BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phùng Thị Đan Thanh
MOTIF ĐIỀM BÁO VÀ MỘNG BÁO
TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phùng Thị Đan Thanh
MOTIF ĐIỀM BÁO VÀ MỘNG BÁO
TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỔ
Ở TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI MOTIF ĐIỀM BÁO, MỘNG BÁO VÀ
CẤU TẠO CỦA MOTIF ĐIỀM BÁO, MỘNG BÁO .................... 25
2.1 Những vấn đề chung ...........................................................................................25
2.1.1 Về thuật ngữ motif.....................................................................................25
2.1.2 Về vấn đề điềm báo, mộng báo .................................................................25
2.2 Tình hình tư liệu .................................................................................................31
2.3 Khảo sát motif điềm báo và mộng báo ...............................................................33
2.3.1 Về motif điềm báo .....................................................................................33
2.3.2 Về motif mộng báo ....................................................................................41
2.4 Kiểu nhân vật báo mộng .....................................................................................49
2.4.1 Thần linh ...................................................................................................49
2.4.2 Ông già .....................................................................................................53
2.4.3 Linh hồn người chết ..................................................................................54
2.4.4 Vật thiêng ..................................................................................................55
2.5 Kiểu nhân vật nhận được điềm báo hoặc mộng báo ..........................................57
2.5.1 Nhân vật mồ côi ........................................................................................57
2.5.2 Nhân vật chàng ngốc ................................................................................60
2.5.3 Nhân vật dũng sĩ .......................................................................................61
2.5.4 Nhân vật người mẹ ....................................................................................62
2.5.5 Nhân vật người nhà giàu ..........................................................................63
2.6 Một vài so sánh với truyện cổ tích của người Việt .............................................65
2.6.1 Về kiểu điềm báo, mộng báo .....................................................................65
2.6.2 Về kiểu nhân vật báo mộng .......................................................................67
2.6.3 Về kiểu nhân vật nhận mộng báo ..............................................................72
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA MOTIF ĐIỀM BÁO
VÀ MỘNG BÁO TRONG CỐT TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỔ Ở TÂY NGUYÊN ..................................... 77
mỗi một dân tộc sáng tạo nên nó. Chính vì vậy, motif điềm báo và mộng báo trong
truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngoài những đặc điểm giống
với motif điềm báo và mộng báo trong truyện cổ tích của người Việt cũng như của
các dân tộc trên thế giới cũng sẽ có những điểm khác biệt do điều kiện xã hội, đời
sống văn hoá, tâm linh, …của những tộc người bản địa nơi đây. Trên góc độ khác,
chính kiểu tư duy này, thông qua motif điềm báo và mộng báo, nó góp phần tạo nên
đặc trưng thể loại.
Vì thế, luận văn chọn đề tài nghiên cứu là “Motif điềm báo và mộng báo
trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Qua đó thấy được
motif điềm báo và mộng báo thường xuất hiện trong truyện cổ tích của các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên. Đồng thời, luận văn nhằm chỉ ra sự gắn bó giữa đời sống
tâm linh, nguồn gốc dân tộc học với motif điềm báo và mộng báo nói riêng cũng
như cách phản ánh đời sống, tư duy trong truyện cổ tích nói chung của các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên.
Qua thao tác so sánh motif điềm báo và mộng báo trong truyện cổ tích của
các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với của người Việt, chúng ta có thể thấy những
điểm tương đồng và dị biệt, từ đó nhấn mạnh những đặc trưng của motif này trong
truyện cổ tích các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
a/ Về vấn đề điềm báo, mộng báo trong đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên
Vấn đề điềm báo và mộng báo trong đời sống tâm linh của các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến trong các công
trình nghiên cứu về con người, xã hội, văn hóa Tây Nguyên. Điềm báo, mộng báo
được coi là một trong những hiện tượng đặc trưng trong đời sống tinh thần của
những cư dân bản địa Tây Nguyên.
Đầu thế kỷ XX, các nhà dân tộc học của Pháp như: Georges Condominas,
Henri Maitre, Jacques Dournes,... đã tiến hành hành trình khảo sát xã hội Tây
tín hiệu khác như: bói điềm, phép thử, kiêng cữ, … Ông cho rằng, sở dĩ có hệ thống
những tín hiệu mang tính thông báo như trên bởi theo nguyên tắc tín ngưỡng thần ý
của con người nơi đây, tất cả hành động, việc làm đều phải cầu xin và làm theo ý
thần linh. Do đó, con người phải tìm cách nhận biết thái độ, ý muốn của thần linh
qua giấc mơ, điềm triệu, bói điềm,…
Theo Nguyễn Tấn Đắc, giấc mơ được họ (người Tây Nguyên) cảm nhận
như một tín hiệu mang tính thông báo để quyết định hành động. trong thời đại tiền
khoa học, giấc mơ được xem là hoạt động của linh hồn. […] Người ta chỉ xem giấc
mơ là cách thế giới siêu linh mách bảo cho con người biết trước việc mình định làm
là tốt hay xấu, nên hay không nên. Gần như là một quy tắc chỉ đạo hành động trước
khi định đoạt một việc gì, từ mua ché, mua chiêng, đến cưới xin, làm rẫy, dời
làng,… người ta đều phải chờ sự mách bảo của thế giới siêu linh qua giấc mơ. Đối
với họ, giấc mơ là một căn cứ có tính chất quyết định để định đoạt hành động. Việc
tin vào giấc mơ là một hiện tượng phổ biến của nhân loại, nhưng ở Tây Nguyên,
giấc mơ còn giữ vai trò quyết định cho hành động. [50, tr.113]
Cũng theo nhà nghiên cứu, điềm triệu khác với giấc mơ. Ông nói rằng điềm
triệu là những hiện tượng trong thiên nhiên hoặc xã hội con người gặp khi sắp hành
động, được xem như là những tín hiệu mang tính dự báo cho kết quả của việc làm.
Điềm triệu không hẳn là sự mách bảo trực tiếp của thần linh, nhưng thế giới cây cối,
chim muông đều còn mang đầy thần tính nên điềm triệu vẫn là một biểu hiện của
thần ý làm căn cứ cho hành động. Điềm triệu cũng là một hiện tượng phổ biến của
nhân loại, còn tồn tại trong cả những xã hội có nền văn minh cao. Ở Tây Nguyên,
người ta vẫn rất coi trọng điềm triệu.
b/ Về motif điềm báo, mộng báo trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên
Motif điềm báo, mộng báo, đôi khi được gọi chung là motif điềm mộng
được các nhà nghiên cứu nhắc đến qua các công trình nghiên cứu chung về văn học
dân gian hay truyện cổ dân gian của từng dân tộc thiểu số đã được đề cập đến ở các
này đồng thời với các motif khác có trong truyện cổ của dân tộc thiểu số được khảo
sát mà chưa đi sâu phân tích, lí giải. Như vậy, motif điềm báo và mộng báo chưa
được đặt thành một vấn đề nghiên cứu riêng biệt.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a/ Về vấn đề thể loại
Truyện cổ tích và truyện cổ dân gian tuy có những nét nghĩa giống nhau
nhưng là hai khái niệm khác nhau. Truyện cổ dân gian (thường gọi tắt là truyện cổ)
là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần
chúng vô danh sáng tác và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Trong khi đó,
truyện cổ tích là một thể loại của bộ phận truyện cổ dân gian, của văn học dân gian.
Do đó, khi khảo sát các văn bản trong các truyện cổ các dân tộc thiểu số, người viết
dựa trên những đặc điểm phân biệt giữa thể loại truyện cổ tích với thể loại thần
thoại, truyền thuyết để xác định rõ những văn bản nào là đối tượng nghiên cứu của
luận văn. Đồng thời, đối với truyện cổ của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, có
một ranh giới mong manh, sự giao thoa giữa thần thoại, truyện cổ tích và truyền
thuyết. Do đó, sự phân loại truyện cổ tích của các dân tộc thiểu chỉ có tính chất
tương đối
b/ Tư liệu để khảo sát là truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Mỗi vùng văn hoá bao gồm nhiều tộc người. Ở Tây Nguyên, hiện nay có
khá nhiều dân tộc sinh sống: người Việt (dân tộc Kinh), các dân tộc thiểu số bản địa
như: Ê Đê, Ba Na, Mơ Nông, Gia Rai, Cơ Ho, Chu Ru, Xê Đăng,…. Vì vậy, luận
văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số,
cụ thể hơn là truyện cổ tích của các tộc người bản địa ở Tây Nguyên chứ không
phải là truyện cổ tích của tất các dân tộc thiểu số đang hiện diện ở vùng đất Tây
Nguyên vì có một số tộc người vừa mới di cư trong thời gian gần đây. Trong luận
văn, truyện cổ tích của người Việt cũng được khảo sát nhằm so sánh với truyện cổ
tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên để rút ra những điểm tương đồng và
khác biệt trong cách xây dựng cốt truyện và tư duy truyện cổ tích. Từ đó có thể thấy
cổ tích của người Việt, người viết cũng chọn khảo sát các truyện cổ tích của dân tộc
Việt trong các công trình:
− Viện khoa học xã hội Việt Nam 2004, Tổng tập Văn học dân gian người
Việt, tập 6, Nxb Khoa học xã hội: kí hiệu lần lượt là TT III.
− Nguyễn Đổng Chi 2000, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1 và 2, in
lần thứ tám, Nxb Giáo dục: kí hiệu lần lượt là TT IV.
d/ Motif mà luận văn chọn nghiên cứu là motif điềm báo và mộng báo
Trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, motif điềm
báo, mộng báo là những motif xuất hiện thưởng xuyên bên cạnh các motif phổ biến
khác của truyện cổ tích. Luận văn chọn nghiên cứu motif điềm báo, mộng báo, cấu
tạo, dạng thức của chúng và đặt chúng trong mối quan hệ với những chi tiết, motif
có trong cốt truyện cổ tích.
Về vấn đề lí thuyết của thuật ngữ “motif”, điềm báo, mộng báo, luận văn sẽ
dành một phần trong chương chính để trình bày cụ thể hơn.
4.
Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu theo motif: luận văn xem điềm báo, mộng báo là
những motif trong thành phần cốt truyện cổ tích, nghiên cứu cấu tạo, vai trò, chức
năng của nó đối với diễn biến cốt truyện.
-
Phương pháp mô hình hoá: từ nội dung của các truyện cổ tích được khảo sát,
người viết sẽ lập mô hình chung nhất cho từng nhóm truyện cỏ cốt truyện, kết cấu
tương đồng. Từ những mô hình này, chúng ta có thể thấy được nội dung, vai trò,
biệt giữa hai nhóm, hai đối tượng nào đó. Luận văn dùng phương pháp so sánh để
đưa ra một vài nhận xét so sánh về những tương đồng và dị biệt trong motif điềm
báo và mộng báo giữa truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và
truyện cổ tích của người Việt.
-
Phương pháp dân tộc học: là phương pháp đắc dụng trong nghiên cứu văn học
dân gian. Propp từng khẳng định “tách ra khỏi dân tộc học thì không thể nghiên cứu
folklore một cách duy vật được”. Luận văn sử dụng phương pháp dân tộc học như
một cách để có thể lí giải một phần nào đó những vấn đề có liên quan đến motif
điềm báo và mộng báo. Dựa vào những đặc điểm dân tộc học của các tộc người Tây
Nguyên, luận văn làm sáng tỏ một số nội dung, đặc trưng của những motif này
trong truyện cổ tích.
5.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần các phần dẫn nhập, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương chính như sau
Chương 1: Sơ lược về diện mạo vùng văn hoá Tây Nguyên
Trong chương này, luận văn có cái nhìn khát quát nhất về điều kiện tự
nhiên và cư dân, tổ chức xã hội, lối sống và đời sống tâm linh đặc thù của vùng văn
hoá Tây Nguyên. Chương 1 được coi như một phần cơ sở để thấy được những đặc
điểm riêng biệt, đặc trưng trong cách sáng tạo, tư duy truyện cổ tích của các tộc
người nơi đây.
Chương 2: Phân loại motif điềm báo, mộng báo và cấu tạo của motif
điềm báo, mộng báo
cao xen lẫn với các cao nguyên đất đỏ bazan. Nét độc đáo của địa hình Tây Nguyên
là sự nâng cao hơn rất nhiều so với các khu vực xung quanh với nhiều đứt gãy, bậc
thềm tạo nên đèo dốc cheo leo và hiểm trở. Từ nhiều thế kỉ trước, địa hình phức tạp,
hiểm trở có lẽ là một trong những yếu tố ngăn cản sự xâm nhập của các luồng văn
hoá bên ngoài, giúp cho vùng đất này giữ lại được hầu như màu sắc văn hoá bản
địa. Đầu thế kỉ XX, khi nghiên cứu, khảo sát vùng núi cao nguyên Trường Sơn –
Tây Nguyên, Henri Maitre đã gọi đây là vùng hinterlandh. Trong tiếng Anh,
hinterland có nghĩa là vùng đất ở sâu bên trong cách xa bờ biển. Trong nghiên cứu
dân tộc học, hinterland còn được dùng để chỉ vùng đất chưa bị sự thâm nhập của
các tộc người khác về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Như vậy có thể thấy rằng
hàng rào núi non đã ngăn trở mọi cuộc thâm nhập vào vùng đất này trong suốt nhiều
thế kỉ và cuộc sống của các cư dân nơi đây được duy trì trong tình trạng hoang dã,
gần như là nguyên thuỷ.
Khí hậu ở Tây Nguyên phân thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô,
mang sắc thái của một vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cao nguyên. Yếu tố này
góp phần tạo nên nhịp điệu sản xuất và đời sống văn hoá đặc trưng có tính chu kì
của Tây Nguyên.
Đặc điểm địa hình, khí hậu, địa chất nơi đây có vai trò quan trọng trong
việc tạo nên sự phong phú, đa dạng về cảnh quan tự nhiên và thế giới động thực vật.
Một nét nổi bật của Tây Nguyên chính là hệ sinh thái rừng với độ che phủ rừng cao
nhất nước ta. Nhắc đến Tây Nguyên, người ta nghĩ ngay đến vùng đất của nắng, gió
và rừng cây bạt ngàn. Rừng Tây Nguyên qui tụ hàng nghìn loài thực vật, hàng trăm
loài chim thú từ lâu đời mà cho đến nay vẫn còn rất nhiều loài động thực vật quí
hiếm. Đây còn là kho dược liệu tự nhiên vô cùng quí giá được tàng trữ qua hàng
nghìn năm. Rừng thật sự đã gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của người dân Tây
Nguyên bao đời nay. Mọi thứ trong làng, trong nhà, vật chất lẫn tinh thần đều “làm
bằng” rừng, lấy từ rừng. “Tất cả đều là rừng. Rừng vây bọc lấy con người đi vào tận
trong xương thịt máu huyết con người, thậm chí là một phần “bản nguyên” của con
các tộc người, nhất là ở vùng giáp ranh rất dễ dàng, dù mỗi tộc người có thể lưu giữ
gần như nguyên vẹn nét đặc trưng văn hoá cổ truyền của mình.
Các tộc người bản địa ở đây được chia làm 3 nhóm chính: nhóm Ba Na –
Xơ Đăng phân bố chủ yếu trên địa bàn bắc Tây Nguyên, nhóm Mơ Nông – Mạ phân
bố cư trú chủ yếu trên địa bàn nam Tây Nguyên (thuộc Lâm Đồng và các vùng lân
cận) và nhóm Nam Đảo (Gia Rai, Ê Đê) cư trú chủ yếu ở trung tâm Tây Nguyên.
Từ đầu công nguyên, Tây Nguyên là nơi diễn ra các quá trình hình thành
tộc người và cố kết các thành phần tộc người. Quá trình này diễn ra lâu dài và dưới
nhiều hình thức. Vì vậy, thành phần cư dân đa dạng nhưng ở Tây Nguyên có một sự
thống nhất trong bản sắc văn hoá, đời sống tâm linh giữa các tộc người. Mặc dù các
tộc người Tây Nguyên thuộc 2 dòng ngôn ngữ nhưng một số nhà ngôn ngữ đã đưa
ra giả thuyết rằng đã có sự Nam Đảo hoá ở các tộc Môn – Khmer hoặc sự Môn –
Khmer hoá ở các tộc Nam Đảo, bởi họ thấy rằng các mối quan hệ nguồn gốc và lịch
sử giữa các tộc người này là khá chặt chẽ. Do đó, tính thống nhất trong đặc trưng
văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên cũng có thể do quá trình phân li hay hội nhập
xảy ra trong các nhóm tộc người. Cụ thể hơn, có nhiều tộc người vốn có cùng gốc,
nay diễn ra sự phân chia, tách nhóm, ngược lại, cũng có những nhóm người nhỏ
đang trong quá trình đồng hoá vào các nhóm lớn lân cận. Như thế, giữa các tộc
người có sự tương đồng văn hoá khá rõ nét.
Tính cách của người dân Tây Nguyên cũng mang sắc thái riêng. Môi trường
núi rừng đã tạo cho họ tính tình phóng khoáng, ưa chuộng tự do, thích thoải mái,
gần gũi thiên nhiên. Đồng thời, núi rừng cũng mang đến cho con người nơi đây tính
cách dũng cảm, hào hiệp, thượng võ, ung dung.
1.2 Tổ chức xã hội
Sinh sống trong môi trường cao nguyên, nền kinh tế nương rẫy, chịu nhiều
tác động khách quan của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Tây Nguyên tiến triển chậm và
bảo lưu nhiều tàn dư của xã hội tiền giai cấp. Cho tới những thập kỉ gần đây, xã hội
cổ truyền của các dân tộc Tây Nguyên vẫn lấy buôn làng làm đơn vị tổ chức xã hội
nhiều nghi lễ của cộng đồng. Ngoài ra, còn có khu nhà mồ, ở gần nơi cư trú, là nơi
gửi hồn và xác của người chết trong thời gian chưa làm lễ bỏ mả; và khu đất canh
tác để trồng lương thực. Sự phân định không gian môi trường sống cũng là cơ sở để
xác định lãnh thổ của mỗi thành phần dân tộc (hay nhóm dân tộc).
Làng là trung tâm sinh hoạt kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Mọi hoạt
động xã hội, phong tục mang tính chất cộng đồng đều tuân thủ những luật lệ chung
do một bộ máy tổ chức mang tính tự quản điều hành. Đứng đầu làng là chủ làng,
một người có uy tín, am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình, có kinh nghiệm
sản xuất cũng như có đủ năng lực điều hành công việc của làng. Chủ làng trông coi
bến nước và các nghi lễ chung, hướng sản xuất mùa vụ,…. Bởi chủ làng có uy tín
tinh thần nên được mọi người nghe theo, đôi khi là tuyệt đối, không dùng uy quyền
và cũng không có đặc quyền, đặc lợi nào cả. Tóm lại, chủ làng là người quán xuyến
mọi mặt của cuộc sống cộng đồng, từ đối nội đến đối ngoại, là người đại diện cho
tập thể và vẫn là một thành viên lao động của làng. Trong tổ chức xã hội của người
Tây Nguyên, có một lớp người quan trọng, được trọng vọng, tôn kính, đó là những
già làng. Già làng rất có uy tín, kinh nghiệm trong làng. Người dân coi họ là hiện
thân của phong tục tập quán, của kinh nghiệm cộng đồng. Lời nói, hành động của
họ là biểu hiện của trí tuệ và truyền thống cộng đồng. Vô hình chung, họ tạo thành
một cơ quan tham mưu, cố vấn cao nhất của làng. Chủ làng thường dựa vào ý kiến
của các già làng này để thực thi các công việc.
Xã hội cổ truyền Tây Nguyên chưa có sự phân chia giai cấp, đẳng cấp mà
chỉ mới có sự chênh lệch giàu nghèo do khả năng lao động, hoàn cảnh khác nhau
giữa các gia đình. Ở Tây Nguyên, trong xã hội tuy đã có nô lệ nhưng chỉ chiếm số ít
và tính chất của lớp người này có khác với nhiều nơi. Nô lệ không thế tập, có quyền
lấy con gái chủ, được tham gia hội đồng làng,….
Theo các nhà nghiên cứu, các dân tộc Tây Nguyên tồn tại các hình thức gia
đình mẫu hệ, phụ hệ và song hệ; trong đó, gia đình mẫu hệ là tiêu biểu và đặc trưng
cho các tộc người ở đây. Một đặc điểm nổi bật của xã hội Tây Nguyên là quan hệ
cũng sử dụng các biện pháp có tính mê tín. Khi đã xét xử xong, bao giờ cũng có
kèm theo những lễ nghi nhằm chấm dứt oán thù giữa hai bên, có sự chứng giám của
thần linh.
Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên đều có luật tục riêng, mang dấu ấn bản sắc văn
hoá. Chúng xuất hiện và được duy trì trong xã hội chưa phân hoá giai cấp trên cơ sở
của nền nông nghiệp lạc hậu vùng cao nguyên.
Tóm lại, luật tục là những nguyên tắc ứng xử của cộng đồng, đã được hình
hiện. Nó ra đời đáp ứng nhu cầu duy trì, củng cố tính thống nhất về quan hệ cộng
đồng, có tác dụng chuẩn định những khuôn mẫu ứng xử và lề thói sinh hoạt xã
hội,….Tính bền vững của phong tục tập quán, tính khép kín chặt chẽ của buôn làng
và mối quan hệ khăng khít giữa các thành viên của cộng đồng là những nhân tố giữ
gìn luật tục vẫn còn giá trị cho đến ngày nay dù đã có nhiều biến động về kinh tế, xã
hội ở trong vùng.
1.3 Lối sống
Nền kinh tế ở Tây Nguyên là nền kinh tế tự cung tự cấp trên cơ sở canh tác
nương rẫy là chủ yếu. Ngoài ra người Tây Nguyên còn trồng ngô, khoai, sắn. Các
tộc người làm rẫy, chặt cây, phát rừng, trồng tỉa lúa khô và các lương thực khác trên
nương rẫy, nơi đất cao ở sơn nguyên, bình nguyên, hoặc nơi đất thấp ở các thung
lũng, triền sông. Kinh tế nương rẫy là nền kinh tế ở trình độ thấp. Đây cũng là
phương thức canh tác mà con người hoàn toàn lệ thuộc vào thiên nhiên, phải thích
ứng với những điều kiện tự nhiên và khí hậu. Phương thức canh tác nương rẫy cũng
tạo cho con người mối gắn bó với môi trường rừng núi. Nếp sống nương rẫy tồn tại
trong các tộc người Tây Nguyên là một trong những đặc trưng của “văn hoá rừng” –
nét văn hoá độc đáo, chỉ riêng có ở Tây Nguyên. Toàn bộ đời sống lao động sản
xuất, đời sống tinh thần, các hoạt động văn hóa của các dân tộc ở đây gắn bó với núi
rừng và nương rẫy.
Bên cạnh hoạt động trồng trọt, người Tây Nguyên còn chăn nuôi gia súc,
bắt và thuần dưỡng voi. Voi được coi là tài sản quý, biểu tượng cho sức mạnh và
đỡ mà không hề tính toán chi li, thiệt hơn. Trong làng, khách của một nhà là khách
chung của cả làng. Con trâu, con bò khi còn sống là của riêng một cá nhân, nhưng
khi giết thịt thì là của chung cộng đồng. Sự giúp đỡ nhau trở thành một qui tắc,
phong tục của toàn xã hội. Do đó, có thể nói làng của người Tây Nguyên có một sự
cố kết rất chặt chẽ tạo thành một tinh thần cộng đồng vô cùng mạnh mẽ. Tinh thần
tập thể cao một mặt tạo nên sự hòa hợp lớn trong cộng đồng làng nhưng mặt khác
cũng tạo nên sự khép kín của buôn làng.
Mỗi làng cũng có một ngôi nhà rông làm trung tâm sinh hoạt văn hoá. Đây
là nơi họp bàn những công việc công ích và ban bố những quyết định liên quan đến
vận mệnh của cộng đồng. Ngoài ra, nhà rông còn là nơi giáo dục truyền thống cho
thế hệ trẻ, xét xử những vi phạm phong tục tập quán, là nới cho khách dừng chân.
Hơn hết, nhà rông được coi là nơi trú ngụ của thần linh.
1.4 Đời sống tâm linh
Các dân tộc bản địa Tây Nguyên còn mang trong lòng một xã hội với nhiều
dấu tích của thời kỳ thị tộc, bộ lạc. Cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, các dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên vẫn còn đang sống ở giai đoạn tan rã của xã hội công xã
nguyên thuỷ và tư duy của họ vẫn là tư duy nguyên thuỷ. Bao quanh cuộc sống của
các dân tộc Tây Nguyên là những điều thần bí, thế giới hiện thực của con người Tây
Nguyên là một thế giới xen kẽ giữa thực và huyền ảo. Ở đây, các dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên quan niệm vạn vật hữu linh – một quan niệm tín ngưỡng sơ khai của
con người nguyên thuỷ. Họ cho rằng con người, cây cối, vạn vật sống được nhờ có
tinh linh hay hồn. Từ đó, con người tin tưởng trong thế giới tự nhiên có một thế giới
siêu nhiên với quyền năng vô hạn bao quanh thế giới thực của con người, chi phối,
quyết định tới mọi mặt đời sống của con người.
Quan niệm này dẫn đến tín ngưỡng đa thần trong đời sống tâm linh của các
tộc người Tây Nguyên. Họ quan niệm mọi vật xung quanh con người đều có yang
(hồn, thần), từ các vật dụng (chiêng, ché,…) đến cây cỏ, sông suối, con vật. Yang
có loại xấu và loại tốt, có thể phù hộ hoặc làm hại con người, vạn vật có yang nên
Người Gia Rai thường nhắc đến và xem trọng 3 loại Yang: Yang Sang –
thần giúp con người có thể dựng được nhà, Yang Ala Bôn (Thần làng, gồm thần đất
và thần nước) và Yang Rênia (thần bến nước); Yang Pơ Tao (gồm Pơ Tao Ia – tức
Vua Nước và Pơ Tao Pui – tức Vua Lửa). Trong khi đó, người Giẻ Triêng dùng các
khái niệm “Giàng” hoặc “Năm” để chỉ lực lượng siêu nhiên, người Brâu quan niệm
vạn vật trong vũ trụ đều do vị thần tối cao là Giàng Paxây sinh ra và quan trọng nhất
là Giàng Mắt ngay (thần mặt trời), Giàng Dak (thần nước), Giàng Bri (thần rừng),…
Người Chu Ru thì chia thế giới thần linh ra hai ngôi: Yang – gồm những vị
thần ở dưới đất và Pô – những vị thần ở trên trời.
Yang trong quan niệm của người Tây Nguyên chứa đựng nhiều ý nghĩa:
tinh linh, hồn, thần linh. Đối với con người, Yang gọi là hồn. Mọi người Tây
Nguyên đều tin là có linh hồn. Họ quan niệm hồn rất đa dạng, tuỳ theo trí tưởng
tượng của từng tộc người, từng vùng. Mỗi người có thể có nhiều hồn cư trú trong cơ
thể. Có hồn chính, hồn phụ với những chức năng khác nhau. Có hồn gắn liền với
thể xác, có hồn đi lang thang, hay bị các siêu linh bắt giữ làm người bị đau ốm. Hồn
quyết định sự tồn tại của thân xác. Cuộc sống của hồn được thấy rõ nhất trong
những giấc chiêm bao. Người Ê Đê cho rằng trong một cá thể tồn tại ba linh hồn:
một cái là m’gat sinh ra các giấc mơ; m’ngah là hơi thở của sự sống, sau khi con
người chết, nó sẽ đi lang thang rồi tìm đầu thai vào người khác; tlang hea, một trong
các hình thức của linh hồn, trong trường hợp này nó là một con chim.
Người Ba Na thì quan niệm mỗi con người có 3 hồn chi phối cuộc sống
hiện hữu trên cõi đời. Hồn chính ở chỏm tóc, hồn phụ ở trán và thân thể con người.