Làng bản cổ truyền của dân tộc tày ở huyện võ nhai thái nguyên - Pdf 81


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN VĂN QUYỀN LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Lêi c¶m ¬n

Tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người hướng dẫn
khoa học là PGS. TS Đàm Thị Uyên. Người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
trong suốt thời gian qua để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử-
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo - nhà dân tộc
học Hoàng Hoa Toàn. Người đã đóng góp những ý kiến rất quý báu và bổ ích
cho tác giả trong qua trình tiến hành luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học sư phạm Thái
Nguyên, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các phòng ban

3.2. Đối tượng nghiên cứu. .................................................................................................................................................... 11
3.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................................................................. 11
3.4. Nội dung nghiên cứu của đề tài ....................................................................................................................... 11
4. Nguồn tư liệu ............................................................................................................................................................................................... 12
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................................................................................... 12
6. Đóng góp của đề tài .......................................................................................................................................................................... 12
7. Cấu trúc của đề tài .............................................................................................................................................................................. 13
CHƢƠNG 1 ...................................................................................................................................................................................................................... 15
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................ 15
1.1. Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ................................................... 15
1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ........................................................................................................................ 16
1.2.1. Vị trí địa lý ................................................................................................................................................................................... 16
1.2.2. Điều kiện tự nhiên ........................................................................................................................................................... 17
1.3. Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai ..................................................................... 21
1.4. Dân cư và các dân tộc trên địa bàn huyện ............................................................................................. 23
1.4.1. Dân cư ................................................................................................................................................................................................. 23
1.4.2. Các dân tộc ở Võ Nhai ............................................................................................................................................. 25
CHƢƠNG 2 ...................................................................................................................................................................................................................... 29
LÀNG BẢN CỔ TRUYỀN CỦA NGƢỜI TÀY .............................................................................................................. 29
Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................................................................ 29
2.1. Tên gọi và không gian sinh tồn ............................................................................................................................... 29 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
2.1.1. Tên gọi và nguồn gốc tên gọi của làng bản ........................................................................... 29
2.1.2. Không gian sinh tồn...................................................................................................................................................... 37
2.2. Cơ cấu tổ chức .................................................................................................................................................................................... 56
2.2.1. Các tổ chức quản trị ...................................................................................................................................................... 56


1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ
với nhau. Đó là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” trong triết học.
Nghiên cứu lịch sử một địa phương, một tộc người sẽ góp phần quan trọng
làm sáng tỏ bức tranh vốn đã rất phong phú và phức tạp của lịch sử dân tộc.
Việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức của làng xã cổ truyền là chiếc chìa khoá
để tìm hiểu và lý giải tất cả sự phong, phú rộng lớn và bao quát của vấn đề
làng xã. Làng xã trong tiến trình lịch sử Việt Nam có vai trò hết sức to lớn mà
chúng ta không thể phủ nhận. Nghiên cứu làng xã, chúng ta sẽ làm sáng tỏ
nhiều vấn đề của lịch sử dân tộc cũng như những truyền thống, phẩm chất của
con người Việt Nam nói chung.
Vấn đề nghiên cứu làng xã cổ truyền Việt Nam càng trở nên bức thiết và
có ý nghĩa hơn khi hiện nay vấn đề: Nông nghiệp – nông dân – nông thôn
ngày càng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Đảng đề
ra mục tiêu là phải đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Loại bỏ những gì,
giữ lại và phát huy những gì là vấn đề có tính nguyên tắc trong công cuộc xây
dựng nông thôn mới hiện nay. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta
có những hiểu biết sâu sắc qua sự nghiên cứu nghiêm túc về làng xã cổ
truyền.
Tầm quan trọng rất lớn của vấn đề về cả lý luận và thực tiễn là như vậy
nhưng những nghiên cứu về làng xã Việt Nam hiện nay mới chỉ là bước đầu,
còn đơn sơ và chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức cũng như thực tiễn. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khoá X ngày 5/8/2008 đã chỉ ra “Nhận thức về vị trí, vai trò của nông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng và rộng lớn của vấn đề mà đề tài làng xã Việt Nam
nói chung đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học
ở cả trong và ngoài nước trong những giai đoạn gần đây.
Tuy nhiên, trong lịch sử, nhất là thời kỳ phong kiến và trước đó, vấn đề
làng xã rất ít được “đoái hoài” đến. Lịch sử trong giai đoạn đó chỉ là lịch sử
của giai cấp thống trị và của những nhân vật kiệt xuất. các nhà sử học phong
kiến rất ít khi có những ghi chép về nông thôn, làng xã. Chúng ta chỉ có thể
góp nhặt được những ghi chép ít ỏi về làng xã trong một số bộ sử và địa chí
thời phong kiến nước ta như: Đại Việt thông sử, Dư địa chí, Đại Nam thực
lục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng khách dư địa chí,… Trong đó, tác phẩm
“Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ là có giá trị tư liệu hơn cả.
Từ thế kỷ thứ XVI – XVII trở đi, làng việt là đối tượng điều tra nghiên
cứu của các thương nhân và giáo sĩ phương Tây. Mục đích lớn nhất của họ là
phục vụ cho công cuộc xâm lược và đô hộ Việt Nam. Vì vậy, những nghiên
cứu đó chưa được hệ thống và khách quan. Tất nhiên, đây cũng là nguồn tư
liệu không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu làng xã cổ truyền.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, việc nghiên cứu làng Việt được mở
rộng hơn trước. Một số tác giả người Pháp đã có những tác phẩm chuyên
khảo về làng Việt. Nhưng, cách nhìn nhận và lý giải của họ vẫn không được
khách quan. Lúc này đã có một số tác giả người Việt tham gia nghiên cứu,
tiêu biểu nhất là Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục, Nguyễn Văn Huyên
với một số chuyên khảo bằng tiếng Pháp.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong vùng kiểm soát của
thực dân Pháp và sau đó là chính quyền Ngụy Sài Gòn, ở miền Nam có một
số tác phẩm tiêu biểu như: Kinh tế làng xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc (Hà
Nội, 1951). Làng xã Việt Nam của Toan Ánh (Sài Gòn, 1968).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
đề đại đoàn kết dân tộc. Tất cả những chính sách về dân tộc thiểu số của Đảng
ta đều xoay quanh 3 nguyên tắc: Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ, nhằm làm
sao từng bước vững chắc nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của
đồng bào, làm sao cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Đồng bào các dân tộc
thiểu số tiến kịp với trình độ phát triển của người Kinh. Vì vậy, việc nghiên
cứu làng bản của người dân tộc thiểu số cũng có ý nghĩa quan trọng không
kém vấn đề làng xã cổ truyền của người Việt.
Những nhà dân tộc học hàng đầu ở nước ta như: Nguyễn Văn Huyên, Bế
Viết Đẳng, Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Tấn Quỳnh, Đặng Văn lung,
Hoàng Nam, Phan Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn,… đã dày công nghiên cứu một
cách toàn diện về nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Những nghiên cứu của
họ thường miêu tả khái quát văn hoá các tộc người. Trong đó, cơ cấu tổ chức
làng bản của các dân tộc chỉ được họ đề cập đến như một khía cạnh, chưa
phải đi sâu nghiên cứu mang tính chất chuyên đề. Những nghiên cứu về dân
tộc Tày cũng vậy.
Đặc biệt, vấn đề “ Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên” chưa có ai nghiên cứu và công bố. Chính vì vậy, đề tài
nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề này. Những công trình
nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để
chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Qua việc nghiên cứu và phân tích cơ cấu làng bản cổ truyền của người
Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đề tài sẽ góp phần vào việc tái hiện
lại một số hiện tượng lịch sử, văn hoá xã hội, quá trình xây dựng và phát triển
của địa phương này, cũng như lịch sử vốn phong phú, đa dạng và phức tạp
của tộc người nói chung.

đời sống văn hoá của họ; so sánh với làng Việt truyền thống và một số dân tộc khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Nêu lên những nét đặc trưng cổ truyền trong văn hoá làng bản của đồng bào.
4. Nguồn tƣ liệu
Đề tài làng xã cổ truyền nói chung và làng bản cổ truyền của người dân
tộc thiểu số nói riêng hầu như không được bất kỳ một cuốn chính sử của một
vương triều phong kiến nào đề cập đến. Tuy nhiên, khi tham khảo kỹ một số
bộ sử cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… chúng tôi cũng đã
tìm được một số thông tin liên quan nhằm phục vụ cho đề tài của mình.
Chúng tôi cũng tiếp cận được với khá nhiều các tác phẩm, tài liệu, kỷ
yếu, đề tài nghiên cứu, các chuyên khảo hoặc có liên quan đến làng xã cổ
truyền và các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là về dân tộc Tày.
Hệ thống văn bản về chính sách đối với các dân tộc thiểu số của Đảng,
Nhà nước và các cấp chính quyền cũng rất quan trọng với đề tài này.
Đặc biệt quan trọng hơn cả là tư liệu điền dã, khảo sát thực địa. Ngoài ra
một số hương ước, gia phả, tộc phả và địa bạ cũng được chúng tôi lưu tâm tới
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng và kết hợp một số
phương pháp sau đây: Điền dã, miêu thuật, hồi cố, thống kê, so sánh, tự sự
lịch sử, liên ngành,… nhằm làm sao những thông tin có được là chính xác
nhất và khách quan nhất, chất lượng đề tài tốt nhất trong khả năng có thể.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tổ chức làng bản cổ truyền
của người Tày ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về dân tộc Tày nói
chung và dân tộc Tày ở địa bàn huyện Võ Nhai nói riêng. Qua đó, kết quả


14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1. Lịch sử hành chính huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ nghiên cứu làng bản cổ
truyền của dân tộc Tày trên địa bàn thuộc địa giới huyện Võ Nhai ngày nay
nhưng chúng tôi cũng xin phác qua ở đây quá trình hình thành và sự thay đổi
của địa giới hành chính huyện qua các thời kỳ lịch sử.
Theo các tác giả trong Địa chí Thái Nguyên và nhà sử học Nguyễn Xuân
Minh (chủ biên) trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Võ Nhai thì thời thuộc
Đường, vùng đất Võ Nhai có tên là huyện Vũ Lễ, thời Lý, Trần có tên gọi là
châu Vạn Nhai. Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV), châu Vạn Nhai lại đổi tên
thành châu Vũ Lễ. Đầu thời nhà Lê (đời Lê Thuận Thiên), châu Vũ Lễ đổi
thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai
quản. Đến thời Nguyễn (từ 1802) vẫn theo như thế. Đến năm Minh Mệnh thứ
16 (1836), huyện Võ Nhai có 8 tổng, gồm 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu
quan. Đời Đồng khánh (1886- 1888), huyện Võ Nhai vẫn gồm 8 tổng và 29
xã, trại. 8 tổng ở Võ Nhai lúc này gồm: Lâu Thượng, Lâu Hạ, Tràng Xá, Bắc
Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Tri, Vĩnh Yên.
Huyện lỵ thời trước đặt ở xã Lâu Thượng, đến đời Đồng Khánh chuyển
vào xã Tràng Xá [19, tr. 987, 10, tr. 7].
Năm 1894, thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh Sơn,
Tân Lưu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc

đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 35 dặm, phía tây đến địa
giới huyện Cảm Hoá 89 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Văn Quảng tỉnh
Lạng Sơn 70 dặm [6, tr. 158].
Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng đặc
biệt khó khăn nằm ở phía đông bắc của tỉnh. Huyện nằm dọc theo quốc lộ 1B

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn. Võ Nhai có toạ độ địa lý 21
0
36 đến 21
0
56 vĩ độ
Bắc và 105
0
45 đến 106
0
17 kinh độ Đông. Phía bắc huyện Võ Nhai giáp
huyện Na Rì - Bắc Kạn, phía đông bắc giáp huyện Bắc Sơn - Lạng Sơn, phía
nam giáp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên và Yên Thế - Bắc Giang, phía tây
giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương - Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên
của toàn huyện theo địa giới hành chính là 845.1 km2.
Thị trấn Đình Cả là huyện lỵ, trung tâm kinh tế - xã hội của huyện cách
thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía đông bắc, cách thị trấn Đồng
Đăng - Lạng Sơn khoảng 80km về phía tây.
Với vị trí như vậy, ta có thể thấy Võ Nhai có một vị trí chiến lược quan
trọng trong những thời kỳ có chiến tranh, là nơi dụng binh hiểm yếu “tiến khả
dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Từ Võ Nhai, người ta có thể dễ dàng qua Thái
Nguyên về Hà Nội, hoặc lên phía bắc qua Lạng Sơn để ra nước ngoài. Ngoài

Vùng này thuận lợi hơn cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp,
du lịch sinh thái và di tích lịch sử văn hoá.
Với diện tích đất tự nhiên là 845,1 km2, Võ Nhai có 561,27 km2 đất lâm
nghiệp, 77,24 km2 đất nông nghiệp, 1,55 km2 đất nuôi trồng thuỷ sản, 22,13
km2 đất phi nông nghiệp và 182,92 km2 đất chưa sử dụng. Có thể thấy dù là
một huyện có diện tích rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nhưng tiềm năng đất
đai ở Võ Nhai không lớn, lại bị chia cắt mạnh. Đất dành cho phát triển đô thị
và giao thông trở nên khan hiếm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân
bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp trong tương lai. Đất đai dành cho nông
nghiệp ở Võ Nhai nhìn chung không có độ phì nhiêu lớn và đang bị suy thoái mạnh.
Dù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng hiện nay tài nguyên rừng ở Võ
Nhai còn lại rất nghèo, phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ
lượng còn thấp. Nhưng với sự hỗ trợ của nhà nước và sự tích cực của người
dân, trong tương lai gần, tài nguyên rừng vẫn sẽ trở thành thế mạnh trong phát

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
triển kinh tế của Võ Nhai. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại khu vực 6 xã
phía bắc huyện.
Khoáng sản: Võ Nhai nằm trong tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng sinh
khoáng Đông Bắc - Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng tây Thái Bình
Dương. Do vậy, huyện có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và
trữ lượng.
Kim loại mầu: chì, kẽm tìm thấy ở Thần Sa, vàng cũng tìm thấy ở Thần
Sa nhưng chủ yếu là vàng sa khoáng với hàm lượng thấp.
Khoáng sản phi kim: Phôtphorit ở La Hiên có trữ lượng được đánh giá
vào loại khá (khoảng 60.000 tấn).
Toàn huyện có những dải núi đá kéo dài, chạy dọc huyện, đây là nguồn

hơi nước lại rất lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng,
nhất là với cây trồng hàng năm.
Nói chung, tuy có phần khắc nghiệt nhưng khí hậu Võ Nhai vẫn tương
đối thuận lợi cho phát triển, sản xuất nông – lâm nghiệp.
Thuỷ văn: Võ Nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi
các dãy núi đá nên huyện có nguồn nước khá phong phú. Ngoài nguồn nước
mặt từ những sông suối còn có những nguồn nước khác từ các hang động
trong núi đá vôi hiện đã và đang được sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt. Trên
địa bàn Võ Nhai có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và
sông Thương được phân bố ở hai vùng là phía bắc và phía nam huyện, cung
cấp hầu hết nước tưới cho diện tích sản xuất nông nghiệp của hai vùng này.
Sông Nghinh Tường là sông lớn nhất, chảy qua phía bắc huyện, là nhánh
của sông Cầu, bắt nguồn từ dãy vòng cung Bắc Sơn, có chiều dài 46km và lần
lượt chảy qua các xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa và
đổ ra sông Cầu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Sông Rong chảy qua phía nam huyện là nhánh của sông Thương, bắt
nguồn từ xã Phú Thựơng chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến,
Bình Long và chảy vào tỉnh Bắc Giang.
Các nhánh sông suối trên địa bàn phân bố khá đồng đều và có nước
quanh năm rất thuận lợi sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra, trên địa
bàn huyện có khá nhiều hồ đập lớn nhỏ khác nhau: 11 hồ chứa nhỏ, 50 phai
đập kiên cố, 12 trạm bơm và 122 kênh mương do nhà nước hỗ trợ và nhân
dân đóng góp xây dựng.
Tuy nhiện những năm gần đây do nạn chặt phá rừng gần như không được
kiểm soát làm nguồn tài nguyên nước của huyện đang bị suy thoái, lũ lụt xảy
ra nhanh và nhiều hơn, có cả lũ ống và lũ quét. Đây là điều đáng lo ngại, biện

Năm 2003, diện tích trồng rừng mới là 456,43 ha, tăng 1,4% so với năm 2002.
Các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trên địa bàn
huyện đang rất được quan tâm khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, sự phát
triển đó chưa tương xứng với tiềm năng lớn của huyện này.
Nói chung, trong những năm vừa qua, kinh tế Võ Nhai có sự chuyển biến
tích cực. Năm 2002, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 43,6%, nông
nghiệp còn 38,3%, dịch vụ là 18,1% kinh tế của huyện. Tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm cao (≈ 12% năm). Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (năm 2009
còn 25,2%).
Những chuyển biến đó là rất đáng khen ngợi với một huyện vùng cao
như Võ Nhai. Huyện đang từng bước thoát khỏi những khó khăn, tồn tại và
vươn lên công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo xu thế chung của cả nước.
Cùng với kinh tế, văn hoá – xã hội huyện Võ Nhai cũng ngày càng có
những bước phát triển đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực.
Đến nay, trên địa bàn huyện 100% xã được phủ sóng phát thanh truyền
hình, trên 70% số hộ có máy thu thanh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
Cuộc vận động “ Xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan văn
hoá” phát triển mạnh. Đến năm 2006, toàn huyện có 7569 gia đình văn hoá,
77 xã, bản văn hoá và 47 cơ quan văn hoá" [19, tr.995].
Sự nghiệp y tế - giáo dục được đặc biệt quan tâm ở huyện vùng cao này.
Hệ thống trường lớp được mở rộng, xây mới, chất lượng giáo dục được nâng
lên. Năm 2003, Huyện có trường tiểu học Phú Thượng được công nhận là
trường đạt chuẩn quốc gia, có 04 xã được công nhận hoàn thành phổ cập
trung học cơ sở và có 08 lớp dạy nghề.
Năm 2006, Võ Nhai có 121 cán bộ y tế, trong đó có 35 bác sỹ hoạt động
trong 18 cơ sở y tế gồm 140 giường bệnh.

điểm cuối năm 2009 là 66.376 người thuộc 8 thành phần dân tộc khác nhau:
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), H’Mông, Mường, Hoa.
Mật độ dân số trung bình ở huyện Võ Nhai là thấp nhất tỉnh Thái Nguyên với
76,1 người/km
2
. Nơi có mật độ cao nhất Huyện là Thị trấn Đình Cả và xã La
Hiên, nơi thấp nhất là xã Sảng Mộc chỉ có 21,2người/km
2
.
Đến năm 2007, dân số trong độ tuổi lao động của Võ Nhai là 35.057
người chiếm 54,3%. Trong đó, có 30.452 lao động nông nghiệp, lao động phi
nông nghiệp là 4.605 người (7,14% dân số toàn huyện). Qua đó, ta thấy cơ
cấu giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp chênh lệch rất lớn. Chứng
tỏ nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa
phát triển. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá các ngành nghề và dịch
vụ ở Võ Nhai tiến triển chậm. Hơn 80% số lao động trong toàn huyện là lao
động phổ thông chưa được qua đào tạo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2007
chỉ đạt 10,87%. Việc tạo công ăn việc làm còn gặp nhiều khó khăn. Thế mạnh
của huyện là có dân số trẻ, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, giá nhân
công rẻ. Đây là ưu điểm của huyện khi kêu gọi đầu tư phát triển các ngành
kinh tế trên địa bàn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25
Nói chung, dù thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, phong tục tập
quán có nhiều nết khác nhau, trình độ phát triển cũng không đồng đều nhưng
do điều kiện tự nhiên ở Võ Nhai có phần khắc nghiệt cũng như do truyền
thống tương trợ nên nhân dân các dân tộc trong huyện luôn đoàn kết giúp đỡ
lẫn nhau trong một cộng đồng thống nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status