Mẫu B16. BCTK-BNN
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ CN NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP
CANH TÁC VẢI CHÍN SỚM CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ
CAO TẠI TỈNH BẮC GIANG VÀ HẢI DƯƠNG
Thuộc chương trình nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp
và phát triển khí sinh học (QSEAP)
Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Cơ quan chủ trì: TT Giống cây trồng và CNNN
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Danh Sửu
Thời gian thực hiện: 12 tháng : 10/2014 – 10/2015
HÀ NỘI - 2015
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ CN NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP
Họ và tên
Cơ quan/Tổ chức
1
Trần Danh Sửu
Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp
2
Hoàng Thị Nga
Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp
3
Nguyễn Thị Tuyết
Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp
4
Nguyễn Văn Dũng
Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp
5
Quy trình kỹ thuật canh tác cho giống vải chín sớm được cơ quan
có thẩm quyền tại địa phương ban hành
Quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải bằng giống Lai Thanh Hà
Quy trình trồng và chăm sóc vải chín sớm Lai Thanh Hà
Mô hình quy mô thâm canh và ghép cải tạo thay thế giống giống
bằng giống vải chín sớm Lai Thanh Hà tại Bắc Giang
Mô hình thâm canh giống vải chín sớm Lai Thanh hà tại Hải
Dương
Tập huấn kỹ thuật sản xuất giống vải chín sớm được tuyển chọn
Số lượng
1
1
1
1
1,5ha
1,5ha
160 lượt người
Lời cảm ơn
Đề tài thực hiện thành công trong một thời gian ngắn, ngoài sự nỗ lực của các
chuyên gia thực hiện đề tài còn có sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan chuyên môn, các cơ
quan quản lý về nông nghiệp và chính quyền địa phương ở các tỉnh Hải Dương và Bắc
Giang.
Có được kết quả này, Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ nông nghiệp xin
trân trọng cảm ơn:
- Viện Nghiên cứu Rau quả đã cho kế thừa các kết quả nghiên cứu về cây vải chín
sớm trong những năm gần đây và giúp đỡ về chuyên môn trong quá trình thực hiện.
Hải Dương cho phép nhân giống để sản xuất thử ở địa phương bằng việc công nhận 15
cây đầu dòng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống vải chín sớm lai Thanh Hà, làm
cho vải lai Thanh Hà ra hoa đậu quả ổn định, cải thiện chất lượng quả, chín sớm 10 - 15
ngày so với giống vải thiều Thanh Hà. Quy trình được Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc
Giang và Hải Dương ban hành để khuyến cáo cho sản xuất.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình ghép cải tạo thay thế giống vải bằng giống vải
chín sớm lai Thanh Hà. Quy trình áp dụng làm tỷ lệ ghép sống đạt trên 84%, tăng khả
năng sinh trưởng các đợt lộc, nhanh ra hoa, đậu quả. Quy trình đã được Sở Nông nghiệp
và PTNT Bắc Giang ban hành phục vụ sản xuất.
- Đề tài đã xây dựng 3,0 ha mô hình sản xuất giống vải chín sớm lai Thanh Hà.
Trong đó: 2,0 ha mô hình thâm canh, 1,0 ha mô hình ghép cải tạo thay thế giống bằng
giống vải lai Thanh Hà. Cây trong cac mô hình sinh trưởng khỏe. Mô hình thâm canh 2,0
ha đạt hiệu quả cao hơn 16,5 - 33,6% so với đối chứng, chất lượng quả được cải thiện.
Mô hình ghép cải tạo 1,0 ha, cành ghép bật mầm khỏe.
- Đã đào tạo và tập huấn kỹ thuật cho 160 lượt người về thực hành nông nghiệp tốt
và kỹ thuật sản xuất vải chín sớm.
5
MỤC LỤC
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước................................................................15
2.3.1. Phương pháp tiến hành và bố trí thí nghiệm........................................30
- Thời gian thu hoạch: sớm hơn so với vải thiều ≥10 ngày.............................30
- Năng suất: cao hơn từ 15 - 20% so với đại trà...............................................30
- Chỉ tiêu về phẩm chất quả:..............................................................................30
Khối lượng quả: > 28 gam/quả.........................................................................30
Tỷ lệ phần ăn được: > 70%..............................................................................30
not found
Bảng 3.12. Khả năng sinh trưởng về khung tán của giống vải Lai Thanh Hà (Số
liệu năm 2014)......................................................Error: Reference source not found
7
Bảng 3.13. Một số đặc điểm về lá, hoa, quả của giống vải Lai Thanh Hà........Error:
Reference source not found
Bảng 3.14. Khả năng ra hoa, đậu quả và thu hoạch của giống vải Lai Thanh Hà
..............................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.15. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà
..............................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.16. Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các giống vải tuyển chọn....Error:
Reference source not found
Bảng 3.17. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu cảm quan..Error: Reference source not
found
Bảng 3.18. Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai
Thanh Hà...........................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.19. Danh sách cây đầu dòng tuyển chọn tại Bắc Giang và Hải Dương Error:
Reference source not found
Bảng 3.20. Đặc điểm sinh trưởng bộ khung tán của các cây đầu dòng (Số liệu theo
dõi năm 2015).......................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.21. Thời gian và khả năng sinh trưởng các đợt lộc của các cây đầu dòng
..............................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.22. Khả năng ra hoa, đậu quả của các cây đầu dòng.Error: Reference source
not found
Bảng 3.23. Năng suất thực thu của các cây đầu dòng.....Error: Reference source not
found
Bảng 3.24. Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các cây đầu dòng................Error:
Reference source not found
Bảng 3.37. Quy mô và địa điểm xây dựng mô sản xuất vải lai Thanh Hà........Error:
Reference source not found
9
Bảng 3.38. Lượng phân bón thời kỳ cho thu hoạch tính theo tuổi cây..............Error:
Reference source not found
Bảng 3.39 Lượng phân bón thời kỳ cho thu hoạch.........Error: Reference source not
found
Bảng 3.40. Thời gian chín và năng suất quả ở các vườn mô hình vải lai Thanh Hà Error:
Reference source not found
Bảng 3.41. Chất lượng quả của vải chín sớm lai Thanh Hà ở các vườn mô hình
..............................................................................Error: Reference source not found
Bảng 3.42. Hiệu quả kinh tế ở các vườn mô hình Error: Reference source not found
10
1. Đặt vấn đề
Cây vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả Á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng và
giá trị kinh tế cao trên thế giới, đồng thời là một trong những loại cây ăn quả chủ lực, có
diện tích trồng trọt tập trung lớn nhất ở miền Bắc. Tính đến năm 2014, sản lượng vải trên
thế giới đạt khoảng 2,6 triệu tấn. Trong đó, các nước trồng vải tập trung, với sản lượng
lớn là Trung Quốc: 1.482.000 tấn, Ấn Độ: 624.000 tấn, Madagasca: 100.000 tấn. Một số
nước như: Đài Loan, Thái Lan, Nam Phi, Úc, Mỹ… có trồng vải nhưng diện tích còn nhỏ
và sản lượng thấp.
Theo số liệu của Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và PTNT, đến năm 2014, tổng
diện tích vải của cả nước đạt trên 70 ngàn ha với sản lượng đạt khoảng 300 ngàn tấn,
đứng thứ 3 trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ). Tập trung chủ yếu tại 2 tỉnh:
11
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Tuyển chọn và phát triển được giống vải chín sớm, có năng suất cao, chất lượng
khá, có giá trị hàng hóa, thích hợp cho các tỉnh Bắc Giang và Hải Dương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tuyển chọn được 1 - 2 giống vải chín sớm (sớm hơn 15 ngày so với vải chính vụ)
có năng suất cao, chất lượng khá, có giá trị hàng hóa, thích hợp cho các tỉnh Bắc Giang
và Hải Dương (được Bộ NN&PTNT công nhận hoặc được Sở NN và PTNT chấp nhận
đưa vào sản xuất).
- Hoàn thiện được quy trình trồng và chăm sóc cho các giống tuyển chọn.
- Xây dựng được 3ha mô hình trình diễn giống và ứng dụng các kết quả nghiên
cứu tại Bắc Giang và Hải Dương, làm hiệu quả kinh tế tăng 15 - 20%.
- Tập huấn được cho 80 lượt người nắm được được kỹ thuật sản xuất giống vải
tuyển chọn.
12
Chương I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số kết quả nghiên cứu về tuyển chọn giống vải trong và ngoài nước
1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước
Trung Quốc được coi là nước có số lượng giống vải nhiều nhất trên thế giới, với
trên 200 giống. Trong đó, các giống quan trọng được tập trung phát triển và sử dụng cho
công tác chọn tạo có gần 100 giống, được phân thành 3 nhóm chính:
- Các giống vải thương phẩm đang phát triển rộng: 33 giống
- Các giống vải địa phương trồng còn ít: 20 giống
- Các giống vải quý hiếm mang tính đặc thù: 22 giống
13
thuộc nhóm này. Giống Kom được coi là giống quan trọng của nhóm vải Nhiệt đới, giống
Hong Huay là giống chủ đạo của vùng Á nhiệt đới (Anupunt và Sukhvibul, 2003),
(Chinawat và Suranant, 2000).
Bảng 2.1. Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới
TT
Tên nước
Tên giống
San Yee Hong, Baitangying, Fay Zee Siu, Bah Lup, Wai chee, Haak
1 Trung Quốc Yip, Kwai Mi, No Mai Chi, Souey Tung, Tai So, Brewster Baila,
Heiye, Guiwei, Huaizhi, HongHu, Dongguan Seedlesss
Ajhuli, Bedana, Shahi, Bombai, China, Deshi, Calcutta, Rose
2 Ấn độ
Scented, Green, Kasba, Longia, Purbi, và Mazaffarpur.
3 Thái Lan
Tai So, Wai chee, Baidum, Chacapat và Kom
4 Đài Loan
Haak Ip, Sah Keng, Yu Her Pau, No Mai Chi, Sa Ken và Kwai Mi.
5 Australia
Fay Zee Siu, Tai So, Bengal, Wai Chi, Kwai May Pink, và Salathiel
6 Nam Phi
Tai So, Bengal,
7 Madagascar Tai So
8 Mauritius
Tai So
9 Mỹ
thập kỷ 80 của thế kỷ 20 (trong phạm vi nghiên cứu và trao đổi không chính thức, một số
giống vải tốt của Trung Quốc đã được đưa sang khảo nghiệm tại Phú Thọ từ những năm
60). Vào những năm 1989 – 1992, tập đoàn 7 giống vải có nguồn gốc từ Trung Quốc,
Australia được nhập nội và trồng tại Nông trường quốc doanh Lục Ngạn. Kết quả khảo
nghiệm và đánh giá cho thấy, 3 giống có triển vọng là Swei Tung, Sum Yee Hong và Fay
Zee Siu song đều là giống chín chính vụ (Phạm Minh Cương và cộng sự, 2000).
Tập đoàn 5 giống vải: Mỏ gà, Phi Tử Tiếu, Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và Bạch
Đường Anh đã được nhập nội và đánh giá tại Viện Nghiên cứu Rau quả từ những năm
1997. Kết quả cho thấy: giống vải Mỏ gà có khả năng sinh trưởng tốt, ra quả đều qua các
năm, khối lượng trung bình quả: 25 – 30g, tỷ lệ ăn được xấp xỉ 80% (tương đương các
giống hạt lép trồng tại Trung Quốc).
Ngoài ra, các giống vải ưu tú, hạt lép của Trung Quốc như Đại Hồng, Diệp Xuân 1,
Diệp Xuân 2... cũng đã được nhập về Việt Nam thông qua các cơ quan quản lý, sản xuất
nông nghiệp như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh: Bắc Giang, Quảng
Ninh, Yên Bái...và đang tiếp tục được theo dõi, đánh giá.
Theo Trần Thế Tục (1998), (2004), các giống vải của nước ta có thể phân chia theo
thời vụ thu hoạch, đặc điểm sinh trưởng hoặc phẩm chất quả. Ở miền Bắc Việt Nam các
nhóm giống và giống vải được phân chia như sau:
- Theo thời vụ có: nhóm vải chín sớm, nhóm vải chín chính vụ và nhóm vải chín
muộn.
- Theo đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả có: nhóm vải chín sớm, nhóm vải
chính vụ và nhóm vải chín muộn.
* Các giống vải chín sớm: là các giống vải có thời gian chín từ 5/5 đến 30/5 hàng
năm trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam. Có đặc điểm: chùm hoa có phủ một lớp
lông thưa màu nâu, khối lượng trung bình quả đạt 30 - 40g, tỷ lệ phần ăn được 65 - 72%,
quả hình tim hay hình trứng, vỏ quả khi chín có màu xanh vàng hay đỏ sẫm, ăn có vị
ngọt, hơi chua. Các giống này thường có năng suất khá cao, có khả năng thích ứng rộng
hơn các giống chính vụ và chín muộn. Một số giống thuộc nhóm này là: Hùng Long, Yên
Hưng, Yên Phú, Phúc Hoà, Bình Khê.
Nhưng năm gần đây, Viện Nghiên cứu Rau quả đã điều tra đánh giá các giống vải
khác.
Hướng nghiên cứu chọn tạo giống vải trong nước hiện tại và tương lai là tiếp tục
đánh giá, chọn lọc và cải tiến tập đoàn giống hiện có; chọn tạo giống theo hướng lai hữu
tính, gây đột biến (bao gồm cả xử lý đột biến bằng tác nhân vật lý và hoá học) để có được
bộ giống phong phú, có năng suất cao, phẩm chất tốt bao gồm các giống chín sớm, chính
vụ, chín muộn để kéo dài thời gian cho thu hoạch, bên cạnh đó là nhập nội các giống vải
ưu tú (vải hạt lép, không hạt) từ các nước có điều kiện sinh thái tương đồng để khảo
nghiệm, đánh giá, chọn lọc và đưa vào sản xuất thay thế các giống cũ.
Như vậy, tập đoàn giống vải của các nước trên thế giới và Việt Nam rất phong phú
nhưng chủ yếu là các giống chín chính vụ và chín muộn (thời gian chín tập trung từ đầu
tháng 6 đến giữa tháng 7). Các giống chín sớm có mặt với diện tích còn rất hạn chế. Do
vậy, nếu bổ sung được một số lượng thích hợp các giống vải chín sớm thông qua việc
đánh giá tuyển chọn giống bản địa ưu tú và chọn tạo giống mới sẽ góp phần rải vụ thu
hoạch, nâng cao hiệu quả trồng trọt, đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
1.2. Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất vải trong và ngoài nước
1.2.1. Những nghiên cứu ngoài nước
1.2.1.1. Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa
Ở tất cả các nước trồng vải trên thế giới đều có những nghiên cứu về các biện
pháp cắt tỉa, tạo hình và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung tán cân đối, thuận
lợi cho quang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý, làm tăng năng suất, phẩm
chất quả.
Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau. Tùy theo từng loại cây mà
phương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻ quạt... Ngoài việc
16
cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắn chùm hoa nhằm hạn chế tiêu
hao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và phát triển của quả tốt hơn.
Theo Hertslet (1989), đốn, cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuật điều chỉnh
sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây vải nói riêng. Muốn biết cắt tỉa vào
thân, cành và bộ tán.
+ Thay rễ mới: việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa. Bộ rễ có
tác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây. Nếu bộ rễ già cỗi, năng lực hấp thu kém,
lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng lá thậm chí cây bị chết khô.
17
Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nâng cao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vật
chất cho cành sinh trưởng. Biện pháp hữu hiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạo
đất.
Theo Menzel (2002), đốn tạo hình cho các giống như: Tai So, Kwai May Pink
trong thời kì cành sinh trưởng mạnh hoặc tạo những cành mẹ, người ta cắt đi xấp xỉ 15
cm trong vụ xuân (ở lộc xuân năm thứ 2). Việc tăng số lượng của chồi ở các điểm cắt sẽ
tạo ra số lượng lớn hoa và quả, giảm bớt sự rủi ro khi cành bị điều kiện ngoại cảnh xấu
tác động. Với những giống phân cành dày như: Kwai May Pink, Wai Chi thì cắt đi xấp xỉ
10 - 20% số cành trong tán ở năm thứ 3.
Mặc dù đã được đốn tỉa nhưng với những giống như: Tai So thì cành vẫn có khả
năng bị bẻ gẫy (cành yếu). Để giảm bớt sự rủi ro này, người trồng vải ở Australia đã dùng
biện pháp: treo cành to, nặng vào thân chính để chống cành bị chẻ ra. Biện pháp này cũng
rất phù hợp với các giống ở Châu Á (Simpson và cộng sự, 1992).
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), khi cắt tỉa, bắt đầu tiến hành từ
cành to trong tán trở ra. Sau khi cắt tỉa xong, giữ cho các cành xung quanh tán phân bố
đều, tầng lá dầy. Khi ánh sáng chiếu xuống dưới tán chỉ thấy đốm sáng bằng đồng xu là
vừa. Sau khi cắt tỉa, mầm bất định ở gần vết cắt của cành mọc ra làm rối loạn hình dạng
tán, tiêu hao dinh dưỡng. Cần vặt bỏ kịp thời những chồi này (tỉa chồi).
Ảnh hưởng của gió, bão cũng là một trong những yếu tố cần chú ý đối với một số
giống vải. Theo Nakasone và cộng sự (1998), việc đốn tỉa cho các cây còn trẻ sẽ tạo cho
chúng một cấu trúc khoẻ mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của gió bão và làm
tăng diện tích mang quả. Với những giống có cành dài như: Fay Zee Siu, Tai So... cành
< 1,0
Đạm Nitơrát (mg/kg)
10 - 50
Phốt pho (mg/kg)
100 - 300
Kaly (meq)
0,5 - 1,0
Magiê (meq)
2-4
18
10
11
12
13
14
Canxi (meq)
Đồng (mg/kg)
Kẽm (mg/kg)
Mangan (mg/kg)
Bo (mg/kg)
3-5
1-3
2 - 15
10 - 50
1-2
lần, chủ yếu xoay quanh thúc hoa, thúc quả và thúc lộc.
Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, nhu cầu dinh dưỡng của cây
ăn quả... Một số nước đã áp dụng công nghệ tin học xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa
19
trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Đài Loan, Nhật
Bản...
1.2.1.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá
Biện pháp bổ sung các loại dinh dưỡng qua lá được sử dụng rộng rãi ở tất cả các
nước trên thế giới. Có rất nhiều loại chế phẩm dinh dưỡng với các nguyên tố đa, vi lượng
có thể phối trộn với một số chất điều tiết sinh trưởng. Ở Trung Quốc, phun dinh dưỡng
lên lá thường dùng: urê 0,3 - 0,5%, Kalidihydrogen Photphat 0,3 - 0,4%, KCl 0,3 - 0,4%;
tro bếp 1 - 3% hoặc dung dịch Surperphotphat ngâm lộc 1 - 3%. Thời gian lá non, nụ và
quả non nên phun nồng độ thấp, khi lá già và quả lớn thì phun nồng độ cao hơn. Đây là
phương pháp nhằm giúp cây hấp thu dinh dưỡng trực tiếp qua lá nhằm tăng khả năng tích
luỹ trong cây, thúc đẩy các đợt lộc trong năm của cây nhanh thành thục.
Theo Lương Xương, sau khi rữa hoa, thời kỳ gộp hạt và thời kỳ hạt bại dục, dùng
dung dịch 0,2 % Kali dihydrogen photphat, thêm 0,8% ure + 0,1% sunphat Magie phun
lên lá làm tăng tỷ lệ đậu quả 13,1% so với đối chứng.
1.2.1.4. Nghiên cứu về các chất điều hoà sinh trưởng trên cây vải
- Nghiên cứu về các chất kích thích sinh trưởng
Auxin tổng hợp đã được sử dụng để điều khiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida
và Hawai vào những năm 1950 - 1960 (Menzel, 2002). Ở Hawaii, phun NAA trên cây vải
vào mùa thu thúc đẩy quá trình ra hoa (Shigeura, 1984; Bonner và Liverman, 1953).
Khan và cộng sự (1976) đã dùng GA 100 ppm, NAA 20 ppm, 2,4,5 - TP 10 ppm phun
trên giống vải Rose Scente vào giai đoạn quả bằng hạt đậu làm giảm rụng quả. Trên
giống Early Seedless và Calcuttia, phun IAA 20 ppm làm giảm rụng quả, GA3 50 ppm có
tác dụng giữ quả tốt và GA3 100 ppm làm tăng kích thước của quả (Singh và Lal, 1980).
thời kì quả lớn với nồng độ 25 - 50 ppm có tác dụng thúc quả lớn.
Theo Stern và cộng sự (1999), xử lý trên hai giống vải Feizixiao và Heiye khi quả
được khoảng 2 gam bằng 2,4,5 - TP 67 ppm; 3,5,6 - TPA 50 ppm hoặc có thể phối hợp
phun 2,4,5 - TP lần thứ nhất, 4 ngày sau phun tiếp 3,5,6 - TPA đã làm năng suất quả/cây
của cả hai giống tăng đáng kể. Giống Feizixiao từ 1,3 kg/cây tăng lên xấp xỉ 3,6 kg/cây,
giống Heiye từ 1,0 kg/cây tăng lên 3,1 kg/cây. Không có sự khác nhau giữa các công thức
xử lý về khối lượng quả. Ở cả 3 công thức trên đều làm khối lượng quả của giống
Feizixiao (từ 21,5 gam đến 28,0 gam) tăng xấp xỉ 30% so với đối chứng. Khối lượng quả
của giống Heiye cũng tăng 20% với công thức xử lý là 3,5,6 - TPA.
Theo Nakasone và Paull (1998), để làm giảm kích thước hạt hay sản xuất quả
không hạt sử dụng 2,4,5 - Trechlorophenoxypropionic acid (2,4,5 - TP). Ngoài việc ngăn
ngừa rụng quả ở mức độ cao, chất này còn làm cho trên 75% số lượng quả vải có hạt nhỏ.
Khi hoa nở, xử lý 2,4,5 - TP lần thứ nhất, sau đó phun phối hợp 2,4,5 - TP và GA thì 50 100% số quả tăng so với khi chỉ xử lý một lần trước đó và 90 - 100% quả không có hạt.
- Nghiên cứu về các chất ức chế sinh trưởng.
Trong các chất ức chế sinh trưởng, Ethrel, có tác dụng diệt và khống chế ra lộc
đông của cây vải, kìm hãm sinh trưởng, xúc tiến phân hoá mầm hoa giúp cây vải ra hoa
đậu quả tốt hơn. Ghosh và cộng sự (1986) xử lý Ethrel nồng độ 1,25 đến 2,5 ml/l làm cho
hoa ra sớm hơm 7 - 13 ngày và làm tăng số lượng hoa cái. Sanyal và cộng sự (1996) cũng
cho biết, khi xử lý Ethrel 1ml/l trên giống vải Bombai đã làm 70% số cành ra hoa. S.K.
Mitra và Sanyal (2000) cũng cho thấy việc xử lý TIBA làm tăng số lượng hoa lưỡng tính
và tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt phấn.
Một trong các biện pháp để khắc phục những yếu tố hạn chế trong sản xuất vải ở
Trung Quốc là sử dụng Ethrel, Paclobutrazol và B9 để ức chế sinh trưởng và thúc đẩy
phân hoá mầm hoa (Zhiyuan Huang, Yungu Zhang, Longhua Li, Aimin Guo, Zhiyong
Cai và Yun Li, 2000). Theo Nirmala Ramburn, phun Paclobutrazol 500 ppm + Ethrel
1000 ppm có thể làm tăng khả năng ra hoa của giống Tai So trồng ở Mauritius.
Ở Trung Quốc, năm 1984, Khâu Tự Đức dùng Malein Hydrazit (MH) 1.000 1.500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày đã làm cho hạt quả vải Hoài Chi bé tí
21
1.2.2. Những nghiên cứu trong nước
1.2.2.1. Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa
Cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấp thu
tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh,
điều tiết sinh trưởng. Đã có những nghiên cứu về cắt tỉa được tiến hành trên vải chín
sớm: Cắt tỉa tạo hình cho cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cắt tỉa cho cây đang thời
kỳ kinh doanh. Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành sau thu hoạch và quy trình của
Viện Nghiên cứu Rau quả có tác dụng điều chỉnh số lộc hữu hiệu, chất lượng cành lộc,
22
làm tăng khả năng ra hoa, tăng số chùm quả/cây, tăng số quả/chùm và làm tăng năng suất
vải.
Nguyễn Văn Dũng (2009): Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành (cắt bỏ các đầu
cành ở vị trí 1 - 2 cm từ phần bẻ quả hoặc đỉnh sinh trưởng) và quy trình của Viện
Nghiên cứu Rau quả (sau thu hoạch cắt tỉa toàn bộ các cành sâu bệnh, cành tăm, cành
vượt, tỉa bỏ bớt cành thu kém chất lượng, tỉa hoa vụ xuân) giúp rút ngắn thời gian hoàn
thành một đợt lộc từ 3 - 5 ngày, làm tăng chất lượng lộc, diện tích lá, khả năng đậu quả
và làm tăng năng suất vải từ 24,6 - 29,4% so với đối chứng không cắt tỉa.
Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Dũng, Đào Quang Nghị (2006 - 2007) đã cải
tiến biện pháp cắt tỉa trên vải chín sớm Yên Hưng và Yên Phú từ 3 lần cắt tỉa chỉ còn 2
lần, lần 1 sau thu hoạch 15 ngày, lần 2 vào giữa tháng 11 đã tiết kiệm được công lao
động, khả năng ra hoa, đậu quả tốt, năng suất không sai khác so với phương pháp cũ và
cao hơn nhiều so với đối chứng.
1.2.2.2. Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân
Ở Việt Nam, theo quy trình bón phân cho vải chín sớm của Viện Nghiên cứu Rau
quả, lượng phân bón cho cây ở các thời kỳ chưa cho quả và cho quả như sau:
Lượng phân bón thời kỳ chưa cho quả tính theo tuổi cây/năm
Tuổi cây
700
250
Lượng phân bón thời kỳ cho quả tính theo tuổi cây
Tuổi cây
Lượng phân bón (kg/cây/năm)
Phân chuồng
Đạm Urê
Lân Supe
Kaliclorua
4 - 6 40 - 50
0,65
1,00
1,00
7-9 -
0,90
1.2.2.3. Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá
23
Các nghiên cứu về sử dụng dinh dưỡng qua lá trên cây vải ở nước ta hiện còn ít.
Để cung cấp dinh dưỡng cho cây, người ta thường sử dụng biện pháp, bón phân
vào đất, kết hợp phun dung dịch phân trên lá. Tuy nhiên, trong một số trường hợp bộ rễ
yếu hoặc điều kiện ngoại cảnh bất thuận ảnh hưởng đến hấp thu cũng như khi cây cần
gấp bổ sung một nguyên tố nào đó thì bón phân trên lá phát huy kết quả tốt. Ví dụ: vụ
đông và đầu vụ xuân do đất khô hạn nhiệt độ thấp, năng lực hoạt động của rễ kém, hấp
thu phân chậm thì bón phân trên lá có tác dụng hỗ trợ cho cây sinh trưởng tốt hơn. Trong
thời kỳ phân hoá mầm hoa hoặc trong thời gian hoa phát triển và thời kỳ quả non, bón
phân lên lá sẽ tăng khả năng ra hoa, đậu quả.
Theo Nguyễn Văn Dũng (2009), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều
tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất
vải chín sớm cho thấy: Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá có tác
động tốt đến năng suất, chất lượng vải cụ thể là:
- Phun GA3 nồng độ 50 ppm làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng số lượng quả đậu/chùm
lên 31,8% và tăng năng suất 45,4%, không thay đổi đáng kể chất lượng quả.
- Phun Bo 0,1% + Urê 10g/lít rút ngắn được thời gian thành thục lộc thu 7 ngày,
tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất 53,7% so với đối chứng. Trong đó, phun Bo 0,1% +
Urê 10g/lít tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C, chất khô, giảm hàm lượng axit,
nâng cao phẩm chất quả vải.
1.2.2.4. Nghiên cứu về các chất điều hoà sinh trưởng trên cây vải
Theo Phạm Minh Cương (1998), phun α- NAA 20 ppm + 2,4D 10 ppm làm giảm
rụng quả, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất và chất lượng của hai giống vải thiều Thanh
Hà và thiều Phú Hộ . Trong khi đó, phun GA3 50 ppm chỉ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu
quả của giống vải thiều Thanh Hà, còn đối với giống vải thiều Phú Hộ thì số quả tăng so
với đối chứng là không có ý nghĩa. Phun IAA 20 ppm làm số quả đậu của giống vải thiều
đục quả và bọ xít.
Thuốc Dipterex, Sherpa và Regent đều cho hiệu lực trừ bọ xít rất cao, tỷ lệ sâu
chết sau 7 ngày là 91,3 - 95,5%. Phòng trừ bọ xít giai đoạn bọ xít non tuổi 1 - 3, giai đoạn
bọ xít ra rộ tháng 3 - 5 cho hiệu quả phòng trừ tốt nhất, ngăn chặn được nguồn bọ xít
chuyển sang gây hại quả
Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Dũng, Đào Quang Nghị (2006-2007) đã tiến
hành nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc đối với sâu đục quả vải. Kết quả cho
thấy, các loại thuốc thí nghiệm cũng đạt hiệu quả phòng trừ cao nhất tại thời điểm sau
phun 7 ngày, từ 71,3-94,3%. Trong đó, thuốc Sherpa đạt 94,3%, tiếp đến thuốc Regent
91,7%.
Đối với bệnh hại vải có khoảng trên 40 loài. Bệnh gây hại tương đối nặng cho vải
là bệnh sương mai (mốc sương), bệnh thối chua, bệnh loét, bệnh đốm tảo. Ở một nghiên
cứu khác, Nguyễn Văn Nghiêm và Đào Quang Nghị cho thấy, hiệu lực phòng trừ bệnh
sương mai trên vải chín sớm của Anvil 5SC cao nhất, tiếp đến là Rhidomil MZ 72 và
Zineb 80WP.
1.2.2.6. Nghiên cứu về ghép cải tạo thay thế giống vải
Trong giai đoạn từ 2005 trở về trước, diện tích vải chủ yếu là giống vải thiều,
chiếm đến trên 99% diện tích. Các giống chín sớm cũng đang được tuyển chọn nhưng
chưa phát triển được nhiều trong sản xuất. Trước thực trạng đó, Viện Nghiên cứu rau quả
đã có nhiều nghiên cứu về biện pháp ghép cải tạo nhằm thay thế nhanh một phần diện
tích vải chính vụ sang giống vải chín sớm, tăng hiệu quả cho người sản xuất.
Vũ Mạnh Hải, Ngô Hồng Bình, Đào Quang Nghị đã khuyến cáo kỹ thuật ghép cải
tạo cho cây vải có bộ tán vừa phải (từ 7 năm tuổi trở xuống), kỹ thuật ghép cải tạo cho
cây vải có bộ tán lớn (từ 8 năm tuổi trở lên). Các nghiên cứu cũng đã xác định kỹ thuật
đốn tỉa cành, định cành gốc ghép, định cành ghép, xác định vị trí ghép, kích thước cành
ghép cũng như chăm sóc trước và sau ghép. Tuy nhiên, một số kỹ thuật còn chưa được
25