VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------------------
HOÀNG VĂN QUYNH
LUẬT TỤC
VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
(QUA LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY BẮC VÀ TÂY NGUYÊN)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------------------
HOÀNG VĂN QUYNH
LUẬT TỤC
VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
(QUA LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY BẮC VÀ TÂY NGUYÊN)
2.2. Nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của Luật tục ............................................ 32
2.3. Vai trò của Luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
và xây dựng pháp luật ........................................................................................... 44
2.4. Mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật trong việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam ................................................................. 49
2.5. Vận dụng luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường ở một số
quốc gia trong khu vực - giá trị tham khảo cho Việt Nam ................................... 59
Chương 3: NỘI DUNG VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT TỤC CÁC DÂN TÔC THIỂU SỐ TÂY BẮC
VÀ TÂY NGUYÊN ................................................................................................. 64
3.1. Tổng quan về Tây Bắc và Tây Nguyên ......................................................... 64
3.2. Đặc điểm của luật tục Tây Bắc và luật tục Tây Nguyên ............................... 67
3.3. Quy định về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
trong luật tục của các dân tộc thiểu số Tây Bắc và Tây Nguyên ......................... 70
3.4. Thực tiễn vận dụng luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và
môi trường ở các vùng dân tộc thiểu số Việt Nam ............................................... 97
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
LUẬT TỤC TRONG VIỆC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................... 108
4.1. Nhu cầu bảo tồn, phát huy vai trò của luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường................................................................................... 108
4.2. Quan điểm bảo tồn, phát huy giá trị của luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trường................................................................................... 117
4.3. Đề xuất nhóm giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của luật tục
trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường .................................... 122
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ..................................................................................................... 136
Trong cuộc sống loài người, tài nguyên thiên nhiên và môi trường là nền
tảng cơ bản nhất để con người có thể sinh tồn. Ngay từ khi mới ra đời, con người
1
với thế giới tự nhiên đã trở thành một khối thống nhất không thể tách rời. Chúng ta
thấy, trong lịch sử tiến hoá và phát triển của mình, con người chưa bao giờ và
không thể “bước ra khỏi” môi trường tự nhiên xung quanh mình. Bởi vì, thực chất
con người cũng là một sinh vật của tự nhiên mà lại là một loài sinh vật có ý thức
cao. Cho nên, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên mãi mãi vẫn sẽ là mối quan
hệ sống còn và mối quan hệ đó càng quan trọng hơn, thân thiết hơn ở các vùng dân
tộc thiểu số các nước trên thế giới cũng như Việt Nam vẫn chủ yếu sống dựa vào
thiên nhiên.
Hiện nay, tuy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật đã hạn chế
và loại bỏ khá nhiều những ảnh hưởng và sự chi phối của điều kiện tự nhiên đến
phong tục tập quán và lối sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Song, đối với các
dân tộc thiểu số, nhất là các vùng xa xôi hẻo lánh vẫn chưa thể hoàn toàn tách khỏi
những tác động cũng như sự chi phối sâu sắc của điều kiện tự nhiên xung quanh họ.
Thực tế hiển nhiên đó đã khiến loài người nói chung và các dân tộc thiểu số
phải có cách ứng xử với tự nhiên một cách hợp lý. Thế ứng xử khôn khéo nhất,
thông minh nhất ở đây là tạo ra sự hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Để
giữ được sự hài hoà đó một cách bền vững, con người đã sáng tạo ra những nguyên
tắc, cách ứng xử được gọi là “Luật tục”, được áp dụng trong cuộc sống của đồng
bào dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hoà giữa
con người và thế giới tự nhiên.
Nhưng, trong thực tế, những nguyên tắc đó luôn luôn bị vi phạm bởi nhiều
nguyên nhân. Thậm chí, những điều khoản cụ thể (nhất là những điều liên quan đến
tín ngưỡng) ngày càng bị mờ nhạt đi rồi biến mất hẳn. Thực trạng đó đã dẫn tới sự
tôn trọng và những biện pháp bảo vệ tự nhiên ngày càng bị giảm sút. Hậu quả tai
hại của thực trạng trên và nhiều lý do khác hiện nay đã dẫn tới sự suy thoái của môi
Như vậy, xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp với
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nuớc trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc
vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến, trong
một số l nh vực nhất định vẫn cần có sự kế thừa, phát huy yếu tố tích cực của phong
tục tập quán (Luật tục) vận dụng vào công tác lập pháp, công tác quản lý xã hội,
quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường nói riêng. Để tồn tại và phát triển một
3
cách bền vững trong môi trường thiên nhiên miền núi, nhiều thế hệ các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam đã xây dựng và phát triển những hệ thống tri thức và luật tục riêng
của mình trong việc sử dụng và quản lý một cách bền vững các nguồn tài nguyên
thiên nhiên này. Giống như hệ thống luật tục các dân tộc thiểu số vùng Đông Nam
Á, luật tục nói chung và luật tục trong sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường nói riêng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam tồn tại ở
dưới hai dạng là thành văn và truyền miệng. Tuy nhiên, cho dù tồn tại ở dạng thức
nào thì luật tục của các dân tộc thiểu số thường được duy trì và củng cố bởi các thể
chế xã hội và tâm linh truyền thống như già làng, trưởng bản, các thầy cúng, thầy
mo, niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, hay các kiêng kỵ, v.v…
Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, bối cảnh kinh
tế - xã hội và văn hoá của các dân tộc thiểu số ở cả Tây Bắc và Tây Nguyên đã có
những biến đổi lớn, song luật tục vẫn đóng góp vai trò nhất định trong việc điều
chỉnh các mối quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên xung quanh họ.
Như nhiều dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vẫn còn duy trì các thực hành tôn
giáo tín ngưỡng và quy định luật tục về rừng thiêng, rừng cấm, rừng đầu nguồn….
Ở nhiều nhóm tộc người, một số quy định của luật tục vẫn còn được sử dụng để
quản lý, bảo vệ và phân phối tài nguyên rừng, tài nguyên nước, đất đai… giữa các
thành viên trong cộng đồng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm làm rõ và cụ thể hơn những vấn đề lý luận và thực trạng của luật tục
các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, ở vùng các dân tộc thiểu số Tây Bắc và
Tây Nguyên nói riêng trong việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và
bảo vệ môi trường.
- Tìm ra các rào cản xã hội và rào cản pháp lý trong việc kết hợp hệ thống
luật tục vào trong hệ thống luật pháp nhà nước để phát huy tốt hơn vai trò của luật
tục trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong
xã hội Việt Nam đương đại.
- Trên cơ sở nhu cầu bảo tồn và phát huy vai trò của luật tục, đề xuất các giải
pháp và khuyến nghị cho việc kết hợp có hiệu quả giữa luật tục và luật pháp nhà
nước trong việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
ở Việt Nam hiện nay.
5
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các nghiên cứu về luật tục, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá các
hướng, hiện trạng nghiên cứu trong các nghiên cứu về luật tục về quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Khái quát những vấn đề lý luận về luật tục của các dân tộc thiểu số Việt
Nam, tìm hiểu về nguồn gốc, nội dung, đặc điểm và vai trò của luật hệ thống luật
tục trong quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
- Phân tích thực trạng của luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường ở các dân tộc thiểu số Tây Bắc và Tây Nguyên hiện nay, thực tiễn vận dụng
luật tục trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Trên cơ sở các phân
tích, đánh giá, khuyến nghị, đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy vai trò, giá trị
của luật tục cũng như việc kết hợp giữa luật tục và pháp luật Nhà nước trong việc
bảo vệ, quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở vùng các
thực địa. Các hệ thống tài liệu sau đây đã được chọn để phân tích:
1) Các quy định và hệ thống pháp lý về người dân tộc thiểu số từ trước đến
nay để biết luật tục của người dân tộc thiểu số được hiểu và sử dụng như thế nào
trong văn bản pháp quy của nhà nước.
2) Các tài liệu đã được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt về luật tục
của các tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung và các tộc người thiểu số ở
Việt Nam nói riêng. Hệ thống tài liệu này là cơ sở cơ sở lý luận cho đề tài.
3) Hệ thống luật và văn bản pháp quy của nhà nước về vấn đề sở hữu, bảo
vệ, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở các vùng dân tộc thiểu số.
4) Báo cáo kinh tế- xã hội, hoặc các đề tài, dự án của các tỉnh vùng Tây
Bắc và Tây Nguyên, đặc biệt các báo cáo liên quan đến xung đột và tranh chấp tài
nguyên thiên nhiên và môi trường hiện nay.
4.2. Nghiên cứu thực địa
Nghiên cứu thực địa, bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được sử
dụng để thu thập các thông tin chi tiết về lịch sử và hiện tại liên quan đến thực
hành luật tục, đặc biệt là luật tục về sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của
các tộc người.
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tiến hành với người địa phương và
cán bộ nhà nước đang làm việc tại địa bàn bởi 2 lý do sau: 1) người dân địa phương
7
là những người có các trải nghiệm thực tế hàng ngày liên quan đến việc sử dụng
luật tục của cộng đồng và luật nhà nước trong việc sử dụng và quản lý, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường hiện nay; 2) Cán bộ địa phương, đặc biệt là các
cán bộ tư pháp đang công tác tại xã, huyện và tỉnh sẽ là những người cung cấp các
thông tin quan trọng cũng như quan điểm cá nhân về vai trò cũng như hạn chế của
luật tục và luật nhà nước
Đối với các thông tin viên là người dân địa phương, tập trung phỏng vấn
những người cao tuổi. Họ là những người có nhiều trải nghiệm liên quan đến luật
nhiên và môi trường ở Tây Bắc và Tây Nguyên.
Luận án góp phần khẳng định giá trị tri thức bản địa, tính thực tiễn và khoa
học của Luật tục đối với các l nh vực trong cuộc sống nói chung, với việc bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trường của các dân tộc thiểu số nước ta hiện nay.
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, nghiên cứu
các l nh vực khoa học có liên quan; đồng thời, đối với cán bộ quản lý, thực hiện
công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường cấp cơ sở ở các vùng
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thì kết quả nghiên cứu của luận án này góp
phần tư vấn cho công tác tổ chức và thực hiện nhiệm vụ quan trọng trên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đạt được của Luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý
luận, cung cấp các luận cứ khoa học về Luật tục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và
môi trường của các dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên Việt Nam; giải quyết
mối quan hệ giữa Luật pháp hiện hành với sự kế thừa, vận dụng các giá trị tích cực
của Luật tục đối với công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
thông qua việc xây dựng các văn bản dưới luật.
Mặt khác, đối với việc bảo tồn giá trị tri thức truyền thống bản địa, nhất là
giá trị tri thức cổ của các dân tộc thiểu số trong bức tranh chung bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam thì kết quả nghiên cứu này cũng là một đóng góp hữu ích về
phương diện lý luận.
Luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về lịch sử nhà nước
và pháp luật thông qua nghiên cứu luật tục. Kết quả nghiên cứu của luận án góp
phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước, quản lý cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung cũng như việc
quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói riêng, nhất là ở các vùng dân
tộc thiểu số.
9
quản lý cộng đồng, điều hoà các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng. Vì vậy, từ rất
lâu trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau. Trong phạm vi luận án này, ngoài những nghiên cứu theo góc độ văn
hoá, nhân học, xã hội học… luận án còn tập chung nghiên cứu dưới góc độ, phương
diện luật pháp.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tình hình nghiên cứu luật tục trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm, tìm hiểu, nghiên cứu, nhất là trong thế kỷ 20. Luật tục đã được quan tâm trước
nhất từ các nhà văn hoá dân gian, các nhà luật học, dân tộc học,…. Từ thời xa xưa,
vấn đề luật tục đã được các nhà nghiên cứu lịch sử luật pháp quan tâm khi đề cập
tới luật pháp của châu Âu, đó là sự kết hợp giữa luật La Mã và luật tục đã được luật
hóa. Về sau, các nhà khoa học quan tâm tới luật tục từ góc độ tập quán trở thành
pháp luật như thế nào và cho rằng tập quán pháp trở thành luật chỉ khi nó được đạo
luật hay quyết định của tòa án công nhận, khi nó được biết như là luật, được chấp
nhận như luật và thi hành như luật.
Như vậy, bên cạnh việc tiếp cận luật tục từ góc độ luật học của các luật sư và
các nhà cai trị thực dân, thì đã xuất hiện phổ biến hơn cách nhìn luật tục từ góc độ
nhân loại học (Anthopology). Đó là việc nhìn nhận luật tục của các bộ lạc, các dân
tộc còn luật tục, như ở châu Phi, châu Á nhằm văn bản hóa luật tục của họ. Cuốn
cẩm nang (Handbook) về Luật tục là một ví dụ cho các công trình nhân loại học về
luật tục, như cuốn Luật Tswanan và tập quán (in năm 1938), cuốn “Luật Sukuma và
tập quán” (in năm 1953) của Cory hay cuốn sổ tay luật Neur của P.P.Howell (in
năm 1954). Cuốn “Luật tục của bộ lạc Haya thuộc lãnh thổ Tanganyika” (in năm
1954) đã mô tả chi tiết về luật tục,…. Đây là các chuyên khảo mô tả luật tục trong
11
môi trường xã hội, văn hóa và luật pháp của các tộc người cụ thể. Ngoài ra, cuốn
“Quá trình tòa án của người Brottse ở Bắc Phodesia (1955) của nhà nhân học Max
Gluckman viết về luật tục theo các vụ án mà các tòa án địa phương đã thực hiện và
quản lý tài nguyên thiên nhiên, những gợi ý nhằm hòa hợp luật thành văn và luật
tục ở châu Á” của tác giả John Ambler [69, 219-257]. Bài viết này bàn đến 3 vấn
đề: so sánh sự khác và giống nhau cơ bản giữa luật thành văn và luật tục; phân tích
những kinh nghiệm của các nước châu Á trong quản lý nguồn tài nguyên đất đai và
xem xét, phân tích vai trò, giá trị của luật tục trong việc quản lý tài nguyên thiên
nhiên. Ngoài ra, tác giả đề cập đến những khó khăn trong việc điều hòa luật thành
văn và luật tục. Tác giả cho rằng, luật tục hay còn gọi là Luật dân gian hay luật
truyền thống, giống như những hình thức pháp luật khác của bất cứ tộc người nào
đều quan tâm nhiều đến các l nh vực phân chia tài nguyên và quyền lực, bình đẳng
và công bằng, trật tự xã hội và hành vi chuẩn mực. Một bộ phận của luật tục trước
đây ít được chú ý tới là mối quan hệ giữa luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên
nhiên. Tác giả cho rằng nguyên nhân của tình trạng này là do hầu hết nhà nước
thường rất tích cực trong việc xây dựng một bộ luật chính thức để kiểm soát việc sử
dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong khuôn khổ một quốc gia. Sức mạnh
pháp lý đó thường làm lu mờ một thực tế là luật tục liên quan đến tài nguyên thiên
nhiên có tồn tại hoặc nó có sức ảnh hưởng lớn đến người dân địa phương.
Một công trình đáng chú ý khác về “Đa dạng pháp luật” của Keebet von
Benda-Beckmann [69, 258-294]. Là một người có nhiều năm nghiên cứu về luật tục
ở Indonesia, bài viết tập trung bàn về chủ đề đa dạng pháp luật và các cuộc tranh
luận mang tính chính trị và lý thuyết diễn ra xung quanh vấn đề này. Các phần trong
bài viết cho thấy, sự đa dạng pháp luật trong bối cảnh của các quốc gia đa tộc
người, không chỉ là biểu hiện của sự sáng tạo và linh hoạt trong việc áp dụng pháp
luật của nhiều quốc gia mà quan trọng hơn, trong bối cảnh đa tộc người thì đa dạng
pháp luật sẽ tạo ra việc quản lý xã hội và tài nguyên hiệu quả, công bằng hơn.
Trong bài “Luật tục, quyền sở hữu đất và vấn đề di cư” nhà nhân học Oscar
Salemink [69, 814 - 862] người đã có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên cứu luật
tục tại Tây Nguyên ở Việt Nam đã chỉ ra rằng mỗi mức độ nào đó đều có sự tồn tại
của luật tục ở Tây Nguyên. Đặc biệt là luật tục trong sở hữu đất đai và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên hiện vẫn còn tồn tại ở các tộc người tại đây. Tuy nhiên, tác giả
13
rừng trên toàn thế giới đã làm cho các nhà khoa học quan tâm hơn đến mối quan hệ
giữa con người và thiên nhiên. Trong các công trình nghiên cứu khoa học xã hội
14
liên quan đến chủ đề này, vai trò và giá trị của luật tục trong quản lý và điều chỉnh
mối quan hệ giữa con người và tài nguyên thiên nhiên ở các vùng dân tộc thiểu số
miền núi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng được quan tâm đặc biệt.
Luật tục hay tập quán pháp là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại ở
thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay với những mức độ
khác nhau ở nhiều tộc người trên thế giới. Luật tục về cơ bản là một kho tàng trí
thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng. Thêm vào đó, luật tục còn chứa đựng
những giá trị nhiều mặt về ngôn ngữ và tư duy, bản sắc văn hóa, văn học, chữ viết,
tôn giáo tín ngưỡng. Bởi thế, các nhà khoa học xã hội, đặc biệt là các nhà luật học,
dân tộc học, văn hóa, sử học đã quan tâm nghiên cứu luật tục cả phương diện lý
luận cũng như thực tiễn.
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu về luật tục các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung
Cũng như trên thế giới, luật tục của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã
được nhiều nhà sử học, luật học, dân tộc học, văn hóa dân gian quan tâm, sưu tầm
và nghiên cứu từ lâu. Theo Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tìm hiểu luật tục các tộc
người ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu đầu tiên về luật tục là do các nhà cai
trị thực dân và các nhà dân tộc học Pháp thực hiện ở Tây Nguyên, với mục đích
nghiên cứu, tìm hiểu nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý xã hội các
tộc người ở Tây Nguyên trong thời gian này. Để thực hiện mục đích đó, Toàn
quyền Đông Dương Pierre Pasquier trong thông tri ngày 30 7 1923 đã yêu cầu thu
thập và ghi chép luật tục để thực thi việc cai trị kể cả người Kinh và người dân tộc
thiểu số ở vùng này. Các nhà cai trị thực dân đã chuyển từ trực trị sang việc sử
dụng các thiết chế cổ truyền (luật tục) để cai trị một cách gián tiếp và đã được coi
là một trong những biện pháp quản lý xã hội hiệu quả nhất ở vùng Tây Nguyên lúc
bấy giờ.
tục sau này.
Sau năm 1975, kế thừa các công trình nghiên cứu về luật tục trước đây, ở
Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về luật tục của các tộc người thiểu số ở các
tỉnh miền núi Tây Bắc và Tây Nguyên lần lượt được công bố. Đầu tiên phải kể đến
cuốn Luật tục Êđê (tập quán pháp) bằng song ngữ Êđê - Việt được nhà xuất bản văn
hóa dân tộc xuất bản năm 2001 của tập thể tác giả Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn
và Nguyễn Hữu Thấu. Trên cơ sở tham khảo hai bộ luật tục mới sưu tầm được, tác
giả đối chiếu, so sánh, bổ sung, chỉnh lý luật tục Êđê của L.Sabatier để sát hơn với
16
ngôn ngữ và thực tế đời sống của tộc người Êđê. Trong tác phẩm này, luật tục Êđê
được chia thành 236 điều và 11 chương, như: chương về các quy định mở đầu, các
tội xúc phạm đến người đầu làng, các tội của người trưởng buôn, các vi phạm lợi
ích công cộng, về hôn nhân, quan hệ cha mẹ - con cái, tội gian dâm, các trọng tội,
của cải, tài sản, gia súc, vv. [67, 27]
Tiếp theo cuốn luật tục Êđê, bộ luật tục M‟nông (tập quán pháp) cũng được
Ngô Đức Thịnh, Điểu Kâu, Trần Tấn Vịnh sưu tầm, hệ thống và biên dịch (Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, 1998). Đây cũng là một trong những cuốn khá hoàn
chỉnh so với luật tục Êđê được xuất bản trước đó. Bộ luật tục M‟nông bao gồm 215
điều và chia thành 8 chương về các tội xét xử, về quan hệ với thủ l nh, quan hệ cộng
đồng, phong tục tập quán, hôn nhân và quan hệ nam nữ, quan hệ gia đình, quan hệ
sở hữu và việc xâm phạm thân thể người khác [66, 18].
Trong số các công trình nghiên cứu về luật tục Tây Nguyên, còn hai công
trình nữa đã được thực hiện, đó là công trình luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên
(Xtiêng, Mạ, Koho) do Ngô Đức Thịnh chủ biên và Luật tục Jrai do Phan Đăng
Nhật chủ trì. Cuốn Luật tục Jrai của Phan Đăng Nhật tập hợp luật tục của các nhóm
người Jrai ở nhiều địa bàn khác nhau như Cheo Reo (Pleiku), Chư Pah, Chư Prông
(Gia Lai). Luật tục Cheo Reo có 65 điều, luật tục Chư Pah có 41 điều, luật tục Chư
Prông có 14 điều. Về cấu trúc, cuốn sách này cũng chia Luật tục thành các chương
Luật tục M‟nông, Luật tục Thái và Hương ước của người Việt, coi đó như là
những đại diện cho các hình thức và trình độ phát triển khác nhau của luật tục các
tộc người ở Việt Nam.
Cùng với việc nghiên cứu luật tục nói chung, công trình “Luật tục và phát
triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” có nhiều bài nghiên cứu về luật tục trên nhiều
phương diện lý luận cũng như thực tiễn, quan điểm, cách tiếp cận khác nhau [69].
Nguyễn Duy Quý - Luật tục và chiến lược phát triển nông thôn ở Việt Nam; Mạc
Đường - Sự tiếp cận nghiên cứu và xử lý luật tục để phát triển nông thôn vùng dân
tộc thiểu số Tây Nguyên; Hà Quế Lâm - Hướng đi đến bảo tồn và duy trì Luật tục ở
Việt Nam; Phan Đăng Nhật - Nguồn gốc và bản chất luật tục Tây Nguyên; Nguyễn
Thị Hiền - Một số quan niệm và phương pháp tiếp cận luật tục; Tô Đông Hải - Luật
tục với việc sở hữu đất đai, rừng núi ở người Raglai xã Cụm Bắc, huyện Khánh
Sơn, tỉnh Khánh Hòa; Chamaliaq Tiến - Luật tục Raglai với các vấn đề liên quan
đến gia súc.
18
Liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữ luật tục và luật pháp cũng có nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến, như: “Một số vấn đề về luật tục và luật pháp ở
Đắc Lắc hiện nay” của Hoàng Thị Kim Quế; “Giá trị của luật tục nhìn từ góc độ
pháp lý” của Nguyễn Thị Việt Hương; “So sánh luật tục Êđê và luật tục M’nông với
một số vấn đề trong luật pháp hiện hành” của Trần Đình Long….
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, cũng có một số luận văn, luận án
viết về luật tục. Luận văn thạc s “Một số vấn đề về luật tục và mối quan hệ giữa
luật tục và pháp luật ở Việt Nam” của Phan Bằng Sơn (Khoa luật, 2006 . - 107 tr)
công trình đã khái quát được mối quan hệ giữa luật tục và các yếu tố tự nhiên - xã
hội, những nét tương đồng và khác biệt cũng như sự tác động qua lại giữa luật tục
và pháp luật. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tích cực của luật
tục trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Công trình
luận án tiến s về “Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối
Trong bài viết của tác giả Cầm Trọng với tiêu đề “Luật tục Thái với việc bảo
vệ môi trường” [69, 356-369]. Với nguồn tư liệu phong phú thu thập được ở Tây
Bắc, tác giả trình bày một cách có hệ thống các quy định của luật tục trong việc
quản lý tài nguyên thiên nhiên. Theo tác giả, đối với người Thái, quản lý, khai thác
và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên được quy định rất cụ thể trong luật tục.
Những phép ứng xử này được tác giả phân thành từng mảng rõ rệt, từ vấn đề dẫn
thủy nhập điền, bảo vệ các khu rừng thiêng, rừng cấm để nguồn nước không bị cạn
kiệt trong mùa khô hanh và đối phó với lũ rừng đầu nguồn cho đến các quy định
công việc đồng áng, vv. Ở phần cuối bài viết, tác giả đề cập đến thực trạng của luật
tục hiện nay và vấn đề cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ở miền núi Tây Bắc.
Ngoài ra, các công trình liên quan đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và môi trường của các dân tộc miền núi, như công trình “Vấn đề bảo vệ môi trường
trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc
và miền núi” của Hoàng Hữu Bình [1] đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường trong
quá trình thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng, vấn đề bảo vệ môi trường trong việc
thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và chương trình 135, đặc biệt là đưa ra
một số giải pháp vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường ở các vùng
dân tộc miền núi. Cuốn “Quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong
phát triển bền vững” của Đặng Thị Hoa đề cập đến nhiều vấn đề ở các vùng dân
tộc thiểu số trong đó có cả việc quản lý khai thác bảo vệ môi trường trong phát triển
bền vững[34]. Cuốn “Tài nguyên thiên nhiên và môi trường với tăng trưởng và phát
triển bền vững ở Việt Nam” của Trần Văn Chử đề cập đến nhiều vấn đề khai thác,
20