---µ---
BAØI TIỂU LUẬN
Nhận thức về Chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1
LỜI NÓI ĐẦU
Vào giữa thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của hệ thống Triết học Mác và đến cuối thế
kỷ này, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, lịch sử phát triển của xã hội loài người trải
qua các thời kỳ khác nhau với những quan hệ xã hội vật chất nhất định, lần đầu
tiên được nghiên cứu từ trong bản chất để sau đó được khái quát thành một khái
niệm cơ bản duy nhất “ Hình thái xã hội”.
Sự phát triển của xã hội loài người đã lần lượt trải qua nhiều Hình thái kinh tế xã hội (HTKT-XH) khác nhau, đây là một quá trình lịch sử - tự nhiên, vận động,
phát triển theo quy luật khách quan của xã hội, không theo ý muốn chủ quan của
con người.
Trải qua 5 HTKT-XH, từ công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ… cho đến chủ
nghĩa tư bản (CNTB) và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản (CNCS) mà giai đoạn
đầu là chủ nghĩa xã hội (CNXH), mỗi một HTKT-XH đều chỉ một cấu trúc xã hội
ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên một phương thức sản xuất nhất định với kiểu
quan hệ sản xuất đặc trưng cho cơ sở kinh tế của xã hội và với một kiến trúc
thượng tầng được xây dựng trên cơ sở đó. Mỗi một HTKT-XH đều có cấu trúc phổ
biến và tính quy luật chung, có những mối liên hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội. Sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần cơ bản nói trên
là động lực bên trong thúc đẩy sự vận động của HTKT-XH và sự tiến bộ lịch sử,
làm chuyển biến xã hội từ HTKT-XH thấp lên HTKT-XH cao hơn, thường là
thông qua những chuyển biến có tính cách mạng về xã hội.
Nghiên cứu “Nhận thức về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã
triển của xã hội loài người, mặc dù đã đạt được mức độ nào đó về những yếu tố,
mầm mống hợp lý khi nghiên cứu lịch sử xã hội, song những quan điểm đó còn rời
rạc, chưa có hệ thống, chưa phản ánh xã hội một cách toàn diện, nhìn chung còn
giải thích đời sống xã hội xuất phát từ ý thức tư tưởng, niềm tin tôn giáo. Có thể
nói triết học trước Mác chưa có một hệ thống triết học nào nhận thức và khái quát
được các quy luật, phạm trù, khái niệm về quá trình phát triển của xã hội một cách
đúng đắn và hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, bản thân các nhà triết học gần như đều xuất
phát từ tầng lớp trung lưu trở lên, do vậy những quan điểm triết học khi nghiên cứu
những quan hệ xã hội đều hướng tới việc phục vụ cho giai cấp thống trị, xem xét
xã hội từ giới trí thức, còn người sản xuất, nông dân chỉ là thứ yếu. Ví dụ Platôn
cho rằng con người sống là để phục vụ nhà nước, vì nhà nước..., hoặc Arixtốt tán
thành sự thống trị của chủ nô đối với nô lệ và đó là lẽ tất nhiên… , còn đối với
Đêmôcrit – nhà triết học duy vật lại cho rằng nền tảng của chế độ nô lệ là nhà
nước, ông tuyên truyền cho dân chủ, tự do, nhưng dân chủ, tự do đó là của chủ nô
chứ không phải là của nô lệ. Hay như Tômát Đacanh, Ôguýtxtanh… cho rằng lịch
sử là sự thể hiện ý chí của Thượng đế, cuộc sống loài người là tấm kịch của vương
quốc cái thiện và cái ác, trong đó con người là vai diễn. Họ truyền bá sự thống trị
của nhà thờ đối với xã hội và bảo vệ sự bất bình đẳng xã hội.
Thành quả phát triển cao nhất của triết học trước Mác là triết học cổ điển Đức thì
vẫn siêu hình và duy tâm khi nghiên cứu về xã hội, mà đại diện là Hêghen, lại cho
rằng toàn bộ sự phát triển của lịch sử xã hội được quy vào sự phát triển của lý tính,
của tinh thần tuyệt đối. Hay Phoiơbắc – nhà triết học duy vật lớn trong nền triết
học cổ điển Đức đã xây dựng được những quan niệm khá triệt để về tự nhiên, song
khi ông nghiên cứu về lịch sử xã hội lại rơi vào duy tâm.
Ngược lại các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin nghiên cứu các mối quan hệ
xã hội xuất phát từ con người trong thực tại với việc sản xuất của cải vật chất cho
4
xã hội, không đi từ đời sống ý thức, tâm linh của con người mà đi từ đời sống cụ
còn quan hệ giữa người với người trong sản xuất là Quan hệ sản xuất (QHSX).
Trong PTSX, LLSX biểu thị mặt thứ nhất, QHSX biểu thị mặt thứ hai của mối
quan hệ, mối quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất với mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, trong đó LLSX là yếu tố động nhất và cách
5
mạng nhất, là nội dung của PTSX. Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình
độ của LLSX là quy luật cơ bản nhất, mang tính phổ biến tác động đến toàn bộ tiến
trình lịch sử của nhân loại.
Chúng ta biết rằng xu hướng chung của sản xuất là không ngừng biến đổi theo
chiều hướng tiến bộ đó là không ngừng nâng cao năng xuất lao động, tạo ra nhiều
của cải vật chất. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển
của LLSX mà trước hết là của công cụ lao động. Do vậy, LLSX là yếu tố quyết
định đối với sự biến đổi của PTSX. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử loài
người, trình độ của LLSX thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người
trong giai đoạn lịch sử đó, nghĩa là khả năng của con người sử dụng công cụ lao
động trong việc chinh phục thiên nhiên nhằm bảo đảm cuộc sống của mình.
Trình độ của LLSX thể hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao
động, phân công lao động, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất và kinh
nghiệm, kỹ năng lao động của con người.
Ngoài ra, tính chất của LLSX cũng cũng thể hiện một mặt của LLSX nhưng không
tách biệt với trình độ của LLSX. Khi nền sản xuất được thực hiện với những công
cụ thô sơ, ở trình độ thủ công thì LLSX chủ yếu mang tính cá nhân, còn khi nền
sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, hiện đại lúc đó đòi hỏi LLSX phải được vận
động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá cao. Tính chất tự
cung tự cấp của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất đa dạng
của nền sản xuất mang tính xã hội hoá.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của LLSX đối với
QHSX, song cũng chỉ rõ tính độc lập tương đối của QHSX trong mối quan hệ đó
Do được sinh ra trên nền một CSHT nhất định, nên CSHT của một xã hội như thế
nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó như thế nào... thì hệ thống tư
tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học,. cũng như các quan hệ, thể chế xã
hội tương ứng với nó cũng như thế. Và do đó, CSHT quyết định sự biến đổi củ
KTTT. Tuy nhiên KTTT cũng có tác động trở lại CSHT, bởi vì chức năng chính trị
- xã hội của KTTT là nhằm bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó,
đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT cũ, lỗi thời, lạc hậu hay ngăn chặn mầm mống
của QHSX mới. Sự biến đổi này dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các thời kỳ trong
lịch sử xã hội loài người.
Như vậy, từ việc vận dụng phép biện chứng vào nghiên cứu và sự kế thừa có
chọn lọc những thành quả triết học của các bậc tiền bối khi tìm hiểu về lịch sử xã
hội loài người, Mác đã nghiên cứu, phân tích một cách khoa học mối quan hệ lẫn
nhau giữa các mặt trong đời sống xã hội, tìm ra quy luật vận động và phát triển từ
đó giải quyết được các vấn đề về phân loại các chế độ xã hội và phân kỳ lịch sử, và
Mác đã đi đến khái quát khoa học về lý luận HTKT-XH. Nguồn gốc và động lực
phát triển của toàn bộ đời sống xã hội, xét đến cùng, vẫn là sự tác động biện chứng
giữa LLSX và QHSX, giữa CSHT và KTTT. Mác đã nhìn thấy sự phát triển của xã
hội từ HTKT-XH này sang HTKT-XH khác không phải do một lực lượng thần bí
hay một cá nhân anh hùng nào mà chính là hoạt động thực tiễn của con người, của
quần chúng nhân dân dưới tác động của các quy luật khách quan. Nói một cách
7
ngắn gọn, quan điểm của triết học Mác về HTKT-XH là cơ sở khoa học cho việc
xem xét và giải quyết những vấn đề căn bản của xã hội hiện đại.
1.2. Phạm trù HTKT-XH của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự vận động và
phát triển của các HTKT-XH:
Như đã đề cập ở trên, Mác và Ăngghen không nhìn động lực của lịch sử xã
hội từ lực lượng siêu tự nhiên, từ sự thay thế các hình thức tôn giáo khác nhau, mà
nhìn động lực của lịch sử nằm ngay trong hoạt động thực tiễn vật chất của con
Quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội được thể hiện một cách phong
phú và đa dạng. Tính phong phú và đa dạng nói lên tính độc đáo riêng đối với lịch
sử quá trình phát triển của mỗi dân tộc, quốc gia. Lịch sử xã hội loài người đã trải
qua một số HTKT-XH nhất định từ thấp đến cao. Ngoài các quy luật chung chi
phối đến con đường và quá trình phát triển của mỗi dân tộc, mà còn bị tác động bởi
các điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, chính vì thế lịch sử phát triển
nhân loại vừa tuân theo những quy luật chung, vừa bị tác động bởi các điều kiện
riêng biệt, vừa rất phong phú và đa dạng. Như do đặc điểm về lịch sử, điều kiện tự
nhiên, chính trị, truyền thống văn hoá, điều kiện nội tại, tác động quốc tế… mà
một số quốc gia không nhất thiết phải đi tuần tự qua các HTKT-XH từ thấp đến
cao theo sơ đồ chung, mà có thể bỏ qua một vài HTKT-XH tiến thẳng lên một
HTKT-XH tiến bộ hơn. Việc bỏ qua này cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Thực tế lịch sử đã chứng minh
điều đó, nhiều quốc gia trong những điều kiện khách quan, chủ quan, điều kiện bên
trong, bên ngoài cho phép đã phát triển theo con đường bỏ qua một vài HTKT-XH
nào đó để đi lên một HTKT-XH cao hơn. Chẳng hạn ở nước Nga, Ba Lan, Đức…
chế độ phong kiến ra đời không phải từ chế độ chiếm hữu nô lệ, còn ở Mỹ, chế độ
tư bản hình thành trong điều kiện xã hội không phải trải qua chế độ phong kiến…,
ngoài ra cùng một HTKT-XH nhưng ở các nước khác nhau thì hình thức và con
đường tiến lên cũng khác nhau.
Điều kiện để một đất nước có thể bỏ qua một HTKT-XH tiến thẳng tới một HTKTXH cao hơn là khi HTKT-XH cần bỏ qua đã bộc lộ những mặt hạn chế, lạc hậu,
HTKT-XH mới cần đạt được có những yếu tố đã khẳng định tính đúng đắn và sức
sống của nó. Ngoài ra cần phải có sự tác động của các nhân tố, các mâu thuẫn bên
trong, bên ngoài, mà trước hết là phải có lực lượng xã hội tiên tiến.
Xét cho cùng, nguồn gốc sâu xa của sự vận động, phát triển của các HTKT-XH là
từ sự phát triển của LLSX. Như chúng ta đã biết, xuất phát từ mối quan hệ giữa
LLSX với QHSX, khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định nào đó sẽ dẫn
đến sự thay đổi của QHSX, để tạo ra một QHSX mới phù hợp hơn. Đến lượt mình,
khi QHSX thay đổi làm cho KTTT thay đổi theo, vì QHSX thay đổi, dẫn tới CSHT
thay đổi, mà CSHT quyết định KTTT, do đó KTTT cũng sẽ thay đổi. Như vậy dẫn
vì họ chỉ coi trình độ phát triển của khoa học công nghệ, của LLSX là yếu tố quyết
định duy nhất và trực tiếp đối với mọi thay đổi của đời sống xã hội con người, mà
bỏ qua, phủ nhận vai trò của các mối QHSX, của giai cấp, dân tộc, chế độ chính
trị… Thực chất của lý thuyết này là sự cố tình phủ nhận học thuyết về HTKT-XH
của Mác và cố tình chứng minh cho sự tồn tại vĩnh hằng của chế độ tư bản chủ
nghĩa, cũng như khẳng định việc xây dựng và tiến tới một thế giới đại đồng là hoàn
toàn có thể mà không cần phải trải qua các cuộc cách mạng xã hội, tránh được
thương vong, đổ máu. Do đó không thể đem phương pháp tiếp cận theo cách phân
chia xã hội thành các nền văn minh để thay thế cho học thuyết của Mác về HTKTXH. Dù khoa học công nghệ hiện đại có đạt được nhiều bước tiến rực rỡ hơn nữa
trong tương lai thì sự vận động phát triển của xã hội loài người cũng không nằm
10
ngoài nguyên lý mà Mác gọi là “sự thật hiển nhiên” đó. Nền sản xuất vật chất của
xã hội vẫn luôn giữ vai trò nền tảng cho sự tồn tại và phát triển xã hội.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, qua nghiên cứu lý luận, thực
tiễn và đúc kết kinh nghiệm, Đảng ta xác định phát triển, nâng cao hơn nữa trình
độ của LLSX nhằm đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH đất nước. Rõ ràng Đảng ta
đã thấy được nguồn gốc của sự vận động phát triển xã hội là xuất phát từ con
người. Từ lý luận trên, để phát triển LLSX, Đảng thực hiện bằng các chính sách
đối với từng đối tượng lao động trong xã hội, hay từng giai cấp, thành phần trí
thức, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá giáo dục để tạo ra và xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao cho xã hội.
Song song với việc phát triển LLSX, Đảng cũng chú trọng đến việc thiết lập các
mối QHSX phù hợp để thúc đẩy LLSX phát triển, đó là trên cơ sở ba chế độ sở
hữu: sở hữu toàn dân, tập thể và sở hữu tư nhân, để hình thành nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực
lượng vật chất quan trọng đế nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế.
đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS, thông qua nhà nước XHCN. Còn giai đoạn cao là
CNCS. Đây là giai đoạn phát triển cao nhất với một LLSX đạt đến trình độ cao
chưa từng có trong lịch sử, trên cơ sở máy móc hiện đại, được cơ khí hoá tự động
quy mô toàn xã hội, cùng với QHSX sở hữu toàn xã hội, cho phép làm ra của cải
vật chất hết sức dồi dào để thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội. Xã
hội hoàn toàn không còn giai cấp, không còn nhà nước, con người được giải phóng
hoàn toàn.
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công CNCS, các quốc gia phải
phát triển qua giai đoạn quá độ lên CNXH, đây là thời kỳ cải biến cách mạng sâu
sắc, triệt để trên tất cả các mặt của đời sống xã hội và diễn ra dưới hai hình thức:
Quá độ trực tiếp từ CNTB phát triển cao lên CNXH. Và quá độ gián tiếp là từ
CNTB chưa phát triển hay bỏ qua phát triển TBCN tiến thẳng lên CNXH – đây là
con đường lâu dài và nhiều khó khăn, gian khổ.
Nhận thức đầy đủ và đúng đắn về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXH là một
trong những yêu cầu đặt ra đối với các ĐCS. Do từ nhận thức không đúng về thời
kỳ quá độ và cả những sai lầm trong cải cách đổi mới đã làm cho Liên Xô và các
nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống XHCN hùng mạnh một thời, là đối trọng
với hệ thống TBCN tan rã, phong trào cách mạng thế giới gặp nhiều khó khăn. Bên
cạnh đó, CNTB tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại, kịp
thời điều chỉnh, thích nghi và đang có bước ổn định tương đối, đã chỉ trích mô hình
CNXH, phê phán lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về HTKT-XH là không đúng
đắn…. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta đã vội vàng phủ nhận tính tất yếu,
hợp quy luật của HTKT-XH CSCN trong thời đại ngày nay. Cũng không phải vì
thế mà chúng ta nghi ngờ về tính khoa học, cách mạng của phương pháp tiếp cận
xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá một cách
12
khách quan trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng. Tuy có bước thụt lùi
của CNXH, nhưng CNXH ra đời là một tất yếu lịch sử, một sự vận động phát triển
dựng là một xã hội:
- Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;
- Do nhân dân làm chủ;
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX.
- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,
giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;
- Có Nhà nước pháp quyền CNXH của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của ĐCS;
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Việc bổ sung và phát triển mô hình CNXH trong Đại hội X đã thể hiện việc
quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, không phân biệt các dân tộc trong nước hay kiều
bào ở nước ngoài để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
cùng nhau xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vì dân,
tiến tới một xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đây
chính là điểm tương đồng để kết nối cộng đồng dân tộc Việt nam theo tinh thần
15
khép lại quá khứ, cùng nhau hướng về tương lai một nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh”, “dân cường, nước thịnh” theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.2. Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời đại ngày nay:
Cùng với quan niệm đúng đắn về CNXH, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là
phải xác định được con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quá trình xây dựng CNXH và nhận
thức của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH, trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã
khẳng định: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”.
CNXH không phải là con đường bằng phẳng mà phải trải qua nhiều giai đoạn,
nhiều chặng đường, nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ, chấp nhận nhiều
hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai
cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Cho nên quá độ lên CNXH ở nước ta xét về mặt
kinh tế, tất yếu bao hàm trong đó một yếu tố có tính chiến lược bao trùm là sử dụng
CNTB nhà nước. Kinh tế tư bản nhà nước có thời bị gạt khỏi kết cấu các thành phần
kinh tế. Nhưng thực tế hiện nay đã và đang tồn tại một khu vực kinh tế tư bản nhà
nước trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Đấy là một tất yếu kinh tế phổ biến đối với các
nước kém phát triển tiến lên CNXH. Cùng với sự vận động và biến đổi nhanh
chóng của thế giới hiện nay, của thực tiễn xây dựng CNXH, sẽ cung cấp thêm
những cứ liệu mới để bổ sung cho nhận thức của Đảng về mô hình CNXH, và con
đường để thực hiện mô hình đó.
Chúng ta đi lên CNXH trong một điều kiện quốc tế mới cực kỳ quan trọng,
đó là cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ, vừa tạo ra
những thách thức không nhỏ đối với các nước chậm phát triển như nước ta, song
nó cũng tạo ra những thời cơ mới thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. Nếu kế
thừa và tận dụng nó một cách hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện
quốc tế thì cho phép chúng ta “rút ngắn” được quá trình phát triển, tạo điều kiện
cho đất nước tham gia hội nhập, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế để phát triển.
Chúng ta phải xác định hội nhập toàn cầu, vào WTO tự nó không là mục
đích mà chỉ là phương tiện, điều kiện, con đường để kết hợp sức mạnh dân tộc, với
sức mạnh thời đại, nhất là cốt để tranh thủ LLSX và công nghệ hiện đại, những
thành tựu mới của kinh tế tri thức nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình xây dựng cơ
sở vật chất – kỹ thuật của CNXH. Do đó, để đi lên CNXH chúng ta phải mở cửa,
thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn
với kinh tế tri thức, trong đó xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ
trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định
nhằm đảm bảo không bị tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới cũng như thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.
Thành tựu lý luận mà Đảng và nhân dân ta đạt được qua thực tiễn 20 năm đổi mới
tập trung nổi bật ở quan điểm về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đảm bảo dân chủ và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng ĐCS cầm quyền trong sạch, vững mạnh,
coi đó là khâu then chốt, đại đoàn kết dân tộc là động lực mạnh mẽ và quyết định
thành bại của công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta.
Đi lên CNXH từ một nền kinh tế kém phát triển, lại bỏ qua giai đoạn phát triển
TBCN, cho nên việc nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan mà trước hết
là các quy luật kinh tế phải hết sức thận trong và sáng tạo. Chúng ta bỏ qua chế độ
chính trị TBCN song phải hết sức tôn trọng quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát
triển kinh tế. Việc thừa nhận và thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng XHCN và việc sử dụng các hình thức kinh tế quá độ trung
gian nhằm “bắc những chiếc cầu nhỏ” nối tiếp trên con đường quá độ chính là sự
18
nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin về phát triển kinh tế trong thời
kỳ quá độ chứ không phải là sự chệch hướng XHCN sang CNTB như một số nhà
tư tưởng phương Tây và bọn cơ hội xét lại đã rêu rao, xuyên tạc.
KẾT LUẬN
Chủ nghĩa duy vật lịch sử – một trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác là cơ
sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hoạt động nhận thức và cải tạo
xã hội hiện đại, trong đó học thuyết về HTKT-XH là “Hòn đá tảng” của chủ nghĩa
duy vật lịch sử, là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhận thức nhân loại về xã hội, là
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho các môn khoa học về lịch sử. Chỉ có
dựa trên cơ sở của học thuyết mới có căn cứ khoa học để giải thích một cách đúng
đắn các hiện tượng xã hội và xem xét sự vận động phát triển của xã hội loài người
như một quá trình lịch sử tự nhiên.
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới
đã có những biến đổi to lớn và đáng “kinh ngạc”: sức sống “dai dẳng” của CNTB
Chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của ĐCS Việt
Nam, với tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, ý chí vươn lên kết hợp tính cần cù, thông
minh vốn có của người Việt Nam, chúng ta sẽ xây dựng thành công CNXH trên
đất nước ta./.
20