêu cực tới cộng đồng.
Nhà nghiên cứu Nicole Hausler và Wolfgang Strasdas lại chú trọng đến
vấn đề người dân tham gia vào các hoạt động quản lý du lịch tại địa phương
và lợi ích kinh tế có được từ du lịch mà kinh tế địa phương thu được. Theo
Giáo sư Hsien Hue Lee, Hiệu trưởng Trường đại học cộng đồng Hsin Hsing
(Đài Loan): “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các
điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Đồng thời
khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của người dân địa phương
trong du lịch” [108, tr.49]. Còn theo Sproule (1998) và Leksakundilok (2004),
Thế Đạt đã đề cập đến du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ
lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng
địa phương. Du lịch sinh thái nhấn mạnh đề cao yếu tố giáo dục, nâng cao ý
thức con người trong vấn đề bảo vệ thiên nhiên và bảo tồn, phát huy những
giá trị văn hóa do con người đặt ra. [32]
Trong cuốn Du lịch bền vững (2001), hai tác giả Nguyễn Đình Hòe và
Vũ Văn Hiếu đã đề cập đến vấn đề phát triển du lịch bền vững, giới thiệu mối
quan hệ giữa du lịch với môi trường. Qua đó, đưa ra các khái niệm, chính
9
sách, quy tắc phát triển du lịch bền vững. Đồng thời, trong cuốn sách này, các
tác giả còn đề cập đến việc khai thác phát triển du lịch theo hướng bền vững ở
những vùng du lịch miền núi. [49]
Nghiên cứu về xây dựng và phát triển mô hình du lịch có tác giả Lê
Thạc Cán trong cuốn Bảo vệ tài nguyên du lịch gắn với cộng đồng tại vườn
quốc gia Ba Bể, đã xây dựng mô hình du lịch cộng đồng - du lịch Ba Bể trên
cơ sở phân tích những thuận lợi và tiềm năng khu vực. Tác giả đưa ra kết luận
rằng: Việc phát triển du lịch tại Vườn quốc gia Ba Bể phải gắn với sự hài hòa
giữa phát triển kinh tế và công tác bảo tồn, luôn coi trọng tính bền vững. Do
đó, các hoạt động về du lịch tại đây, đặc biệt là du lịch sinh thái cần phải đứng
trên quan điểm tài nguyên và môi trường.
Trong chương trình hợp tác Quỹ Á Châu phối hợp với Viện Nghiên
cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (VIRI) triển khai dự án Du
lịch làng nghề thủ công truyền thống ở Bắc Ninh đã tập hợp và xuất bản cuốn
Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng. Trong cuốn sách, tác giả đã
chia nguồn tài nguyên du lịch thành 2 nhóm là nguồn tài nguyên liên quan
đến yếu tố văn hóa và nguồn tài nguyên tự nhiên làm nền tảng. [110]
Nghiên cứu về du lịch cộng đồng còn nhiều công trình khác như: Phát
thú của nó, nhiều hơn so với những gì mà trước khi tới, người khách đã đặt
mục đích cho mình hay kì vọng cho chuyến đi. [48]
Gần đây, trong luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Ngọc Thắng (2010),
Phát triển du lịch gắn với xoá đói giảm nghèo ở Lào Cai, tác giả đã đưa ra
một mô hình phát triển liên kết du lịch mới, coi đó là một giải pháp cho việc
góp phần xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Lào Cai. [126]
Nghiên cứu về du lịch dưới góc độ bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống của người H’Mông ở Sa Pa có tác giả Trần Hữu Sơn với
công trình Tác động của du lịch đến các “giao” của người H‟Mông ở Sa Pa.
Công trình phân tích một cách hệ thống những tác động tích cực và hạn chế
của du lịch đối với người H’Mông ở Sa Pa. Đồng thời, đưa ra những giải pháp
11
nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người H’Mông gắn với
phát triển du lịch, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến người H’Mông ở
Sa Pa. [123]
Gần đây, tổ chức KOICA, trường Đại học Hanyang (2014) đã xây dựng
báo cáo Dự án lập kế hoạch phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Lào Cai. Đây
là một nguồn tài liệu khá dày dặn, đầy đủ về tình trạng và phương hướng phát
triển du lịch của tỉnh Lào Cai. Báo cáo đã chỉ ra “tiềm năng du lịch và văn
hóa đa dạng của Lào Cai được ưu đãi nhưng chưa được sử dụng một cách
hiệu quả. Hiện tại, Lào Cai chưa đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở
hạ tầng như đường sá, điện, nước, xử lý rác thải, nước thải, nhà vệ sinh. Lịch
trình du lịch cũng như địa điểm du lịch còn yếu kém và cần cải thiện chất
lượng các sản phẩm đồ lưu niệm du lịch. Ở Lào Cai, nhiều dân tộc thiểu số
đang sinh sống nên có nhiều tiềm năng du lịch và đa dạng. Những tiềm năng
này vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. [70, tr.4]
Mục đích của dự án: nhằm hỗ trợ thực hiện Chiến lược tăng trưởng
xanh (VGGS) mà Chính phủ Việt Nam đang thực hiện. Thông qua thực hiện
một cơ sở quan trọng để phát triển du lịch, song tính hai mặt của quá trình này
đã khiến cho việc triển khai các quan điểm bảo tồn và phát huy di sản bằng du
lịch không phải là một bài toán đơn giản.
- Văn hóa tộc người, là một dạng tài nguyên nhân văn, cần có những
đánh giá và xác định về khả năng có thể trở thành các sản phẩm văn hóa hay
không. Điều đó cho thấy không phải tất cả các loại hình văn hóa tộc người
đều có thể trở thành sản phẩm du lịch.
- Cộng đồng tại chỗ có một vai trò quan trọng, song việc làm thế nào để
nâng cao năng lực quản lý của họ trong tiến trình bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa gắn với phát triển du lịch vẫn là một vấn đề còn có những tranh luận.
- Điều hòa các lợi ích giữa các bên tham gia tiến trình bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch là một yếu tố quan trọng, song
làm thế nào cân bằng các lợi ích trong những trường hợp cụ thể, lại không có
13
câu trả lời chung, cần có những nghiên cứu và phát triển các lời giải mang
tính thực tiễn của từng trường hợp cụ thể.
- Trong phát triển cộng đồng, nhà nước có vai trò gì trong bối cảnh của
Việt Nam. Có vẻ như Việt Nam là một trường hợp mang tính đặc biệt chăng
khi mà năng lực của các cộng đồng còn rất hạn chế, sống quen với bao cấp từ
nhà nước? Trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với phát
triển du lịch, đối với văn hóa tộc người, còn nhiều thách thức và hạn chế?
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cung
cấp cho tác giả luận án những cơ sở lý luận, nguyên tắc phát triển của du lịch
cộng đồng. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
giúp luận án có được những kiến thức về phát triển du lịch bền vững và các
nghiên cứu về xây dựng sản phẩm du lịch cũng như những kinh nghiệm thực
tiễn đối với những trường hợp cụ thể ở Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa những
và văn hóa tộc người nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng với
việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa người H’Mông ở bản Sín Chải,
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Hơn 50 dân tộc phân bố trên khắp các miền của đất nước cho thấy sự
đa dạng về tiềm năng du lịch của Việt Nam. Trong khuôn khổ của một luận
án văn hóa học, nghiên cứu sinh chọn một địa bàn là tộc người H’Mông ở bản
Sín Chải (Sa Pa) làm trường hợp nghiên cứu cụ thể.
- Không gian: Bản Sín Chải, xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
là cộng đồng đã có một số hoạt động phát triển du lịch cộng đồng song vì
nhiều lý do đã không còn hoạt động, cần có những nghiên cứu để tiếp tục phát
huy giá trị di sản tộc người phục vụ phát triển du lịch.
15
- Thời gian: trong 5 năm, từ 2009 đến 2014 là khoảng thời gian nghiên
cứu sinh đang triển khai làm luận án, có so sánh đối chiếu thời gian trước đó.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên, tác giả áp dụng lý thuyết
phát triển cộng đồng và quản lý di sản có sự tham dự làm nền tảng, trong đó
nhấn mạnh đến sự cân bằng các lợi ích của các bên tham gia.
Dựa trên cách tiếp cận từ dưới lên, tức là từ thực tiễn của phát triển du
lịch cộng đồng mà đánh giá, phân tích mô hình, vấn đề thực tiễn. Do đó
phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận án là phương pháp thực địa,
điền dã dân tộc học.
Để nghiên cứu về du lịch cộng đồng với bảo tồn, phát huy giá trị di sản
văn hóa người H’Mông ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, tác giả
phỏng vấn về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, đánh
giá về du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, các khó khăn và thuận lợi của cộng đồng
địa phương trong quá trình bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch…
- Thống kê: được sử dụng để thu thập các số liệu thống kê về phát triển
kinh tế xã hội, văn hóa, các nội dung có liên quan đến hoạt động du lịch cộng
đồng tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu, công trình nghiên
cứu đã có về du lịch, du lịch cộng đồng, quan hệ giữa du lịch và bảo tồn, phát
huy giá trị di sản…
6. Đóng góp của Luận án
Đề tài đóng góp những luận cứ khoa học và có những quan điểm mang
tính giải pháp, nhằm bảo tồn sự đa dạng văn hóa các tộc người trong xu thế phát
triển du lịch. Thông qua trường hợp người H’Mông tại bản Sín Chải, huyện Sa
17
Pa, tỉnh Lào Cai, cho thấy các tiềm năng văn hóa tộc người trong hoạt động phát
triển du lịch; ngược lại, du lịch đã và sẽ là một công cụ quan trọng để bảo tồn và
phát huy văn hóa tộc người, nếu chúng ta có một định hướng, nguyên tắc, lựa
chọn đúng các loại hình và có các biện pháp can thiệp phù hợp.
Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch phù hợp với văn hóa tộc
người, ở đó, nó không lấy lợi ích kinh tế làm trọng mà có sự cân bằng hơn
giữa bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người và phát triển du lịch.
Sau khi hoàn thành, luận án hy vọng sẽ đóng góp những quan điểm,
những minh chứng cụ thể về thực trạng phát triển du lịch ở bản Sín Chải,
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Tác giả mong muốn công trình sẽ góp một phần nhỏ vào việc bổ sung
thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về người H’Mông ở Lào Cai, đặc biệt về
mảng du lịch, một trong những yếu tố hiện nay đang tác động mạnh mẽ nhất
tới đời sống của người H’Mông ở huyện Sa Pa. Qua đó đóng góp những ý
Trong Hiến chương Venice về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ
(1964) (Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và Kỹ thuật gia về Di
tích lịch sử, diễn ra tại Venice, 1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965)
cho rằng:
“Việc bảo tồn một di tích bao hàm bảo tồn một khung cảnh nằm
trong phạm vi liên quan tới di tích. Khi hãy còn một khung cảnh
truyền thống thì khung cảnh đó phải được bảo vệ. Không một
công trình xây dựng gì mới, một sự phá huỷ hoặc sửa sang nào
mà làm biến đổi mối tương quan giữa khối hình và màu sắc được
phép tiến hành” [60].
Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO giải thích
“Bảo vệ” là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản
văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn,
bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo
19
dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện
khác nhau của loại hình di sản này [143].
Luật Di sản Văn hóa Việt Nam định nghĩa rằng Bảo quản di tích lịch sử
- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động
nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay
đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [77].
Bảo tồn di sản chính là cách thức, biện pháp giữ gìn để di sản sống
cùng cuộc sống của nhân loại. Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về
bảo tồn di sản văn hóa, nhưng có ba quan điểm chính đang được nghiên cứu
và áp dụng là bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn kế thừa và bảo tồn phát triển.
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm
bảo tồn nguyên vẹn phát triển vào những năm 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm
- Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất bên trong của di
sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản
chất của di sản;
- Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ đến hình thức mà
còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [148].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm Đời sống mới đã nêu ra những
quan điểm rõ ràng về sự kế thừa: cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà
không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì
phát triển thêm. Quan điểm đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa trên cơ sở kế
thừa này [124].
Đánh giá chung về hai quan điểm bảo tồn trên, có thể thấy cả hai đều
có những mặt mạnh và những hạn chế. Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn có ưu
điểm là giữ các giá trị văn hóa cần bảo vệ trong một môi trường an toàn,
không bị những yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng. Tuy nhiên, hạn chế của
quan điểm bảo tồn này là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa, rất khó xác
21
định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh vì bản chất của văn hóa
là luôn biến đổi theo những thay đổi của cuộc sống.
Quan điểm bảo tồn kế thừa có mặt ưu việt hơn là những sản phẩm văn
hóa có giá trị, được sàng lọc qua dòng thời gian sẽ có cơ hội tự khẳng định
mình. Những sản phẩm văn hóa truyền thống khi đặt trong bối cảnh mới nếu
không được điều chỉnh sẽ khó có thể tồn tại lâu dài và khó khăn trong việc
xác định đâu là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào cần loại bỏ.
Nó tiềm ẩn sự nguy hiểm khi việc loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị
văn hóa mà chúng ta chưa thật sự hiểu biết về nó.
Hai quan điểm trên có một nhược điểm chung là cứng nhắc, thiếu cái
nhìn khoa học dưới góc nhìn của bảo tồn. Cần đặt hoạt động bảo tồn trong
mối quan hệ với phát huy, tức là bảo tồn di sản văn hóa phải đồng hành với
chuyên môn, hướng tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa,
cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Trong tuyên bố về tính đa dạng văn
hóa (2001), tổ chức UNESCO cho rằng “văn hóa nên được xem như một tập
hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội
hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống,
cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín
ngưỡng” [19]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm “Văn hóa là sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” [86]. Ở một khía cạnh khác, nhóm tác giả trong cuốn Giá trị văn hóa Việt
Nam - truyền thống và biến đổi do GS. Ngô Đức Thịnh chủ biển đưa ra định
nghĩa “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa
mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [130]. Theo định nghĩa
này của các tác giả, khái niệm văn hóa được hiểu là những sáng tạo của con
23
người, mang lại những giá trị cho con người, gồm cả giá trị vật chất và tinh
thần. Điều đó có nghĩa, không phải những gì con người tạo ra đều là văn hóa,
mà chỉ có những cái đã kết tinh thành giá trị thì mới là cốt lõi của văn hóa.
Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã chỉ
ra cấu trúc của văn hóa gồm các thành tố cơ bản, như: phong tục tập quán; tín
ngưỡng, tôn giáo; nghệ thuật tạo hình; lối sống; nhiếp ảnh, điện ảnh; văn
chương; mass media; thông tin, tín hiệu; kiến trúc; nghệ thuật trình diễn; ngôn
ngữ; nghề thủ công; sân khấu tuồng chèo, kịch; lễ hội; nghệ thuật âm thanh...
Ở một hướng khác, những thành tố văn hóa được tác giả chia theo các nhóm,
như: văn hóa sản xuất; văn hóa vũ trang; văn hóa sinh hoạt. [146]
Văn hóa có tính chủ thể, gắn với từng cộng đồng người cụ thể theo các