ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Ngô Thanh Băng
Ngô Thanh Băng
TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC
CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC HỌC
TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC
CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC
Mã số: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ TUYẾT OANH
Thái Nguyên - Năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Giả thuyết khoa học
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
6. Phương pháp nghiên cứu
5
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
1.2.3. Tổ chức tự học
15
1.2.4. Công nghệ thông tin
16
1.3. Hoạt động tự học môn GDH của SV CĐSP
18
1.3.1. Đặc điểm hoạt động tự học của SV
18
1.3.2. Các hình thức tự học của SV
19
1.3.3. Tự học môn GDH của SV CĐSP
20
1.4. Sự phát triển của CNTT và các yêu cầu khi vận dụng CNTT vào tự
học môn GDH ở trường CĐSP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.2.2. Hướng dẫn tiếp cận các nguồn thông tin phục vụ tự học môn GDH 61
3.2.3. Tổ chức cho SV làm việc theo nhóm kết hợp với thảo luận
66
3.2.4. Xây dựng trang web học tập môn GDH
68
3.3. Thực nghiệm sử dụng trang web GDH để tổ chức tự học môn GDH
cho SV trường CĐSP Nghệ An
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GDH CÓ SỰ
78
3.3.1. Khái quát về thực nghiệm
78
3.3.2. Phân tích kết quả thực nghiệm
82
HỖ TRỢ CỦA CNTT CHO SV Ở TRƯỜNG CĐSP NGHỆ AN
35
2.1. Một vài nét về trường CĐSP Nghệ An
2.3.3. Thực trạng tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT
47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
57
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GDH
CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT CHO SV Ở TRƯỜNG CĐSP NGHỆ
AN VÀ THỰC NGHIỆM
58
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
58
3.1.1. Đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm
58
3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy với vai
trò tích cực, chủ động của SV
58
3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn
58
CNTT : Công nghệ thông tin
Bảng 2.1:
Mức độ nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH
39
ĐC
: Đối chứng
Bảng 2.2:
Thái độ của SV đối với môn GDH
40
GDH
: Giáo dục học
Bảng 2.3:
Nhận thức của SV về các hình thức tự học môn GDH
42
GV
Đánh giá của GV và SV về tác dụng của CNTT trong hỗ trợ
tự học môn GDH
50
Bảng 2.8:
Các công việc mà GV sử dụng để giúp SV tự học môn GDH
52
Bảng 2.9:
Mức độ ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH của SV
53
Bảng 2.10: Các khó khăn của GV khi ứng dụng CNTT vào quá trình tổ
chức tự học môn GDH cho SV
Bảng 3.1:
55
Phân phối tần số điểm thi học phần và phân loại học lực môn
Tâm Lý Học đại cương theo tiêu chuẩn giỏi, khá, trung bình,
yếu – kém của nhóm TN
Bảng 3.2:
MỞ ĐẦU
Trang
Bảng 3.5:
Phân phối tần số điểm kiểm tra môn GDH và phân loại học
lực sau TN của khoa Xã hội
Bảng 3.6:
1. Lý do chọn đề tài
87
Từ những năm thuộc thập kỷ 60, giáo dục cũng như các lĩnh vực khác
chịu ảnh hưởng lớn lao của sự phát triển máy vi tính. Những thành tựu về
Các tham số đặc trưng kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của
khoa Xã hội
89
công nghệ đòi hỏi trường học phải điều chỉnh lại mục tiêu giáo dục để người
Bảng 3.7:
Hứng thú của SV khi học tập qua trang web GDH
91
Trong quá trình học theo hướng đổi mới này, máy vi tính và các thiết bị
hiện đại khác góp phần to lớn trong việc hỗ trợ người học trao đổi ý tưởng,
suy nghĩ có phê phán, đào sâu kiến thức để người học trở thành chủ thể của
hoạt động học. Khi đổi mới phương pháp dạy học, thầy giáo vẫn giữ vai trò
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
hết sức quan trọng trong việc định hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kỹ
năng cho người học. Song, để có thể nâng cao trình độ học vấn cho mình, mỗi
Trang
Biểu đồ 3.1:
Học lực của nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm
83
Biểu đồ 3.2:
Phân phối tần suất kết quả sau thực nghiệm khoa Tự nhiên
85
Biểu đồ 3.3:
Phân phối tần suất kết quả sau thực nghiệm khoa Xã hội
88
người học phải chủ động, tích cực, độc lập, tự chủ với sự hỗ trợ đắc lực và đa
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương
Tuy nhiên, cho đến nay, việc sử dụng phương tiện, đặc biệt là CNTT vào
tiện hiện đại vào quá trình dạy học…Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học,
quá trình dạy học là chưa nhiều. CNTT cũng chưa được ứng dụng phổ biến
tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên…”
trong quá trình tự học của sinh viên (SV). Vì vậy chưa phát triển được khả
năng tự học của người học cũng như tiềm năng vốn có của CNTT.
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ “Về đổi mới cơ bản và
toàn diện nền giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020” đã chỉ rõ:
Môn giáo dục học (GDH) là môn học vừa có tính khoa học, vừa mang
“Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học;
tính giáo dục và tính nghề nghiệp cao, nội dung môn GDH phản ánh đường
phát huy tính chủ động của người học; sử dụng CNTT và truyền thông trong
lối, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển
hoạt động dạy và học. Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư
giáo dục, đào tạo ở nước ta. Đồng thời, cùng với xu thế phát triển của xã hội,
trình; phương tiện chủ yếu vẫn là phấn, bảng, sách giáo khoa và tài liệu tham
kích thích được động cơ, hứng thú học tập môn GDH ở SV CĐSP; chưa phát
khảo. Các phương pháp, phương tiện dạy học đó chưa gây được hứng thú và
huy được tính tích cực, độc lập, chủ động, trong việc khai thác các phương
chưa phát huy được tính tích cực học tập cho SV. Cho nên, việc tạo ra môi
tiện hỗ trợ học tập, kết quả học tập không cao, kỹ năng tự học chưa thực sự
trường dạy- học có sự hỗ trợ của CNTT đối với môn GDH sẽ góp phần khắc
hoàn thiện.
phục được lối truyền thụ một chiều, phát triển được khả năng tự học, tự
nghiên cứu cho SV.
Cần tạo ra một môi trường học tập có sự hỗ trợ của CNTT để phát triển
khả năng tự học môn GDH, sao cho SV CĐSP được tham gia một cách tích
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề đổi mới phương
cực, độc lập, sáng tạo vào quá trình lĩnh hội tri thức và kỹ năng, nâng cao chất
pháp dạy học và sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quá trình dạy
lượng học tập môn GDH và phát triển được khả năng tự học môn GDH cho
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, khái quát
2. Mục đích nghiên cứu
hoá, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng tự học môn GDH của SV hiện
nay. Từ đó xác định biện pháp tổ chức tự học môn GDH cho SV có sự hỗ trợ
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, trò chuyện,
nghiên cứu sản phẩm hoạt động, đàm thoại, thực nghiệm khoa học.
của CNTT nhằm phát huy tính tích cực học tập, góp phần nâng cao chất lượng
- Phương pháp thống kê toán học.
và hiệu quả học tập môn GDH ở trường CĐSP nói chung, trường CĐSP Nghệ
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
An nói riêng.
- Đề tài khảo sát trên SV khoa Xã hội, khoa Tự nhiên và GV tổ Tâm lý –
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Giáo dục trường CĐSP Nghệ An.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình tự học của SV trường CĐSP.
- Đối tượng nghiên cứu: Tự học môn GDH và tổ chức tự học môn GDH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
cho trẻ em khoa học, mà để trẻ tự phát minh”. A.Disterwerg (1780 - 1866): “
Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra
chân lý”. K.Đ.Usinxki (1824 - 1873) cho rằng muốn dạy học tốt cần hiểu biết
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài
tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh. Fourrier(1772) rất coi trọng việc dạy học
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm rất sớm. Ý tưởng
với thực tế. J.Dewey (1858 - 1952) chủ trương giáo dục phải dựa vào kinh
dạy học coi trọng người học, chú ý đến người học đã có từ thời cổ đại. Tuỳ
nghiệm thực tế của trẻ. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để
theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã
trẻ độc lập tìm tòi, thầy giáo là người tổ chức, người thiết kế, ngưòi cố vấn.
phát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay.
Ở Liên Xô (cũ) nhiều tài liệu về vấn đề tự học và tự đọc sách được xuất
Thời cổ đại, ở phương Tây, Xocrate (Hy Lạp, 469 - 399 TCN) đã đưa
thích suy nghĩ của học sinh “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở
biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các tác giả nghiên
cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho
cứu tự học theo hai hướng chính: hướng thứ nhất, nghiên cứu áp dụng công
biết 1 góc mà không suy ra 3 góc thì không dạy nữa” (Luận ngữ).
nghệ dạy học nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, từ
Đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung
chuyên gia về việc dạy, GV phải trở thành chuyên gia về việc học cho học
tâm đã trở thành một tư tưởng, được nhiều nhà giáo dục vĩ đại coi trọng.
sinh. Hướng thứ hai, theo hướng dạy học phân hoá. Dạy học tiến hành theo
Môngtenhơ (1533 - 1592) được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở
nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong
Châu Âu cho rằng muốn dạy học có hiệu quả, không nên bắt buộc trẻ em phải
việc học.
làm theo những ý muốn chủ quan của thầy. J.A.Komenxki (1592 - 1670) kêu
Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Tính…). Hướng thứ ba nghiên cứu tự học như là một
khai trên diện rộng.
hình thức tổ chức ngoài giờ lên lớp, phối hợp với các hình thức tổ chức dạy
Tại Mỹ, năm 2000 có gần 47% các trường Đại học, Cao đẳng đã đưa ra
học khác (Phạm Hồng Quang và một số luận văn thạc sĩ khác).
các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên các khoá học trực
Khi trình độ xã hội ngày càng phát triển, xã hội thông tin buộc mỗi cá
tuyến. Cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường Đại hoc, Cao đẳng đưa ra
nhân phải luôn thích ứng nhanh với cuộc sống đầy biến động. Vì vậy, CNTT
mô hình e-learning. Số người tham gia học tăng 33% hằng năm trong khoảng
ngày càng được ứng dụng nhiều trong dạy và học. Đã có nhiều công trình
thời gian 1999 - 2004.
nghiên cứu về ứng dụng của CNTT trong tự học như:
Ở Châu Á, những nước nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Tác giả Lê Thị Thu Hiền với luận văn thạc sĩ “Xây dựng trang web hỗ
Ở Việt Nam, vấn đề tự học đã có từ xa xưa.Thời phong kiến, thầy đồ
đem lại hiệu quả cao, giúp SV nâng cao chất lượng tư học môn GDH [27].
dạy học thường kèm cặp một nhóm học gồm nhiều đối tượng có trình độ khác
Ngoài ra còn có một số tác giả khác cũng nghiên cứu ứng dụng của CNTT
nhau. Các thầy phải chú ý trình độ, đặc điểm tính cách từng đối tượng và có
trong dạy học như Nguyễn Thị Thanh Hồng với đề tài: “ Xây dựng phần mềm
biện pháp dạy thích hợp. Người học tự học thông qua hình thức có thầy trực
hướng dẫn tự học môn GDH cho SV ĐHSP Hà Nội” [13].
tiếp hoặc gián tiếp.
Như vậy, vấn đề tự học và ứng dụng CNTT trong tự học được rất nhiều
Trải qua các thời kỳ, vấn đề dạy tự học, tổ chức hoạt động tự học nhằm
tác giả quan tâm nghiên cứu ở các hướng khác nhau. Trong đề tài này, chúng
phát huy tính tích cực, chủ động của người học rất được sự quan tâm của
tôi tập trung đi sâu khai thác biện pháp tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ
nhiều tác giả như: tự học là một hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự
thầy. Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm
giáo khoa, học từ xa, trực tuyến…thì bản thân người học cũng phải tập trung
khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.
chú ý, tích cực, chủ động, tự mình tìm kiếm xử lý thông tin nhằm đem đến sự
Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao
tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri
thức, kỹ năng, thái độ mới [17, tr.65-66].
thay đổi về mặt nhận thức, thái độ, hành vi, nhờ đó mà nhân cách ngày càng
phát triển. Như vậy, hoạt động học đã bao hàm nghĩa tự học.
Từ những quan niệm trên, chúng tôi khái quát khái niệm về học tập như
Trong “Giải thích thuật ngữ tâm lý- giáo dục học” có từ sự học, học tập:
sau: học là quá trình người học tích cực, chủ động, tác động qua lại với môi
- Theo nghĩa rộng thông thường, được hiểu: sự học nghề, sự học việc.
truờng xung quanh nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Hoặc nghĩa: sự rèn luyện.
và thế giới quan khoa học cho bản thân.
- Trong giáo dục, đó là sự học (học tập): toàn bộ hoạt động làm cho
- Phan Trọng Ngọ cho rằng: “học là quá trình tương tác giữa cá thể với
Tính độc đáo thể hiện ở chỗ mục đích học là thay đổi chính mình, hình
môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi về mặt nhận thức, thái độ, hay
thành năng lực nghề nghiệp và hoàn thiện bản thân. Những lao động khác làm
hành vi của cá thể đó” [20, tr.15]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm
thay đổi đối tượng lao động nhưng lao động học không làm biến đổi đối
rằng: “học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học
tượng là tri thức, mà ngược lại nó làm thay đổi chính chủ thể.
dưới sự điều khiển sư phạm của GV” [29, tr.57].
- Học là quá trình chủ thể học một cách độc lập, tự giác, tích cực trong
Nhìn chung, mỗi tác giả khi nghiên cứu về sự học (hoạt động học) đều
quá trình nhận thức.
có những lập luận và cách lý giải khác nhau, điều đó phụ thuộc vào mục đích,
Trong mọi tình huống học tập, đòi hỏi người học phải tích cực trong quá trình
hướng nghiên cứu chuyên sâu của mỗi tác giả. Nhưng tất cả đều đề cập đến
cách vận dụng theo suy nghĩ của mình. Đó là mầm mống của sự phát triển tư
khác là học cách học.
duy sáng tạo của người học.
Học cách học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập, hình
Tóm lại, hoạt động học bao giờ cũng bao hàm nghĩa tự học và có mục
thành năng lực nghề nghiệp đồng thời đó là một trong những con đường cơ
đích, có đối tượng, có phương pháp học cụ thể. Về bản chất, đây là hoạt động
bản giúp người học không ngừng bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp.
không chỉ giúp người học lĩnh hội hệ thống tri thức xã hội mà sâu xa hơn là
- Hoạt động học bao giờ cũng mang cái mới đến cho người học.
giúp người học “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Các kiến thức học sinh có được trong hoạt động học không là mới đối với
1.2.2. Tự học
khoa học nhưng là mới đối với bản thân. Các kỹ năng, phương pháp học sinh
Có nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
Nghiên cứu tự học như là một hoạt động nhận thức của SV,
- Nhiệm vụ học “là đơn vị (tế bào)” của hoạt động học tập.
T.Makiguchi đã chỉ rõ bản chất tự học của SV là hoạt động nhận thức bằng
Nhiệm vụ học tập có thể hiểu là những việc làm mà người học đề ra
hành động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá [23].
cho mình phải thực hiện để lĩnh hội hệ thống tri thức theo yêu cầu của từng
môn học để đạt được mục đích học tập.
Nghiên cứu tự học như là hoạt động tự giác, tích cực của SV dưới vai
trò điều khiển của GV, tác giả Lê Khánh Bằng định nghĩa: “Tự học là học với
- Hành động học là bộ phận cấu thành của hoạt động học, được thúc
sự tự giác, tích cực, độc lập cao” [3]. Đồng tình với quan niệm này có các tác
đẩy bởi động cơ của hoạt động và tương ứng với mục đích học tập. Hành
giả như: Trịnh Quang Từ, Nguyễn Ngọc Bảo, Võ Quang Phúc, Nguyễn Thị
động luôn hướng vào để giải quyết một mục tiêu cụ thể nào đó. Nhờ hành
Tính,…
động học mà người học giải quyết được nhiệm vụ học.
thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ, không ngại
1.2.3. Tổ chức tự học
khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh một
Để nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của SV, một yêu cầu tất yếu đặt
lĩnh vực nào đó” [26, tr.59-60]. Theo tác giả PhạmViết Vượng: “Tự học là
ra là hoạt động tự học cần phải được sắp xếp và tổ chức một cách khoa học.
hình thức học sinh học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch
Nói cách khác, người thầy giáo cần quan tâm đến việc tổ chức hoạt động tự
học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên”[35, tr.133].
học cho SV.
Dựa vào định nghĩa của các tác giả nêu trên, chúng tôi rút ra nhận xét
Tổ chức là một công việc bao gồm sự sắp xếp, thiết kế các biện pháp
như sau: tự học là một bộ phận, một thành phần của học. Học bao giờ cũng
tiến hành hoạt động, là việc sử dụng các đối tượng và các phương tiện hỗ trợ
bao gồm tự học, nhưng không phải bất cứ sự học nào cũng có tự học. Chỉ khi
năng, kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách dưới sự hướng dẫn hoặc không có
nội dung của hoạt động mà là hình thức, phương pháp thực hiện và hành động
sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên.
của nó.
Từ khái niệm về tự học, chúng ta có thể hiểu tự học môn GDH là quá
Như vậy, tổ chức dạy học là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy
trình người học tích cực, chủ động, tự tổ chức hoạt động nhận thức của
học. Còn tổ chức hoạt động học tập cho học sinh là cách thiết kế, sắp xếp các
mình nhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức GDH, hình thành những kỹ năng,
biện pháp hoạt động phối hợp chung giữa GV và học sinh trong các hình thức
kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng, dưới sự hướng dẫn hoặc không có sự
học tập khác nhau nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập.
Vận dụng những quan điểm nêu trên vào việc tổ chức tự học cho SV
hướng dẫn trực tiếp của giảng viên.
Muốn học tốt môn GDH, sinh viên phải biết vận dụng mọi hình thức để
chúng tôi cho rằng: tổ chức tự học cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp quy
tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người
và xã hội".
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích
hợp vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng
Từ khái niệm về tổ chức tự học cho SV, chúng ta có thể hiểu: tổ chức
nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác.
tự học môn GDH cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp quy trình tổ chức
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các
giảng dạy môn GDH của GV nhằm tiến hành hướng dẫn, điều kiển, chỉ
trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các
đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp quy trình tự học, tự nghiên cứu môn GDH
môn học đã trở thành hiện thực.
của SV để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ học tập đề ra.
Tổ chức tự học môn GDH cho SV nhằm biến quá trình dạy học môn
GDH thành quá trình tự học môn GDH, nâng cao hiệu quả của việc dạy và
Như vậy, theo chúng tôi, CNTT là hệ thống các phuơng tiện và công
cụ kỹ thuật hiện đại phục vụ cho việc tìm kiếm, khai thác và xử lý thông tin
trong mọi lĩnh vực cuộc sống.
thành tựu của CNTT vào giảng dạy và học tập môn GDH được coi là một
chức lớn.
hướng đi mới mẻ, hứa hẹn nhiều hiệu quả tích cực. Người thầy có thể tự thiết
Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để
chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị
quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt
Nam, như sau: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
kế hoặc vận dụng những phần mềm có sẵn để xây dựng các trang web học tập
nhằm giúp cho người học có thể tự học, tự ôn tập môn GDH một cách liên
tục, thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Với cách làm này, việc dạy – học môn
GDH sẽ được cải tiến, đổi mới theo đúng xu thế phát triển của thời đại.
1.3. Hoạt động tự học môn GDH của SV CĐSP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
trò của người hướng dẫn và vai trò tích cực chủ động hoàn thành các nhiệm
trong các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn.
vụ học tập của người học. Đây là hướng mà đề tài chúng tôi tập trung nghiên
- Hoạt động học tập của SV mang tính độc lập, tính trí tuệ cao.
cứu thông qua việc trao đổi với sinh viên trên trang web học tập.
Cốt lõi của hoạt động học tập của SV là sự tự ý thức về học tập của họ -
- Tự học có sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy: với
tự ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập, hiểu sâu sắc rằng chính
hình thức này, người học có nhiều thuận lợi hơn so với hai hình thức tự học
mình là chủ thể của hoạt động nên bản thân phải là người tổ chức, định
trên. Kết quả tự học của người học trong hình thức này phụ thuộc vào mối quan
hướng, cụ thể hoá quá trình học tập.
hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và người học, trong đó sự hướng dẫn
Trong số các hoạt động của SV thì hoạt động học tập giữ vai trò chủ
tổ chức và chỉ đạo của thầy đóng vai trò quan trọng. Yếu tố đóng vai trò quyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra. Hay nói một
bộ môn GDH đã có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương pháp đào tạo,
cách khác là tự học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao.
luôn luôn đáp ứng được những yêu cầu có tính chất nghiệp vụ sư phạm của
1.3.3. Tự học môn GDH của SV CĐSP
nghề nghiệp. Khối lượng kiến thức của các học phần môn GDH rất lớn, mang
1.3.3.1. Đặc điểm môn GDH ở trƣờng CĐSP
tính lý luận cao, đòi hỏi SV phải có khả năng lựa chọn các phương pháp,
Môn GDH là môn khoa học ứng dụng có tính nghề nghiệp cao. Nhiệm
phương tiện, hình thức học tập,…kết hợp với tự học, tự nghiên cứu thì mới
vụ của môn GDH là trang bị cho SV trường CĐSP hệ thống những tri thức
GDH có đặc trưng vừa là khoa học xã hội, vừa là khoa học nghiệp vụ.
và thái độ nghề nghiệp tương ứng.
Vì thế GDH không chỉ trang bị cho người học tri thức về quá trình dạy học,
- Nội dung tự học là thành tố cơ bản tạo nên nội dung hoạt động của
quá trình giáo dục trong nhà trường mà còn nghiên cứu quá trình giáo dục con
chủ thể tự học, thông qua nội dung tự học mà chủ thể tự học cá nhân hoá việc
người, liên quan đến nhiều môn học khác.
học của mình. Nội dung tự học môn GDH gồm các thành phần sau:
GDH là môn học vừa mang tính lý luận, lại vừa có tính thực tiễn cao.
Môn học này có hệ thống khái niệm trừu tượng, nhưng biểu hiện trong thực tế
+ Hệ thống tri thức lý luận về nghề dạy học, về tổ chức và chỉ đạo các
hoạt động giáo dục và quản lý trường học.
lại rất sinh động và gần gũi với SV. Vì vậy, việc học môn GDH không chỉ
+ Hệ thống những kỹ năng sư phạm, gồm kỹ năng dạy học, kỹ năng
đơn thuần là việc nắm vững quan điểm, đường lối, khái niệm, quy luật, … mà
giáo dục, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội, kỹ năng
- Phương pháp tự học môn GDH là cách thức tiến hành các thao tác,
các hành động nhằm chiếm lĩnh nội dung tự học môn GDH một cách có hiệu
tác động bên ngoài (tác động của giáo viên, của bạn, của mục đích, nội dung
môn học…) và cũng có thể xuất hiện từ bên trong chủ thể tự học.
quả. Phương pháp tự học môn GDH bao gồm phương pháp nghe và ghi bài
- Người thầy trong quá trình tự học của SV là nhân tố giữ vị trí, vai trò
trên lớp, phương pháp đọc sách và nghiên cứu tài liệu, phương pháp hợp tác
quan trọng, là điều kiện cần và đủ để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao. Thầy
để chiếm lĩnh nội dung tự học từ nhiều kênh thông tin khác nhau, phương
giáo đóng vai trò là người tổ chức, người điều khiển, người hướng dẫn các
pháp giải các bài tập tình huống, phương pháp rèn luyện kỹ năng sư phạm,
biện pháp tự tổ chức, tự điều khiển, tự thực hiện của SV. Là nhân tố trọng yếu
phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, phương pháp mô hình hoá,
nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tự học của SV.
phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá, vv… Phương pháp tự học có thể bao
gồm nhiều biện pháp tự học khác nhau: các biện pháp ghi chép, các biện pháp
so sánh, phân tích, tổng hợp, các biện pháp xử lý tình huống vv…
Các thành phần của mạng có thể bao gồm:
học. Tính tích cực tự học môn GDH được hợp bởi hai mặt luôn luôn gắn liền
• Các hệ thống đầu cuối (end system) kết nối với nhau tạo thành mạng,
với nhau trong bản thân chủ thể tự học, đó là: năng lực học tập, những tri thức,
có thể là các máy tính hoặc các thiết bị khác. Nói chung hiện nay ngày càng
kỹ năng để tiến hành hoạt động học tập, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư
nhiều các loại thiết bị có khả năng kết nối vào mạng máy tính như điện thoại
phạm và động cơ học tập - đối tượng hoặc những đối tượng bên ngoài được
di động, PDA, tivi,...
chủ thể hoá trong cấu trúc tình cảm, nhu cầu, ý chí, lý trí, hứng thú bên trong cá
• Môi trường truyền (media) mà các thao tác truyền thông được thực
nhân người học, tức là cá nhân người học nhận thấy mục tiêu của mình sau
hiện qua đó. Môi trường truyền có thể là các loại dây dẫn (dây cáp), sóng điện
những đối tượng này. Như vậy, tính tích cực tự học có thể xuất hiện từ những
từ (đối với các mạng không dây).
khi số lượng kết nối tăng lên, hệ thống không thề đáp ứng được nhu cầu.
Qua các thập niên 1950, 1960, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng
Năm 1950, các máy tính lớn mainframe chạy bởi các chương trình ghi
Hoa Kỳ đã phát triển các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục
trên thẻ đục lỗ (punched card) bắt đầu được dùng trong các học viện lớn. Điều
vụ các mục đích quân sự và khoa học. Công nghệ này khác truyền tin điểm
này tuy tạo nhiều thuận lợi với máy tính có khả năng được lập trình nhưng
nối điểm. Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại với nhau bằng các đường
cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra các chương trình dựa trên thẻ đục
dẫn khác nhau. Bản thân mạng sẽ xác định dữ liệu di chuyển từ máy tính này
lỗ này.
đến máy tính khác như thế nào. Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy tính
Vào cuối thập niên 1950, người ta phát minh ra mạch tích hợp (IC)
tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng
chứa nhiều transitor trên một mẫu bán dẫn nhỏ, tạo ra một bước nhảy vọt
tại nhà và trong kinh doanh.
ảnh, âm thanh giúp cho SV tiếp nhận bài giảng dễ hiểu hơn. GV được giảm
Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắt
nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện trao đổi, thảo luận với SV về những vấn
đầu chia sẻ các tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác.
đề nảy sinh. Qua đó, SV được kích thích khám phá tri thức qua thông tin thu
Cách thức này được gọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số. Khái
nhận được, có thể nêu câu hỏi với GV, giúp cho giờ học thêm sinh động. GV
niệm này được mở rộng bằng cách dùng các máy tính là trung tâm truyền tin
không phải soạn bài giảng nhiều lần mà chỉ cần đầu tư cho lần soạn đầu tiên
trong một kết nối quay số. Các máy tính này được gọi là sàn thông báo
và cập nhật, chỉnh sửa cho bài giảng tốt hơn vào những lần sau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
của SV, người dạy, với tư cách là người hướng dẫn quá trình cần phải chỉ ra
hình ảnh, âm thanh. Vì vậy GV cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp
cho SV cách tìm kiếm, khai thác những nguồn học liệu mở trên mạng CNTT
giảng dạy bằng bài giảng điện tử và cách dạy truyền thống để có thể phát huy
toàn cầu. Hiện nay, phần lớn các thư viện, nhà xuất bản, viện nghiên cứu,
tối đa hiệu quả của việc dạy và học.
trường đại học, cao đẳng trong nước và nước ngoài đều có trang web riêng.
1.4.2.2. Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng Internet
Trên các trang web đó có đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, các
Ngày nay, cán bộ giảng dạy và SV phải có thói quen và khả năng tự
cuốn sách và giáo trình điện tử. Có thể nói, với sách điện tử và giáo trình trên
học để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tích luỹ kiến
mạng Internet, mỗi GV và SV có thể tham khảo hàng trăm, hàng nghìn cuốn
thức. Tuy nhiên, người dạy và người học thường gặp khó khăn trong việc tìm
sách và bài giảng khác nhau ở bất cứ thời gian và không gian nào. Mỗi người
giản. Một số địa chỉ thông dụng để GV và học sinh, SV có thể truy cập tìm
sách và giáo trình phục vụ việc dạy - học là: (trang web của Thư viện Quốc
gia); (mạng thư viện Việt Nam); (siêu thị sách trực tuyến lớn nhất Việt
Nam); (thư viện trực tuyến để đọc và dowload hàng ngàn đầu sách miễn phí);
(một trong những thư viện điện tử lớn nhất thế giới với trên 330.000 đầu sách,
100 ngôn ngữ); ; ; ; (Thư viện giáo trình điện tử của Bộ Giáo dục và Đào
tạo), ; ; (website của Trường Đại học Cần Thơ) (website Trường Đại học An
Giang); (website của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; (website
của Đại học Quốc gia Hà Nội)… Đây là những điểm truy cập tập trung các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
27
thông tin về giáo trình, nội dung tham khảo, các nguồn học liệu. Tại các
các phương tiện nghe nhìn như máy chiếu phim video, băng từ + Ti vi
website này, GV và SV có thể tìm kiếm trực tuyến kho giáo trình ở các trình
(television), đầu đĩa VCD, DVD + các loại CD room + Ti vi, máy chiếu đa
độ. Ở các trang web này có hầu hết các giáo trình quy định trong chương trình
chức năng (multimedia projector)… SV được học tập thường xuyên trong môi
đào tạo. Trong mỗi giáo trình, các tác giả đã giới thiệu đề cương bài giảng của
phần mềm dùng cho việc học, làm bài tập, nghiên cứu); khối lượng và cấu
Thư điện tử hay e mail (electronic mail) là một hệ thống chuyển nhận
trúc học phần (nêu rõ số đơn vị học trình, số tiết lý thuyết, số tiết thực hành);
thư từ qua các mạng máy tính. Một e mail có thể được gửi đi ở dạng mã hoá
các khái niệm dạy học (nêu các khái niệm cơ bản sẽ đề cập và trình bày trong
hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là
bài giảng). Phần hai: nêu nội dung bài giảng. Độ ngắn, dài, khái quát hay chi
mạng Internet. Nó có thể chuyển mẫu thông tin (bằng chữ, hình ảnh, âm
tiết của phần này phụ thuộc vào sự trình bày của người soạn.
thanh, phim) từ một máy chủ tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng một
1.4.2.4. Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học
thời điểm. Điều này rất cần thiết trong việc trao đổi, liên lạc giữa cán bộ giảng
Quá trình dạy - học cho SV cần đẩy mạnh sử dụng các thiết bị nghe
dạy và SV.
nhìn để tăng hiệu quả tiếp thu, ghi nhớ bài giảng của SV, giảm bớt việc ghi,
hoặc vật thể, máy chiếu phim dương bản 35mm (hành động) + phim nhựa;
khoa… Với hệ thống e mail này, GV có thể cung cấp cho SV những tài liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
28
29
mình có bằng cách gửi qua e mail. Ngược lại, SV nếu tìm được những tài liệu
có giá trị thì cũng có thể chuyển cho thầy, cô giáo của mình. Mỗi khi SV làm
- Việc học của SV có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ của GV
bằng cách trao đổi trực tiếp với GV mà không ngại bị đánh giá.
tiểu luận, viết bài báo… thì có thể gửi qua e mail để GV góp ý, sửa chữa trực
- Việc truy cập Internet thường xuyên có thể trang bị thêm cho SV các
tiếp trên máy tính. Một ưu điểm nữa là SV có thể viết thư điện tử xin phép các
học tập của mình.
dạy - học.
- SV có thể lưu trữ thông tin lâu dài, dễ chỉnh sửa, trao đổi khi cần thiết.
1.4.3. Khả năng ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH
Như vậy, không thể phủ nhận được vai trò và tầm quan trọng của việc
Từ những năm thuộc thập kỷ 60, sự phát triển của CNTT đã ảnh hưởng
sử dụng CNTT trong tự học môn GDH. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vào
tới giáo dục cũng như các lĩnh vực khác. Những thành tựu về công nghệ có ý
tự học là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật
nghĩa to lớn trong dạy- học. Hiện nay, trong các trường Đại học, Cao đẳng,
chất, tài chính, năng lực của SV; để sử dụng có hiệu quả, cần tận dụng các thế
các GV và SV đã và đang sử dụng CNTT để hỗ trợ cho việc dạy và học của mình.
mạnh và ưu điểm nổi bật của CNTT và tránh những hiệu ứng ngược của nó.
Trong tự học môn GDH nói riêng và các môn học khác nói chung, sự
hỗ trợ của CNTT đều mang lại hiệu quả bởi vì:
1.4.4. Các yêu cầu khi tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của
tự kiểm tra để hoàn thiện tri thức của mình, thông qua máy tính nối mạng,
người học có thể tự học tập và nghiên cứu…
1.4.4.2. Đổi mới phƣơng pháp học tập và nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả tự học các môn học nói chung và môn GDH nói riêng cho SV
Việc sử dụng CNTT, đặc biệt là sử dụng trang web học tập để tổ chức
tự học cho SV phải giúp SV nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tốt hơn, sâu sắc và
Theo quan niệm của các nhà giáo dục học hiện đại, việc ứng dụng
CNTT vào quá trình dạy học sẽ giúp GV giải quyết một số vấn đề như:
- Cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về các hiện tượng, đối tượng,
quá trình được nghiên cứu, do đó sẽ nâng cao chất lượng dạy học.
phong phú hơn, góp phần đáng kể nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Người học cảm thấy hứng thú hơn so với cách học thông thường, từ đó kích
thích lòng ham học hỏi, hình thành động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho SV.
Sử dụng CNTT sẽ hỗ trợ SV trong quá trình tự học. Người học được
- Nâng cao tính trực quan trong dạy học: có những hiện tượng, đối
học tập thuận lợi hơn, khai thác được nguồn thông tin phong phú, tiết kiệm
tượng nghiên cứu không thể cho học sinh quan sát trực tiếp được mà phải dựa
được thời gian mò mẫm trong quá trình tìm kiếm tri thức cho bản thân. Đồng
vào biểu tượng gián tiếp về các hiện tượng, đối tượng đó. Lúc này CNTT sẽ là
thời, CNTT còn giúp các em dễ dàng trao đổi thông tin, có thể học tập mọi
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GDH CÓ SỰ HỖ
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Bản chất của việc tổ chức tự học cho SV là quá trình GV sắp xếp và
TRỢ CỦA CNTT CHO SV Ở TRƢỜNG CĐSP NGHỆ AN
tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tự giác
của người học mức độ cao nhất trong mọi hình thức học tập dưới sự hỗ trợ
2.1. Một vài nét về trƣờng CĐSP Nghệ An
Thành lập năm 1959, Trường CĐSP Nghệ An đã trải qua 50 năm xây
của các phương tiện dạy học.
Một trong những điều kiện để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học cho
SV là điều kiện về cơ sở vật chất, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của
dựng và phát triển. Đến nay, nhà trường đã gây dựng được một cơ ngơi khang
trang với hệ thống phòng học, trang thiết bị dạy và học hiện đại, tạo điều kiện
thuận lợi cho GV, SV nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
các phương tiện và công cụ dạy học hiện đại.
Sử dụng CNTT để hỗ trợ tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy
học nói chung và chất lượng học tập môn GDH nói riêng bởi hình thức này
Trường CĐSP Nghệ An hiện có 7 khoa đào tạo, gồm: Tự nhiên, Xã hội,
Ngoại ngữ, Giáo dục Thể chất và Nhạc hoạ Đoàn đội, Giáo dục Tiểu học,
nghiên cứu sinh, 40 người đang theo học thạc sĩ. Bên cạnh việc cử cán bộ đi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
35
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nhà trường còn hợp tác với các trường
Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cùng nhiều danh
đại học để liên kết đào tạo mở các lớp cử nhân CNTT, tin học văn phòng, các
hiệu cao quý khác.
lớp ngoại ngữ cho cán bộ, nhân viên.
2.2. Khái quát về dạy học môn GDH ở trƣờng CĐSP
Ngoài chức năng, nhiệm vụ đào tạo GV có trình độ CĐSP từ mầm non,
Môn GDH là môn học thể hiện trực tiếp đặc trưng nghề nghiệp, đặt cơ
dạy và học tập hiện nay ở các trường CĐSP chưa đạt hiệu quả như mong
An đã nỗ lực vượt khó giành được nhiều thành tích xuất sắc trong lao động,
muốn. Cụ thể là nó chưa gắn liền với phương pháp giảng dạy bộ môn, chưa
học tập. Từ năm học 2004 - 2005 đến nay, trường đã làm tốt công tác tuyển
thực sự gắn với thực tiễn giáo dục và dạy học ở phổ thông. Việc đổi mới nội
sinh đảm bảo 100% kế hoạch được giao; đào tạo được 4.256 GV các cấp học,
dung, phương pháp, chương trình diễn ra còn chậm, giảng dạy lý thuyết còn
bồi dưỡng và chuẩn hoá 8.131 học viên, góp phần nâng cao tỉ lệ GV đạt
xa với thực hành. Đây là những bất cập cần phải khắc phục.
chuẩn cho tỉnh.
Bộ môn GDH ở trường CĐSP được chia làm 3 đơn vị học phần: GDH
Bên cạnh công tác giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học luôn
đại cương, Lý luận dạy học, Lý luận giáo dục. Mỗi đơn vị học phần gồm 45
được coi là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường. Trong 5 năm qua, trường đã
tiết. Theo phân phối chương trình, SV sẽ học môn GDH trong 2 năm, từ học
trên, góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDH ở các trường CĐSP.
2.3. Thực trạng tự học môn GDH của SV
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
37
2.3.1. Khái quát tiến trình khảo sát thực trạng
thì các thầy, cô cho rằng: GDH là môn khoa học mang tính nghiệp vụ cao và
Tự học và tổ chức tự học là những nhân tố quan trọng để nâng cao chất
luôn có sự đổi mới nên SV phải tích cực tự học để nắm vững kiến thức và vận
lượng học tập. Việc sử dụng CNTT để hỗ trợ hoạt động dạy – học có ý nghĩa
dụng trong quá trình dạy học sau này. Theo các thầy, cô thì để đáp ứng các
rất lớn, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kích thích tính tích cực, tự
nhu cầu của thực tiễn hiện nay, mỗi người phải tự mình tìm ra phương pháp
giác, chủ động của người học. Để tìm hiểu việc tự học môn GDH của SV
- Thực trạng tổ chức tự học môn GDH cho SV.
* Nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH
- Thực trạng sử dụng CNTT để dạy và học môn GDH.
Để tìm hiểu những nội dung trên, chúng tôi sử dụng phương pháp điều
tra viết. Chúng tôi xây dựng hai phiếu hỏi, một dành cho GV và một dành cho
SV. Những số liệu thu được qua phiếu điều tra được chúng tôi xử lý bằng
phương pháp thống kê toán học, trên cơ sở đó mà khái quát thực trạng. Bên
Để điều tra nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH chúng
tôi đưa ra câu hỏi sau:
“Theo bạn, kiến thức môn GDH có mức độ cần thiết như thế nào đối
với người giáo viên tương lai?”. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2.1: Mức độ nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH
cạnh đó chúng tôi trò chuyện với một số SV và GV xung quanh vấn đề cần
STT
Các mức độ
nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác hơn.
SV khoa
Qua tiến hành nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả sau:
2.3.2. Thực trạng tự học môn GDH của SV trƣờng CĐSP Nghệ An
Tổng hợp
5
9
SL
7,76
%
15
SL
6,35
%
SL
4
%
Ít cần thiết
2
1
1,67
Rất cần thiết
0
91
0,00
75,83
0
88
0,00
75,86
Qua kết quả thống kê thu
179
được, chúng tôi nhận thấy: có đến
75,84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
40