1
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN VĂN QUYỀN
TRẦN VĂN QUYỀN
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN
Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài. .....................10
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử-
3.1. Mục đích ................................................................................................................................................................................................10
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo - nhà dân tộc
3.2. Đối tượng nghiên cứu. ....................................................................................................................................................11
học Hoàng Hoa Toàn. Người đã đóng góp những ý kiến rất quý báu và bổ ích
3.3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................................................................................11
cho tác giả trong qua trình tiến hành luận văn.
3.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài .......................................................................................................................11
Tác giả cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái
4. Nguồn tư liệu ...............................................................................................................................................................................................12
Nguyên, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các phòng ban
5. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................................................................................12
chuyên môn của huyện Võ Nhai; Sở Văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên;
6. Đóng góp của đề tài ..........................................................................................................................................................................12
1.4. Dân cư và các dân tộc trên địa bàn huyện .............................................................................................23
1.4.1. Dân cư .................................................................................................................................................................................................23
1.4.2. Các dân tộc ở Võ Nhai .............................................................................................................................................25
TRẦN VĂN QUYỀN
CHƢƠNG 2 ......................................................................................................................................................................................................................29
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƢỜI TÀY ..............................................................................................................29
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................................................................29
2.1. Tên gọi và không gian sinh tồn ...............................................................................................................................29
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
6
2.1.1. Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản ...........................................................................29
PHẦN MỞ ĐẦU
2.1.2. Không gian sinh tồn......................................................................................................................................................37
2.2. Cơ cấu tổ chức ....................................................................................................................................................................................56
CHƢƠNG 3 ......................................................................................................................................................................................................................85
chúng ta không thể phủ nhận. Nghiên cứu làng xã, chúng ta sẽ làm sáng tỏ
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG BẢN NGƢỜI TÀY Ở VÕ NHAI...................................................85
nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc cũng như những truyền thống, phẩm chất của
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN NAY ..................................................................................................85
con người Việt Nam nói chung.
3.1. Nguyên nhân biến đổi .............................................................................................................................................................85
Vấn đề nghiên cứu làng xã cổ truyền Việt Nam càng trở nên bức thiết và
3.2. Diễn biến và những biểu hiện ....................................................................................................................................86
có ý nghĩa hơn khi hiện nay vấn đề: Nông nghiệp – nông dân – nông thôn
3.2.1. Những biến đổi về không gian sinh tồn .......................................................................................86
ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Đảng đề
3.2.2. Những biến đổi trong nền kinh tế ..........................................................................................................94
ra mục tiêu là phải đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
3.2.3. Sự biến đổi trong cơ cấu tổ chức .............................................................................................................99
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
8
nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
một cách có hệ thống, các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông
Do tầm quan trọng và rộng lớn của vấn đề mà đề tài làng xã Việt Nam
dân, nông thôn; cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ,
nói chung đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học
thiếu tính đột phá, một số chủ trương chính sách không hợp lý, thiếu tính khả
ở cả trong và ngoài nước trong những giai đoạn gần đây.
“Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ là có giá trị tư liệu hơn cả.
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, đồng bào các dân tộc
Từ thế kỷ thứ XVI – XVII trở đi, làng việt là đối tượng điều tra nghiên
nơi đây đã có những đóng góp rất lớn cho cách mạng trong lịch sử. Đến nay,
cứu của các thương nhân và giáo sĩ phương Tây. Mục đích lớn nhất của họ là
điều kiện kinh tế vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
phục vụ cho công cuộc xâm lược và đô hộ Việt Nam. Vì vậy, những nghiên
trong Huyện còn ở mức thấp. Trong các dân tộc thiểu số ở đây, người Tày có
cứu đó chưa được hệ thống và khách quan. Tất nhiên, đây cũng là nguồn tư
số lượng lớn nhất và có quá trình định cư lâu dài nhất.
liệu không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu làng xã cổ truyền.
Việc nghiên cứu làng bản cổ truyền của người Tày sẽ góp một phần rất
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, việc nghiên cứu làng Việt được mở
quan trọng vào việc tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về lịch sử xây dựng và
rộng hơn trước. Một số tác giả người Pháp đã có những tác phẩm chuyên
Nội, 1951). Làng xã Việt Nam của Toan Ánh (Sài Gòn, 1968).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
10
Cuốn sách đầu tiên nghiên cứu làng xã Việt Nam theo quan điểm macxit
đề đại đoàn kết dân tộc. Tất cả những chính sách về dân tộc thiểu số của Đảng
là cuốn “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trường Chinh và
ta đều xoay quanh 3 nguyên tắc: Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ, nhằm làm
Võ Nguyên Giáp) do Đức Cường xuất bản năm 1937. Vấn đề làng xã chỉ thực
sao từng bước vững chắc nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của
sự được giới sử học Việt Nam ở miền Bắc đặc biệt quan tâm nghiên cứu kể từ
đồng bào, làm sao cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Đồng bào các dân tộc
làng bản của các dân tộc chỉ được họ đề cập đến như một khía cạnh, chưa
phải đi sâu nghiên cứu mang tính chất chuyên đề. Những nghiên cứu về dân
- Ngày càng nhiều những học viên, nghiên cứu sinh ở cả trong và ngoài
nước chọn làng xã là đối tượng học tập, nghiên cứu của họ.
tộc Tày cũng vậy.
Đặc biệt, vấn đề “ Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai
Mặc dù có những mục đích và quan niệm không giống nhau nhưng các
tỉnh Thái Nguyên” chưa có ai nghiên cứu và công bố. Chính vì vậy, đề tài
nhà nghiên cứu đã cung cấp thêm những tư liệu mới, đưa ra những nhận định
nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề này. Những công trình
mới, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức về làng xã Việt Nam truyền
nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để
thống và hiện đại. Tuy nhiên, đó mới chỉ được coi là những thành quả bước đầu.
chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Nhưng một thực tế mà khi tìm hiểu chúng tôi thấy, đó là chưa hề có
chuyên đề hay những công trình đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức làng bản
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
11
12
Cụ thể hơn, tác giả mong muốn làm phong phú hơn những hiểu biết của
khoa học về bản sắc văn hoá của dân tộc Tày vốn đã có nhiều nét đặc trưng
trong đời sống vật chất, văn hoá tinh thần và tổ chức xã hội.
Nêu lên những nét đặc trưng cổ truyền trong văn hoá làng bản của đồng bào.
4. Nguồn tƣ liệu
Đề tài làng xã cổ truyền nói chung và làng bản cổ truyền của người dân
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhận thức rõ hơn một cơ cấu
tộc thiểu số nói riêng hầu như không được bất kỳ một cuốn chính sử của một
xã hội truyền thống, lâu đời của miền núi nước ta. Qua đó, tác giả đề tài mong
vương triều phong kiến nào đề cập đến. Tuy nhiên, khi tham khảo kỹ một số
muốn đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới, làng bản văn hoá ở
bộ sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… chúng tôi cũng đã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh
tìm được một số thông tin liên quan nhằm phục vụ cho đề tài của mình.
Thái Nguyên nói riêng trong cuộc sống xã hội hiện đại.
giới huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày nay (tập trung vào các xã phía
nhất và khách quan nhất, chất lượng đề tài tốt nhất trong khả năng có thể.
Bắc, nơi có người Tày cư trú với tỷ lệ cao).
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tổ chức làng bản cổ truyền
3.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Khái quát về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên: Vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, dân số, các thành phần dân tộc, lịch sử hành chính của huyện…
của người Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về dân tộc Tày nói
Kết cấu tổ chức làng bản của dân tộc Tày, ảnh hưởng của kết cấu đó lên
chung và dân tộc Tày ở địa bàn huyện Võ Nhai nói riêng. Qua đó, kết quả
hoạt động kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần và những truyền thống trong
nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm cơ sở khoa học cho việc thực hiện các
đời sống văn hoá của họ; so sánh với làng Việt truyền thống và một số dân tộc khác.
chính sách của chính quyền địa phương các cấp nhằm nâng cao đời sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ngoài ra, đề tài còn có các mục: Tài liệu tham khảo và phụ lục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
16
Ngày 25/2/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
ký sắc lệnh số 148/SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận, tổng.
Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai gồm 17 xã.
1.1. Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ nghiên cứu làng bản cổ
truyền của dân tộc Tày trên địa bàn thuộc địa giới huyện Võ Nhai ngày nay
nhưng chúng tôi cũng xin phác qua ở đây quá trình hình thành và sự thay đổi
của địa giới hành chính huyện qua các thời kỳ lịch sử.
Ngày 22/12/1949, theo Nghi định số 224/ttg của Thủ tướng Chính phủ,
Như vậy, ta có thể thấy, châu Vạn Nhai, hoặc huyện Võ Nhai trong lịch
quan. Đời Đồng khánh (1886- 1888), huyện Võ Nhai vẫn gồm 8 tổng và 29
sử có địa giới rộng hơn rất nhiều so với ngày nay, bao gồm cả huyện Bắc Sơn,
xã, trại. 8 tổng ở Võ Nhai lúc này gồm: Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tràng Xá, Bắc
Lạng Sơn ngày nay và một phần huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Tri, Vĩnh Yên.
1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện lỵ thời trước đặt ở xã Lâu Thượng, đến đời Đồng Khánh chuyển
1.2.1. Vị trí địa lý
Sách Đại Nam nhất thống chí có chép: Huyện Võ Nhai cách phủ 82 dặm
vào xã Tràng Xá [19, tr. 987, 10, tr. 7].
Năm 1894, thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh Sơn,
về phía bắc, đông- tây cách nhau 124 dặm, nam- bắc cách nhau 152 dặm, phía
Tân Lưu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc
đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 35 dặm, phía tây đến địa
tỉnh Lạng Sơn. Huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai gồm 6 tổng:
0
0
Bắc và 105 45 đến 106 17 kinh độ Đông. Phía bắc huyện Võ Nhai giáp
như sau:
huyện Na Rì - Bắc Kạn, phía đông bắc giáp huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn, phía
Tiểu vùng I: Bao gồm các xã, thị trấn dọc Quốc lộ 1B: Thị trấn Đình Cả,
nam giáp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên và Yên Thế - Bắc Giang, phía tây
các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng. Đây là vùng thấp nhất của
giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương - Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên
Huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, tạo nên bởi
của toàn huyện theo địa giới hành chính là 845.1 km2.
những thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn.
Thị trấn Đình Cả là huyện lỵ, trung tâm kinh tế - xã hội của huyện cách
Tiểu vụng II: gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao,
thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía đông bắc, cách thị trấn Đồng
1.2.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình đất đai: điểm nổi bật của địa hình Võ Nhai là núi cao, dãy
nghiệp, 77,24 km2 đất nông nghiệp, 1,55 km2 đất nuôi trồng thuỷ sản, 22,13
Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và dãy Bắc Sơn
km2 đất phi nông nghiệp và 182,92 km2 đất chưa sử dụng. Có thể thấy dù là
chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vì vậy, huyện có địa hình phức tạp.
một huyện có diện tích rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nhưng tiềm năng đất
Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92% diện tích tự nhiện. Núi đá vôi tập
đai ở Võ Nhai không lớn, lại bị chia cắt mạnh. Đất dành cho phát triển đô thị
trung ở phía bắc huyện, còn xuống phía nam, độ cao giảm dần. Phần phía nam
và giao thông trở nên khan hiếm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân
huyện phổ biến là những núi đất thấp, đặc trưng của vùng trung du.
bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp trong tương lai. Đất đai dành cho nông
Toàn huyện có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 – 800m,
nghiệp ở Võ Nhai nhìn chung không có độ phì nhiêu lớn và đang bị suy thoái mạnh.
đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại khu vực 6 xã
diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
phía bắc huyện.
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5mm và phân bố không đều, chủ yếu
Khoáng sản: Võ Nhai nằm trong tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng sinh
tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1.765mm (chiếm 91% lượng mưa
khoáng Đông Bắc - Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng tây Thái Bình
cả năm). Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng
Dương. Do vậy, huyện có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và
372,2mm [19, tr. 985].
trữ lượng.
Mưa lớn và tập trung gây xói mòn đất, lũ lụt ảnh hưởng tới cây trồng, độ
Kim loại mầu: chì, kẽm tìm thấy ở Thần Sa, vàng cũng tìm thấy ở Thần
Sa nhưng chủ yếu là vàng sa khoáng với hàm lượng thấp.
phì nhiêu của đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt là ở tiểu khu III và I, nơi
có địa hình phức tạp, độ dốc cao và bị chia cắt nhiều.
Khí hậu: Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi
địa bàn Võ Nhai có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và
Bắc bộ chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Võ Nhai nằm trong
sông Thương được phân bố ở hai vùng là phía bắc và phía nam huyện, cung
vùng lạnh nhất của tỉnh Thái Nguyên. Nhiệt độ trung bình năm trên 22,4 độ
cấp hầu hết nước tưới cho diện tích sản xuất nông nghiệp của hai vùng này.
C. Tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình là 27,8 độ C. Tháng lạnh
Sông Nghinh Tường là sông lớn nhất, chảy qua phía bắc huyện, là nhánh
nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 14,9 độ C. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối
của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn, có chiều dài 46km và lần
là 3 độ C. Biên độ ngày và đêm là 7 độ C. Chế độ nhiệt và địa hình như trên
lượt chảy qua các xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và
tạo cho Võ Nhai lợi thế để phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới
đổ ra sông Cầu.
như: hồng, táo, na, cam, quýt, vải, nhãn,…
11.231 con năm 1975 lên 13.113 con năm 2006. Cùng giai đoạn đó đàn lợn
bàn huyện có khá nhiều hồ đập lớn nhỏ khác nhau: 11 hồ chứa nhỏ, 50 phai
tăng từ 10.851 con lên 29.124 con.
đập kiên cố, 12 trạm bơm và 122 kênh mương do nhà nước hỗ trợ và nhân
dân đóng góp xây dựng.
Với diện tích đất tự nhiên lớn và chủ yếu là đồi núi nên nghề rừng từ lâu
vẫn là một thế mạnh của Võ Nhai. Hiện nay, rừng nguyên sinh trên địa bàn
Tuy nhiện những năm gần đây do nạn chặt phá rừng gần như không được
huyện không còn, các loại gỗ quý và thú rừng quý hiếm cũng còn lại không
kiểm soát làm nguồn tài nguyên nước của huyện đang bị suy thoái, lũ lụt xảy
đáng kể nhưng việc phát triển trồng mới và bảo vệ rừng được đặc biệt quan tâm.
ra nhanh và nhiều hơn, có cả lũ ống và lũ quét. Đây là điều đáng lo ngại, biện
Năm 2003, diện tích trồng rừng mới là 456,43 ha, tăng 1,4% so với năm 2002.
pháp cấp bách là phải trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn để nhằm
Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn
điều tiết nguồn nước và lưu lượng chảy.
và nhanh chóng nhưng đến nay trong huyện thành phần kinh tế nông – lâm -
như Võ Nhai. Huyện đang từng bước thoát khỏi những khó khăn, tồn tại và
nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế.
vươn lên công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo xu thế chung của cả nước.
Trong nông nghiệp của huyện, nét nổi bật trong những năm gần đây là có
sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ theo hướng phát
triển hàng hoá gắn với thị trường, đa dạng hoá cây trồng. Do vậy, năng suất
và sản lượng đều đạt kết quả cao. Diện tích gieo cấy từ 3981 ha năm 1973
Cùng với kinh tế, văn hoá – xã hội huyện Võ Nhai cũng ngày càng có
những bước phát triển đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực.
Đến nay, trên địa bàn huyện 100% xã được phủ sóng phát thanh truyền
hình, trên 70% số hộ có máy thu thanh.
tăng lên 45761 năm 2006. Năng suất từ 20.98 tạ/ha tăng lên 42,79ha năm 2003.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Đến năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động của Võ Nhai là 35.057
sản xuất. Điều đó cộng với những tiềm năng to lớn về tài nguyên, tự nhiên, về
người chiếm 54,3%. Trong đó, có 30.452 lao động nông nghiệp, lao động phi
truyền thống lịch sử văn hoá là những thế mạnh quan trọng, là cơ sở để huyện
nông nghiệp là 4.605 người (7,14% dân số toàn huyện). Qua đó, ta thấy cơ
phát triển, giầu mạnh đi lên hội nhập cùng xu thế công nghiệp hoá - hiện đại
cấu giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp chênh lệch rất lớn. Chứng
hoá của tỉnh Thái Nguyên và của cả nước.
tỏ nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa
1.4. Dân cƣ và các dân tộc trên địa bàn huyện
phát triển. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành nghề và dịch
vụ ở Võ Nhai tiến triển chậm. Hơn 80% số lao động trong toàn huyện là lao
1.4.1. Dân cƣ
Những phát hiện của khảo cổ học tại di chỉ Thần Sa đã khẳng định địa
động phổ thông chưa được qua đào tạo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2007
bàn Võ Nhai là một trong những cái nôi của người nguyên thuỷ. Những người
mỏ kẽm ở Bắc Lâu, mỏ chì ở Vũ Chấn… Pháp đã đưa một số lượng đáng kể
quán có nhiều nết khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều nhưng
công nhân là người Kinh từ dưới xuôi lên, một phần đáng kể trong số họ đã
do điều kiện tự nhiên ở Võ Nhai có phần khắc nghiệt cũng như do truyền
lưu lại và định cư ở đây. Đến thời kỳ miền Bắc xây dựng Xã hội chủ nghĩa,
thống tương trợ nên nhân dân các dân tộc trong huyện luôn đoàn kết giúp đỡ
thực hiện chính sách khai hoang của Đảng và Nhà nước nhằm mở mang
lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất.
những vùng kinh tế mới, một bộ phận người Kinh đã di cư từ các tỉnh miền
xuôi lên làm ăn và định cư luôn ở nơi này.
1.4.2. Các dân tộc ở Võ Nhai
Dân số và thành phần dân tộc ở huyện Võ Nhai thể hiện qua bảng sau:
Võ Nhai là huyện miền núi cao nhưng ở đây, người Kinh chủ yếu sinh
sống và lập nghiệp ở những vùng đất thấp và bằng phẳng. Đặc biệt là dọc khu
Dân tộc
STT
Nùng
12.313
19,62
làm ăn phong phú đã làm cho đời sống kinh tế, vật chất của họ phát triển và
04
Dao
8.299
13,22
ổn đinh hơn các dân tộc khác.
05
H’Mông
2.578
4,1
Dân tộc Nùng: Người Nùng ở Võ Nhai gồm ba nhóm: Nùng Cháo,
06
( Nguồn: số liệu điều tra dân số năm 2004, Phòng Thống kê huyện Võ Nhai).
người Tày. Dân tộc Nùng ở Võ Nhai chủ yếu sống bằng nông – lâm nghiệp và
Dân tộc Kinh: Theo bảng thống kê trên, ta thấy dân tộc Kinh chiếm
chăn nuôi. Hiện nay, có một số gia đình Nùng đã chuyển sang kinh doanh
36,64%, đông nhất trong các dân tộc ở Võ Nhai. Theo số liệu mới thì đến
buôn bán do sống gần đường hoặc các trung tâm dân cư, nhưng ít hộ làm kinh
tháng 2/2010, tỷ lệ người Kinh ở đây còn chiếm 34.17%. Người Kinh ở Võ
doanh chuyên nghiệp, chưa bỏ hẳn được nông – lâm nghiệp.
Nhai cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn nhưng tập trung đông nhất là ở thị trấn
Dân tộc Dao: Chiếm tỷ lệ khá lớn ở Võ Nhai với 13.22%. Người Dao ở
Đình Cả, xã Phương Giao, Tràng Xá, La Hiên. Người Kinh có mặt ở Võ Nhai
đây có lịch sử định cư chưa được lâu, họ di cư từ phía Bắc xuống và xa xôi
khá muộn. Sau khi đánh chiếm xong Thái Nguyên, thực dân Pháp thiết lập bộ
hơn, tổ tiên của họ từ phía nam Trung Quốc sang. So với các dân tộc khác thì
máy cai trị và ráo riết tiến hành công cuộc khai thác nơi dây. Võ Nhai là vùng
quan hệ hôn nhân hoặc vừa mới di cư đến.
chưa được cải thiện nhiều.
Có thể nói, Võ Nhai là huyện có nhiều thành phần dân tộc, các dân tộc có
Dân tộc H’Mông: cũng như người Dao, người H’Mông cũng chưa có
nguồn gốc lịch sử khác nhau, phong tục tập quán khác nhau, trình độ không
lịch sử định cư lâu đời tại Võ Nhai. Họ thường cư trú trên những vùng núi
đồng đều, nhưng đồng bào các dân tộc trong huyện luôn gắn bó, đoàn kết,
cao. Cuộc sống dựa chủ yếu vào làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc và khai
tương trợ lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất. Tình trạng xung đột giữa
thác lâm thổ sản. Đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy di cư đến muộn
các dân tộc không hề xảy ra. Sách Đồng Khánh dư địa chí chép rằng: “Trong
nhưng họ không tạo ra những sự xáo trộn và sống khá hoà thuận với các dân
huyện, người Kinh, người Thổ (Tày), người Mường sống xen kẽ nhau. Người
tộc khác. Người H’Mông ở Võ Nhai sống chủ yếu ở các xã Dân Tiến, Bình
dân thì quê mùa, tập tục thì thuần phác”.[9, tr.82]. Đó là yếu tố quan trọng
29
30
CHƢƠNG 2
trong mình nó rất nhiều ý nghĩa hay mang tính thông báo một số thông tin
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƢỜI TÀY
nhất định. Ý thức được tầm quan trọng đó của địa danh nên trong quá trình đi
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
điền dã, tìm hiểu và sưu tầm tư liệu, chúng tôi đã rất quan tâm và coi đây là
vấn đề đầu tiên trong việc nghiên cứu làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở
2.1. Tên gọi và không gian sinh tồn
Võ Nhai.
Qua khảo sát và thu thập số liệu từ các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
2.1.1. Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản
Theo Từ điển tiếng Việt, bản là “đơn vị dân cư nhỏ nhất ở một số vùng
dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, nó tương đương với làng” [25, tr.30].
ban Nhân dân huyện Võ Nhai, chúng tôi thấy rằng: người Tày có mặt ở hầu
hết các xã, thị trấn trong huyện. Nhưng họ tập trung với tỷ lệ cao nhất ở các
Mỗi bản lại có một tên gọi, nguồn gốc và ý nghĩa rất khác nhau. Các bản
tổng thể các tên riêng đặt ra để gọi các đơn vị địa lý tự nhiên hay nhân văn
Hạ Lương.
của khu vực ấy. Đồng thời đó còn là những chứng tích về ngôn ngữ và có thể
cả về văn tự mà cộng đồng đã đặt, đã dùng và lưu lại trên địa bàn cư trú phát
triển của mình. Thời gian định cư càng lâu dài, trình độ sinh hoạt càng cao,
cảnh quan địa lý càng đa dạng, thành phần tộc người càng đông, điều kiện
phát triển thuận lợi… thì tên làng xã càng dồi dào và phức tạp về số lượng,
càng phong phú, sâu sắc về nội dung [21, tr.11].
Xã Sảng Mộc gồm 10 xóm bản: Bản Chương, Nà Ca, Phú Cốc, Khuổi
Mèo, Bản Chấu, Nà Lay, Khuổi Chạo, Tân Lập, Khuổi Uốn, Nghinh Tác.
Xã Vũ Chấn gồm 10 xóm bản: Na Mấy, Đồng Đình, Na Rang, Khe Rạc,
Cao Sơn, Na Đồng, Khe Rịa, Na Cà, Khe Cái, Khèn Nọi.
Xã Thượng Nung gồm 7 xóm bản: Tân Thành, Trung Thành, Lục Thành,
An Thành, Lũng Hoài, Lũng Cà, Lũng Luông.
Như vậy có thể nói, tên gọi của mỗi bản hay một khu vực địa lý là chiếc
chìa khoá đầu tiên để mở ra cánh cửa tìm hiểu tất cả sự phong phú đa dạng
của văn hoá tinh thần cũng như đời sống kinh tế vật chất của bản đó cũng như
Xã Thần Sa gồm 9 xóm bản: Trung Sơn, Kim Sơn, Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn
Dao, Xuyên Sơn, Ngọc Sơn 1, Ngọc Sơn 2, Tân Kim, Thượng Kim.
Xã Cúc Đường gồm 5 xóm bản: Tân Sơn, Trường Sơn, Lam Sơn, Bình
của một vùng văn hoá hay một khu vực địa lý. Bản thân những tên gọi mang
Sơn, Mỏ Trì.
vậy mà những tên gọi của các bản Tày mang tiến tố “nà” đã ra đời một cách
bản lâu đời thường là những bản độc người Tày cư trú hoặc đa số là người
rất tự nhiên và với tần xuất lớn ở khu vực này.
Tày. Những tên bản này xuất phát từ tiếng Tày, phần lớn mang những tiền tố
như: Nà, Bản, Lũng.
Những tên gọi mang tiền tố “nà” thường là những tên gọi cổ xưa nhất
còn được bảo lưu đến ngày nay. Trong những bản đó, kể cả các cụ cao niên
Trong đó, tên gọi mang tiền tố “nà” ( na) xuất hiện nhiều nhất:
nhất cũng không nhớ nổi rằng tên gọi của bản mình có từ đời nào, chỉ biết
Na Hấu
rằng nghe nó thật thân thuộc như vốn nó đã tồn tại. Những tên gọi đó thật đơn
Nà Giàn
giản nhưng đầy ý nghĩa, gần gũi với đời sống sinh hoạt của đồng bào.
Nà Lẹng
Xã Vũ Chấn có tất cả 10 bản thì có 5 bản Tày và 5 bản Dao phân bố gần
Nà Ca
Na Kháo.
gọi đó là vì khu vực này được coi là “ruộng ở giữa”. Bản này ngày nay là
Theo tiếng Tày, “nà” có nghĩa là ruộng, đồng.
trung tâm của xã Vũ Chấn.
Điều này cho ta thấy, cuộc sống của đồng bào nơi đây gắn với đồng
Cũng với quy luật đặt tên đó, xã Nghinh Tường có bản Nà Hấu (ruộng tốt)
ruộng. Do có lịch sử định cư khá lâu đời và thường cư trú ở những vùng thấp,
vì bản này có nhiều chân ruộng tốt rất thuận lợi cho cây lúa nước phát triển,...
thung lũng khá bằng phẳng, gần nguồn nước nên người Tày đã biết canh tác
Nhìn rộng ra các khu vực cư trú lâu đời của người Tày ngoài huyện Võ
lúa nước từ rất sớm. Đồng bào nơi đây ít làm nương rẫy do địa hình chủ yếu
Nhai, chúng ta cũng thấy rất nhiều những địa danh làng bản thậm chí xã,
là núi đá vôi hiểm trở, nguồn lâm sản thì ngày càng cạn kiệt do rừng ngày
huyện có tên gọi mang tiền tố “nà”, như các bản: Nà Gà, Nà Đóng, Nà Pế, Nà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
lệ 31,05%"[8].
Các bản Tày ở Võ Nhai cũng hầu hết được tập trung ở những nơi có
Như vậy, tên gọi mang tiền tố “ nà” gắn liền với ruộng đồng của dân tộc
nguồn nước, hầu hết là các dòng suối lớn, nhỏ. Con sông Nghinh Tường (một
Tày đã ra đời từ rất sớm, có thể nói các địa danh này ra đời ngay từ lúc người
nhánh quan trọng của sông Cầu) chảy qua hầu hết các xã phía Bắc Huyện.
Tày biết sống định canh, định cư và biết canh tác ruộng lúa nước. Những tên
Dọc hai bờ sông là những bản người Tày khá đông đúc.
gọi tuy đơn giản, không mang tính khái quát và trừu tượng nhưng đầy ý
Ở xã Sảng Mộc, chúng ta thấy có những tên bản như:
nghĩa. Vì vậy, nó có sức sống dai dẳng và tồn tại đến tận ngày nay. Đó là một
Khuổi Mèo
trong những nét đẹp đặc trưng của đồng bào Tày nơi đây nói riêng và trên
Khuổi Chạo
phạm vi cả nước nơi có dân tộc này sinh sống nói chung. Điều đó cho thấy
nguồn nước, nhất như các khe, rãnh, suối, sông để vừa thuận tiện cho sinh
Lũng Luông (thung lũng lớn).
hoạt vừa thuận lợi cho canh tác lúa nước. Từ đó, những tên gọi mang tiến tố
Với vùng núi đá vôi hiển trở như Võ Nhai, nơi định cư và canh tác của
“khuổi” cũng ra đời. Trải qua thời gian những tên gọi đó ăn sâu vào tiềm thức
đồng bào Tày thường là ở những thung lũng khá bằng phẳng, xung quanh là
của họ và được truyền từ thế hệ này qua thế qua thế hệ khác. Những nguồn
những dãy núi. Ở những nơi đó, đồng bào thường làm nhà tựa lưng vào núi,
nước đó theo thời gian có thể thay đổi nhưng những tên gọi đó thì vẫn còn
hướng nhà xoay xuống dưới, thấp hơn thường là những ruộng bậc thang. Vì
mãi. Tác giả Nguyễn Văn Âu trong cuốn “Địa danh Việt Nam” đã nêu: “Các
thế tên gọi mang tiền tố “ lũng” ra đời cũng dễ giải thích.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trung Sơn.
Bản Cái
Kim Sơn.
Bản Chương
Hạ Sơn.
Bản Chấu
Xuyên Sơn.
Cùng với những tên gọi mang các tiền tố đã nêu trên, những tên gọi
Ngọc Sơn.
mang tiền tố “bản” cũng đã có từ lâu đời, gắn bó với quá trình đấu tranh với
Phượng Hoàng.
thiên nhiên, định cư và phát triển của đồng bào.
Tân Thành.
Những tên gọi bản không phổ biến ta cũng thấy khá nhiều ở vùng dân tộc
Trung Thành.
nói: “Nhất thôn, nhất xã, nhất đình môn”- một thôn, một xã, một đình.
Gà (suối Mỏ Gà, đình Mỏ Gà và xóm Mỏ Gà). Tên Mỏ Gà ra đời một cách
Những tên gọi ngày nay ở Cúc Đường có từ khi người H’Mông, người Dao và
khá hy hữu. Nhân dân nơi đây truyền nhau rằng từ xa xưa lắm rồi có một trận
một số dân tộc khác di cư đến cộng với sự phát trển dân số nội tại đã buộc
mưa rất lớn và một trận lũ lịch sử đã xảy ra. Tại một miệng hang của khe đá
chính quyền địa phương phải chia tách, thành lập các bản mơi nhằm thuận lợi
nơi nước lũ tuôn ra ào ào và có trôi ra theo rất nhiều lồng gà không biết nguồn
cho công tác quản lý hành chính. Có thể nói, những tên mới này mang tính
gốc từ đâu. Địa danh Mỏ Gà xuất hiện từ đó và tồn tại đến tận ngày nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
37
dân cư thuộc cộng đồng Bách Việt đông đảo. Cùng với các nhóm trong cộng
các bản người Tày, chúng ta cũng đã thấy ẩn trong đó những vấn đề rất đáng
đồng Bách Việt, người Tày từ rất sớm đã biết canh tác ruộng lúa nước. Đối
quan tâm và rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu tổng quát thiết chế của làng
với họ nguồn nước là sự sống còn. Gần nguồn nước là tiêu chí đầu tiên trong
bản người Tày, kể cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Tình yêu của cư dân Tày đối
việc chọn đất dựng bản của người Tày.
vơi khu vực cư trú của họ, rộng ra là với quê hương đất nước được thể hiện
Người Tày ở Võ Nhai thường tụ cư ở những vùng giáp ranh giữa rừng và
ngay trong cách đặt tên nhưng làng bản, dù đơn giản nhưng trong đó là cả sự
ruộng, gần đó thường có những con suối hay sông nhỏ chảy qua. Nguồn nước
gửi gắm và một niềm tin mãnh liệt. Phần lớn những tên gọi đã có từ rất lâu
từ sông, suối không những được dùng cho sinh hoạt, ăn uống, tắm giặt mà
đời đó tồn tại dai dẳng và có tính bảo lưu rõ rệt. Chúng đã thân thiết và trở
quan trọng hơn cả nó là yếu tố tiên quyết trong việc canh tác cây lúa nước.
những con suối lớn, nhỏ. Khu vực cư trú của đồng bào thường không tách
lượm…có đất đai để làm nghĩa địa, có bãi chăn thả gia súc, có dòng suối để
khỏi khu vực sản xuất. Nhà, ruộng, nương thường liền kề nhau. Điều này có
phục vụ sản xuất và sinh hoạt, để đánh bắt cá….” [4, tr. 227].
khác so với các dân tộc có truyền thống đốt nương làm rẫy. Khu cư trú của họ
thường cách xa nương rẫy nhằm tránh nguy cơ hoả hoạn khi đốt nương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
39
40
Người Tày thuộc một trong những dân tộc đã sống định cư từ lâu đời.
biến cố lịch sử xảy ra trong lịch sử ở khu vực vùng này như: Cuộc kháng
Các làng bản của họ thường cố định, chỉ chọn một lần. Ngoài yếu tố gần
H’Mông, Dao và một số dân tộc ít người khác. Cây lúa nước đã tồn tại gắn
đó có tên là bản Cúc), bản chỉ có 05 hộ Tày gốc. Theo lời kể của cụ Nông
liền với quá trình phát triển của dân tộc Tày. Ngoài ra yếu tố phong thuỷ và
Tiến Hỷ - 87 tuổi thì họ Nông định cư đầu tiên ở đây, đến nay đã được
tôn giáo cũng được đồng bào để ý tới trong việc chọn đất lập bản làng, dựng nhà.
khoảng trên dưới 10 đời. Cả một vùng thuộc xã Cúc Đường ngày nay trước
Mỗi bản Tày cũng như nhiều dân tộc khác sống ở vùng núi thường có địa
năm 1945 chỉ có người Tày cư trú với 02 bản là bản Cúc và bản Nhò, mỗi bản
vực cư trú riêng bao gồm đất ở, đất canh tác, rừng rú, sông suối, bãi chăn thả
chưa đến 10 nóc nhà. Xóm Mỏ Gà (trước có tên là Làng Hang), xã Phú
gia súc…Ranh giới giữa các bản thường được xác định tương đối theo đường
Thựơng vào năm 1937 cũng chỉ có khoảng 07 – 08 nhà, Bản Na Đồng - xã Vũ
phân thuỷ, eo núi, sông suối hoặc đường xá. Từ đời này qua đời khác các thế
Chấn ngày nay là bản đông nhất xã với hơn 80 hộ dân tộc Tày, nhưng trước
hệ cư dân truyền cho nhau biết về cương vực của làng bản mình. Mọi người
2.1.2.2. Quy mô của các làng bản Tày ở Võ Nhai
trong những bản làng truyền thống của họ cũng thường chỉ có dưới 10 hộ gia đình.
Người Tày đã có mặt ở Việt Bắc nói chung và ở Võ Nhai nói riêng hàng
Quy mô lớn hay nhỏ của mỗi bản Tày thường do mức độ ít hay nhiều của
ngàn năm. Các tài liệu đã chững minh họ tham gia tích cực vào các sự kiện,
ruộng đất canh tác quyết định. Những thung lũng lớn và tương đối bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
41
42
phẳng cạnh sông suối thường có một hoặc vài bản đông đúc cùng định cư.
nhỏ cũng thường chỉ có 02 - 03 dòng họ trở lên, cũng có bản lớn trên dưới 10
bản này lâu đời nhất. Xóm Mỏ Gà (xã Phú Thượng) có họ Hoàng, họ Nông là
kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho sinh sống, làm ăn, lâu dần những nơi đó trở
những họ lớn đã định cư rất lâu đời ở đây. Một bộ phận người Tày trong đó
thành bản mới với tên gọi riêng. Quá trình định cư, khai phá, dân số tăng cộng
có họ Lành đã di cư từ Lộc Bình, Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn) đến đây do phải
thêm những thành phần cư dân khác di cư đến làm cho những bản nhỏ này
chạy Nhật vào những năm 40 - Thế kỷ XX. Dân tộc Nùng và Kinh chuyển
ngày càng có quy mô lớn dần. Điều này diễn ra liên tục trong quá trình phát
đến đã làm cho dân số và số họ trong bản tăng lên đáng kể. Bản Trường Sơn
triển của dân tộc Tày ở Võ Nhai nói riêng và dân tộc Tày trên toàn lãnh thổ
(xã Cúc Đường) cũng có gần 10 họ. Họ Hoàng, Nông, Nguyễn, Lương định
Việt Nam nói chung.
cư ở đây lâu nhất, có số hộ đông nhất.
Đó là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến việc hình thành những bản mới.
Trong quá trình sưu tầm tư liệu điền dã, tuy không thể đến hết các bản
Lạng Sơn vốn chỉ có một dòng họ Nguyễn lên đây khai phá định cư
[23,tr.157].
lấy đơn vị nhà làm nền tảng” [23, tr.152]. Là một xã nông thôn nên quan hệ
Những bản có nhiều dòng họ thường là bản lớn, có số nhân khẩu đông và
láng giềng là quan hệ chủ đạo trong mỗi bản. Mỗi bản Tày dù quy mô lớn hay
đã được lập từ rất lâu. Ngược lại, những bản có một đến hai họ là những bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
43
44
nhỏ hơn hoặc bản mới thành lập. Từ những năm giữa thế kỷ XX trở lại đây,
Như đã trình bày, các bản làng người Tày thường ở vùng thấp, gần
trong mỗi bản Tày,số họ và số nhân khẩu tăng lên nhanh chóng. Người Tày
truyền thống vẫn được bảo lưu cơ bản trong các dòng họ Tày gốc và trong
những bản mà người Tày đã định cư từ trước.
Làng bản người Tày trong truyền thống thường dựa lưng vào núi, mặt
hướng ra thung lũng, cánh đồng. Các ngôi nhà trong bản thường theo một
2.1.2.3. Kết cấu hình thể của làng bản
hàng lối nhất định. Hướng nhà có điều chỉnh chút ít dựa vào tuổi của gia chủ.
Vùng cư trú của người Tày ở Võ Nhai không có những cánh đồng lớn,
Đây là nguyên tắc truyền thống trong việc dựng nhà của người Tày. Người ta
những thung lũng cũng không rộng. Vì vậy các bàn Tày nơi đây thường phân
tránh những ngọn núi có hình thù quái dị đứng trước bản, những con sông,
bố rải rác. Mỗi bản cũng thường chia ra làm vài chòm xóm nhỏ, phân bố
suối đâm thẳng vào bản.
tương đối biệt lập nhưng đều hướng ra cánh đồng hoặc đường giao thông.
Ở người Tày khu vực cư trú và canh tác không biệt lập với nhau mà tuỳ
Điều này rất khác so với làng Việt ở Đồng bằng Bắc bộ. Cổng làng là yếu tố
thuộc vào yếu tố tự nhiên. Người ta không quan niệm đâu là khu vực để làm
nương rẫy, làm vườn với đa dạng các loại rau quả. Kinh tế tự nhiên cũng có
tộc vùng Thượng ở Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến. Đây là những bản
vai trò quan trọng. Ngoài ra, họ còn có những ngành kinh tế phụ trợ khác như:
làng mở, người ta không rào giậu xung quanh bản làng.
chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, đánh cá,... Đặc điểm nổi bật nhất trong nền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
45
46
kinh tế của người Tày Võ Nhai đó là mang nặng tính tự cung, tự cấp, thương
thúc, làm cỏ nhiều lần. Nước trong ruộng luôn được giữ ở mức độ thuận lợi
mại dịch vụ kém phát triển.
những phai là không lớn, thường qua một mùa mưa lũ là đồng bào lại phải gia
gồm: ruộng nước, ruộng cạn chờ mưa, ruộng lầy thụt. Dù là ruộng tốt hay xấu
cố, có khi làm lại. Xưa kia công việc làm mương phai được coi là việc chung
trước đây đồng bào chỉ trồng một vụ lúa, cùng lắm là thêm một vụ hoa mầu
của bản. Mỗi nhà cử ra một hai người mang theo dụng cụ và góp nguyên liệu
một năm. Vài chục năm trở lại đây, ở những chân ruộng tốt nhất đồng bào
để đắp phai, làm mương máng. Hệ thống phai, mương ngày nay ở vùng này
mới cấy hai vụ lúa.
phần lớn chưa được đầu tư kiên cố hoá nên mọi quy trình gần như vẫn được
Trong việc trồng cấy lúa nước, người Tày có truyền thống làm đất rất kỹ.
thực hiện theo lối cũ. Tại những chân ruộng cao hơn bề mặt đường chảy, lại ở
Trước khi cấy, ruộng được cày bừa rất nhiều lần. Làm như vậy, theo đồng bào
cạnh suối, đồng bào dùng “cọn” (guồng xe nước) để đưa nước lên ruộng. Cọn
là để cho đỡ cỏ dại, lúa tốt và quan trọng hơn cả là cày bừa thật kỹ thì ruộng
hình bánh xe, đường kính từ 2-5m tuỳ theo độ cao của ruộng và độ sâu của
Quá trình chăm sóc lúa của đồng bào từ lúc mới còn là cây mạ cho đến
đứng, ít núi đất nên đồng bào ở đây cũng có không nhiều nương rẫy. Canh tác
lúc được thu hoạch diễn ra với nhiều công đoạn cẩn thận như: bón lót, bón
nương rẫy của đồng bào tuân theo một quy trình nghiêm ngặt: phát đốt, làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
47
48
đất, trồng tỉa, làm cỏ, chăm bón, thu hoạch. Theo kinh nghiệm chọn đất
vợ, làm nhà” được coi là ba việc quan trọng nhất trong cả cuộc đời người đàn
nương của đồng bào thì loại nương tốt nhất là được khai phá từ rừng già, có
ông dân tộc Tày. Con trâu có ý nghĩa quan trọng lớn lao đối với họ như vậy
mầu cây lá xanh thẫm. Đối với nương mới phát trong 2, 3 năm đầu đồng bào
bón do đất bị xói mòn, bạc mầu. Người Tày ở Võ Nhai còn canh tác một loại
Các loại gia súc, gia cầm cũng được đồng bào chăn nuôi chủ yếu theo
nương rất đặc biệt gọi là nương hốc đá (“rầy thin”). Loại này canh tác rất khó
hình thức thả. Lợn, gà, ngan, vịt, dê đều được thả rông tự kiếm thức ăn. Buổi
nhưng có thể làm được lâu dài do có đá che chắn, không bị xói mòn, giữ ẩm
tối chúng mới được cho ăn thêm bằng các loại nông sản như: cám, gạo, ngô,
tốt. Hiện nay, những mảnh nương, rẫy gắn với núi đá, đồng bào đã chuyển
sắn... Tập quán nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn của đồng bào trước đây
sang trồng một số cây ăn quả dài ngày, tiêu biểu là cây na.
chủ yếu nhằm tránh thú dữ.
Từ xưa, phần lớn các gia đình Tày đều có vườn nhưng có thể nói kinh tế
Có thể nói, chăn thả tự nhiên là một ngành kinh tế phụ gia đình trong các
vườn chưa có vị trí đáng kể đối với họ. Vườn thường hẹp, không bằng phẳng.
bản Tày truyền thống ở Võ Nhai. Các gia đình có khá đa dạng các loại vật
Trong vườn, người Tày thường trồng đủ các loại rau quả, gia vị, nhằm phục
vẫn là trâu, lợn, gà, vịt và thả cá ruộng. Vì là cư dân gắn với đồng ruộng nên
Võ Nhai những nghề thủ công không thể thiếu đối với họ là: đan lát, dệt, mộc,
đồng bào rất coi trọng con trâu vì “con trâu là đầu sức kéo”. “Tậu trâu, lấy
chế biến một số nông lâm sản (nấu nượu, làm đậu, ép mía đường, ép dầu thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
49
50
vật),... Các sản phẩm thủ công này chỉ được sản xuất nhỏ, lẻ theo quy mô gia
phải đi bộ cả chục cây số, leo ngược dốc mới đến được chợ. Vì vậy, đi chợ
đình, chưa được coi là hàng hoá. Ở Võ Nhai chưa thấy có làng bản Tày nào
phải mất đến 2-3 ngày và đôi khi phải ngủ trọ nhà người quen. Dù khó khăn
cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh. Không những thế,
hoá được tính theo đơn vị đo lường trong vùng: gà, vịt tính con, rau tính mớ,
việc đánh bẫy, săn bắn còn có ý nghĩa ngăn chặn sự phá hoại của muông thú,
củi tính bó, thóc gạo tính bằng ống... Việc dùng cân kilô cũng đã khá phổ
bảo vệ mùa màng. Hoạt động chiếm đoạt tự nhiên của họ diễn ra quanh năm.
biến. Tiền đã được dùng làm đơn vị trao đổi, tuy nhiên hiện tượng vật đổi vật
Có hai hình thức săn: săn cá nhân và săn tập thể. Vũ khí săn là súng kíp,
cũng vẫn còn.
dao, lao, tên nỏ, và các loại cạm bẫy. Dụng cụ đánh bắt cá gồm có: Chài lưới,
Từ năm 1985 khi chợ Cúc Đường được thành lập thì việc buôn bán và
câu, đó, ... Săn bắn là công việc của đàn ông, còn hái lượm các loại rau, củ,
trao đổi hàng hoá của đồng bào dân tộc Tày cũng như các dân tộc khác tại 6
quả trong rừng là công việc của phụ nữ. Công việc này diễn ra quanh năm
xã phía Bắc Võ Nhai đã dễ dàng hơn nhiều. Ngày nay, tại mỗi xóm bản đều
nhưng họ đều tranh thủ khi nông nhàn. Vào mùa xuân – hè, kiếm các loại rau,
của đồng bào đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, việc đầu tư cho hệ
chợ huyện tận Đình Cả hoặc chí ít cũng phải ra La Hiên thì mới có chợ. Họ
thống giao thông trong vùng là việc cần làm ngay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên