NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1985
PGS, TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
1. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam trước năm 1960
Lựa chọn con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách
mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về mọi phương diện cho sự ra
đời cho chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Đầu năm 1930, ĐCSVN ra đời đã có
ngay Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Cương lĩnh xác định phương hướng chiến
lược của cách mạng Việt Nam: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Với phương hướng chiến lược này, cách
mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn: 1). Hoàn thành cách mạng giải
phóng dân tộc và giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; 2). Đi tới xã hội
cộng sản. Như vậy, ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định CNXH trở thành
mục tiêu của cách mạng Việt Nam; muốn đi tới CNXH, thì trước tiên phải hoàn
thành mục tiêu trực tiếp là thực hiện độc lập dân tộc, còn CNXH là phương
hướng tiến lên cho tương lai. Tiếp đó, Luận cương 10/1930
1
của Đảng Cộng sản
Đông Dương khẳng định tính chất của cách mạng Đông Dương là “cách mạng
tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế”
2
và “tư sản dân quyền cách
mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”
3
. Sau khi cách mạng tư sản dân
quyền thắng lợi sẽ “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con
đường xã hội chủ nghĩa”
4
.Mặc dù ngay từ rất sớm, Đảng CSVN đã xác định một
cách rõ ràng phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là tiến lên
đất nước với quốc tế, dân tộc và thời đại.
Tại Đại hội, Trường Chinh trình bày báo cáo “Hoàn thành giải phóng dân
tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội”, khẳng định cách
mạng Việt Nam “không thể có một con đường nào khác” là tiến lên CNXH. Đó là
con đường phát triển từ “xã hội có tính chất thuộc địa, nửa phong kiến, qua dân
chủ nhân dân, tiến đến xã hội xã hội chủ nghĩa”
1
Con đường đó phải trải qua ba
giai đoạn:
a) Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố
Nhà nước dân chủ nhân dân.
b) Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, triệt
để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh chế độ dân
chủ nhân dân.
c) Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, gây đầy đủ điều
kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội
2
.
Lý luận cách mạng ba giai đoạn của Trường Chinh và cũng là quan điểm
của Đại hội II được hiểu như sau:
- Con đường tiến lên CNXH của nước ta sẽ quanh co và lâu dài, gồm
nhiều giai đoạn (đại thể ít nhất là ba giai đoạn).
- Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ và xen lẫn với
nhau; giữa ba giai đoạn “không có bức tường rào ngăn cách”, nhưng mỗi giai
đoạn có nhiệm vụ trung tâm, chính yếu. Điều quan trọng là phải nhìn nhận việc
giải quyết các nhiệm vụ một cách linh hoạt, mềm dẻo và biện chứng.
Tư tưởng về CNXH của Đảng CSVN thể hiện chủ yếu qua nhận thức về
giai đoạn thứ ba – giai đoạn được xác định là “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã
hội, chuẩn bị điều kiện để tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”
3
khá lâu”
3
. Đây là những bước đi đúng đắn, mang định hướng XHCN. Nhưng
điểm mấu chốt làm nên sự sáng tạo của đường lối nằm ở chỗ: Để gây cơ sở cho
CNXH, phát triển công nghiệp, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, cần
sử dụng sử dụng các lực lượng kinh tế, các thành phần kinh tế khác nhau (tư
bản tư nhân) với sự “kiểm soát và tiết chế”, “đưa họ vào con đường phát triển
theo lối tư bản nhà nước. Không thể nói đến cải tạo xã hội, xóa bỏ mọi hình thức
bóc lột ngay”
4
và “những bước cụ thể của giai đoạn này phải tùy theo điều kiện
cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước khi đó mà quyết định”
5
. Đặc biệt,
Báo cáo còn nhấn mạnh rằng, trên cơ sở của “một nước nông nghiệp lâu năm bị
đế quốc thống trị, tàn phá”
6
, thì thời gian chuẩn bị cho CNXH “so với các nước
dân chủ nhân dân khác, nhất định sẽ lâu hơn”
7
. Sự lâu dài đó nhất định phải
nhận thức và chấp nhận, CNXH chưa thể thực hiện được chừng nào “chưa
chuẩn bị cơ sở kinh tế đầy đủ và chưa làm cho số đông quần chúng nhân dân
nhận rõ chủ nghĩa xã hội là cần thiết”
8
. Với xuất phát điểm như Việt Nam, tất yếu
yếu quá trình đó là khó khăn, phức tạp, không phải một sớm, một chiều mà thực
hiện ngay được.
Với những phân tích, luận giải trên, Báo cáo cũng phê phán những quan
điểm nóng vội, cho rằng chỉ cần một hoặc hai giai đoạn cách mạng cũng đạt tới
- Từ CMDTDCND tiến lên CMXHCN, Việt Nam phải tiến hành qua nhiều
giai đoạn khác nhau.
- Trong những giai đoạn cách mạng đó, có một giai đoạn quan trọng – giai
đoạn chuyển tiếp, chuẩn bị điều kiện cho CNXH.
- Ở giai đoạn chuyển tiếp này, nhất định không được quan niệm giản đơn
về cải tạo xã hội, về xóa bỏ các hình thức bóc lột. Giai đoạn này có nhiều nhiệm
vụ khó khăn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và cần phải sử dụng các thành phần
kinh tế khác nhau cho mục tiêu gây cơ sở cho CNXH.
- Giai đoạn chuyển tiếp này sẽ lâu dài, quanh co, thậm chí rất phức tạp.
Như vậy, hình dung về giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH của
Đảng CSVN tương đối rõ nét, mà nội dung chính của nó là xây dựng nền kinh tế
dân chủ mới với nhiều thành phần kinh tế. Những nhận thức này của Đảng
CSVN cho thấy sự không chủ quan, không nóng vội, không đốt cháy giai đoạn,
nhận thức đúng quy luật khách quan, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy
lãnh đạo. Tiếc rằng khi nửa nước có hoà bình, tiến lên CNXH, thì những nhận
thức đúng đắn của Đại hội II, do những lý do khách quan, chủ quan, lại bị lãng
quên, không được áp dụng vào quá trình xây dựng CNXH trên miền Bắc.
2. Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam từ
năm 1960 đến năm 1975
Hiệp định Gioneve 1954 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm
chống thực dân Pháp xâm lược. Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế
độ chính trị khác nhau. Miền Bắc có hòa bình và Đảng quyết định đưa miền Bắc
quá độ lên CNXH. Suốt trong những năm 1954 - 1960, các HNTƯ liên tiếp được
tổ chức (HNTƯ 8 – 8/1955); HNTƯ 12 – 3/1957; HNTƯ 13 - 12/1957; HNTƯ 14
-11/1958); HNTƯ 16 - 4/1959), xác định những nội dung cơ bản :
- Miền Bắc hiện đang ở vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH.
- Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc lúc này là :
+ Về chính trị, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
+ Về kinh tế, thay đổi tính chất nền kinh tế cũ, cải tiến từng bước QHSX
cũ, xây dựng từng bước QHSX mới, củng cố, phát triển khu vực kinh tế XHCN,
thức sở hữu: Toàn dân và tập thể.
- Về chính trị: Chính quyền dân chủ nhân dân.
- Về văn hóa – xã hội: Văn hóa và khoa học tiên tiến, đời sống nhân dân
ấm no, hạnh phúc, có sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn.
Xác định con đường xây dựng CNXH:
- Nguyên tắc chung: Đồng thời cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai
mặt của cuộc CMXHCN, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển, trong
đó cải tạo XHCN cần phải đi trước một bước để mở đường.
- Biện pháp và con đường thực hiện:
+ Sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của
chuyên chính vô sản để tổ chức và thực hiện CMXHCN.
+ Thực hiện cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh và đồng thời phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh.
+ CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ.
+ Đẩy mạnh CMXHCN về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật.
Ý thức được tầm quan trọng của CNH XHCN trong việc chuyển đổi căn
bản nền kinh tế lạc hậu Việt Nam sang nền sản xuất lớn XHCN, Đại hội III rất
chú trọng bản về CNH. Vấn đề CNH XHCN được Đại hội III xác định: “Thực hiện
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”
1
.
Để thúc đẩy quá trình CNH, cần “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng trong
đó cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt nhằm đưa miền Bắc tiến lên
công nghiệp hiện đại”
2
. Tháng 2 - 1962, Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (khóa III) có
Nghị quyết chuyên bàn về CNH, bổ sung cho đường lối CNH của Đại hội III.
Như vậy, nội dung cơ bản của đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc đã
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” sang quan điểm “ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ”. Quan điểm này cũng là cơ sở để xác định nội dung CNH tại Đại hội
lần thứ IV (12- 1976).
Những nội dung trên đây là những nét mới trong đường lối CMXHCN của
Đảng, bổ sung chủ yếu về biện pháp xây dựng CNXH, giải quyết mối quan hệ
trong cơ cấu kinh tế, giữa LLSX và QHSX, giữa chuyên chính vô sản và quyền
làm chủ của nhân dân…Về cơ bản, mô hình CNXH và con đường xây dựng
CNXH có từ Đại hội III hầu như không thay đổi. Rất nhiều vấn đề về đặc trưng
của xã hội XHCN, về thời kỳ quá độ, về cải tạo XHCN… trong quá trình xây
dựng CNXH những năm 1960 – 1975 vẫn chưa được luận giải. Đường lối
CMXHCN của Đảng CSVN mới chỉ được hình thành trên những nét lớn. Điều
cần nhấn mạnh là CNXH, con đường đi lên CNXH ở miền Bắc thời kỳ này được
Đảng CSVN tiếp cận chủ yếu dưới góc độ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc
XHCN, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, hướng vào mục tiêu chung thống nhất nước nhà. Vì thế, còn rất nhiều
vấn đề về các chặng đường của thời kỳ quá độ, về cơ chế kinh tế, cơ cấu kinh
tế, về các quy luật kinh tế chi phối sự vận hành của nền kinh tế… vẫn chưa có
thời gian và cơ hội giải quyết thấu đáo. Những vấn đề này được tiếp tục đặt ra,
đòi hỏi Đảng CSVN giải quyết trong thời kỳ đất nước có hoà bình, thống nhất
thực sự, quá độ lên CNXH ở chặng đường tiếp theo.
3. Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam từ
năm 1975 đến năm 1985
Đại thắng Mùa Xuân 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ
nguyên của độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Với niềm tin tưởng vào tương
lai, cả dân tộc có tâm trạng phấn chấn cùng tiến về phía trước trong cuộc trường
chinh xây dựng CNXH. Trong bối cảnh mang tính lịch sử đó, sau khi tiến hành
thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ IV (12 -
1976), xác định đường lối CMXHCN, mô hình và con đường xây dựng CNXH,
quyết định đưa cả nước quá độ lên CNXH.
phải chú trọng và đặt trọng tâm vào nông nghiệp - một vấn đề có tính quy luật
của hầu hết các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển tiến hành CNH.
Nói một cách khái quát, Đảng đã đưa ra đường lối xây dựng đất nước,
phát triển kinh tế gần giống như tại Đại hội lần thứ III và tạo nên một mô hình
phát triển xã hội giống như mô hình chung của các nước XHCN, mà không nhận
ra rằng, từ Đại hội III đến Đại hội IV là khoảng thời gian 16 năm – một khoảng
thời gian không hề ngắn, đã diễn ra những đổi thay lớn lao trên thế giới, cần phải
cập nhật và có những tư duy mới để bắt nhịp với sự phát triển chung. Hơn thế
nữa, Đảng CSVN cũng chưa nhìn ra sự trì trệ và dấu hiệu khủng hoảng đang lộ
rõ trong mô hình phát triển của các nước XHCN, rập khuôn một cách cứng nhắc,
máy móc mô hình. Đường lối đã có điểm phát triển mới khi nhấn mạnh phát huy
tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân lao động, với mong muốn bảo đảm cho
dân thật sự là chủ và làm chủ đất nước. Tuy nhiên, do chưa tính hết các điều
kiện thực tế, đã nhấn mạnh quá mức và đưa ra một số chủ trương chưa phù
hợp. Đồng thời, khi đề ra đường lối chung “tiến hành đồng thời ba cuộc cách
mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt tiến hành CNH
XHCN là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ” tuy phù hợp với đặc điểm và
đòi hỏi của một nước từ sản xuất nhỏ, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, bỏ qua chế
độ tư bản đi lên CNXH, nhưng Đại hội đã quá nóng vội, không đánh giá đúng
tình hình trong nước và quốc tế, xác định việc hoàn thành về cơ bản quá trình
đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, kết thúc thời kỳ
quá độ trong vòng 15 - 20 năm. Từ đó, dẫn đến chủ trương bỏ qua "bước đi ban
đầu"; bố trí cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư không hợp lý, vượt quá nguồn lực
có sẵn; tiến hành cải tạo XHCN các thành phần kinh tế cá thể và tư bản tư
doanh ở miền Nam một cách vội vã, ồ ạt; tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn
trong nông nghiệp, kéo theo mở rộng quy mô hợp tác xã, quy mô xã, huyện, tỉnh;
mở rộng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý thời chiến đã làm mất động lực phát
triển khi chuyển sang lấy xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm.
Có thể nói rằng, nhận thức về CNXH, về con đường đi lên CNXH của
Đảng CSVN ở Đại hội IV còn chủ quan, duy ý chí, không tuân thủ quy luật khách
hội ngày đang trầm trọng thêm. Đóng góp của Đại hội V thể hiện qua những nội
dung:
1). Đưa ra khái niệm “chặng đường đầu tiên” của thời kỳ quá độ, phân kỳ
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam với những nhiệm vụ và biện pháp phù hợp.
“Chặng đường đầu tiên” có vai trò tạo tiền đề cho CNH XHCN.
2). Thừa nhận trong thời gian nhất định, vẫn còn tồn tại nhiều thành phần
kinh tế (ở miền Bắc là 3 thành phần kinh tế, ở miền Nam là 5 thành phần kinh tế
- quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản tư doanh).
3). Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt
trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy
mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp
nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công
nghiệp nặng thành một cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý
1
.
Nội dung thứ ba thể hiện nội dung, cách thức CNH trong chặng đường
đầu tiên và là một trong những nhận thức mới của Đại hội V. Xem nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu, chú trọng công nghiệp nhẹ, còn công nghiệp nặng không
được “ưu tiên” như tinh thần của Đại hội III, IV, mà chỉ tập trung phát triển những
ngành có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
và đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Việc điều chỉnh nội dung,
cách thức CNH là nhằm mục tiêu tạo ra LLSX mới trong chặng đường đầu tiên,
chuẩn bị những tiền đề căn bản và lực lượng cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH
ở thời kỳ tiếp theo.
Tổng quát lại, có thể nhận thấy rằng, Đại hội lần thứ V của Đảng CSVN đã
có những bước tiến trong đổi mới tư duy trong việc tìm tòi con đường đi lên
CNXH: Về nội dung, cách thức CNH trong chặng đường đầu tiên; về việc cần
phải cụ thể hoá đường lối xây dựng CNXH thành những chặng đường với
những biện pháp và nhiệm vụ phù hợp; bước đầu đưa ra chủ trương đổi mới cơ
chế quản lý… Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Đại hội V là tư duy
Việt Nam, nhằm thực hiện nhất quán mục tiêu, con đường đã lựa chọn. Có thể
khái quát về mô hình CNXH, về con đường xây dựng CNXH trong ¼ thế kỷ qua
như sau:
- Về chính trị, xác định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua
nhà nước chuyên chính vô sản, trên cơ sở liên minh công nông và trí thức; xây
dựng chế độ làm chủ XHCN.
- Về kinh tế, xây dựng nền kinh tế khép kín về LLSX và chế độ công hữu
về TLSX; phát triển một nền kinh tế theo kế hoạch tập trung, thống nhất, coi kế
hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế XHCN, triệt tiêu các quan hệ
thị trường; coi CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ, trong đó chủ
yếu coi trọng công nghiệp nặng.
- Về văn hoá - xã hội, tiến hành cuộc cách mạng văn hoá, tư tưởng, xây
dựng nền văn hoá mới XHCN, con người mới XHCN.
Đây được gọi là “mô hình CNXH truyền thống” hay mô hình CNXH kiểu Xô
- viết – mô hình có xuất phát điểm từ Liên Xô, sau được các nước XHCN khác
(trong đó có Việt Nam) áp dụng rộng rãi. Có thể so sánh mô hình này với mô hình
CNXH truyền thống của Liên Xô, Trung Quốc, để thấy rõ hơn kết luận này.
* Mô hình CNXH truyền thống Liên Xô
Với tư tưởng “CNXH chưa định hình ở đâu đó một cách rõ ràng”, Liên Xô
là quốc gia đầu tiên trên thế giới mò mẫm tìm kiếm mô hình và phương thức xây
dựng CNXH căn cứ vào ý tưởng đại thể của C. Mác về xã hội XHCN tương lai,
kết hợp với điều kiện Liên Xô. Mô hình CNXH Liên Xô có những đặc trưng sau:
- Về chính trị, Ðảng đồng nhất với Nhà nước; giai cấp công nhân trở thành
giai cấp lãnh đạo nhà nước, trên cơ sở liên minh công, nông, trí.
- Về kinh tế, xóa bỏ nền kinh tế tư hữu; biến nền kinh tế cá thể thành kinh
tế tập thể với chế độ sở hữu thuần nhất, chế độ công hữu cao độ; thể chế kế
hoạch hóa tập trung, cứng nhắc; nhấn mạnh phiến diện, thái quá đến phát triển
công nghiệp, coi nhẹ phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, dẫn đến sự
mất cân đối trong tỷ trọng của nền kinh tế quốc dân; quan hệ kinh tế đối ngoại
đóng hẹp, thoát ly nhịp độ của kinh tế thế giới và làn sóng khoa học – kỹ thuật.
giữa LLSX và QHSX, sớm xóa bỏ các thành phần kinh tế tư bản, cá thể Bố trí
sai cơ cấu kinh tế (thể hiện trong quan điểm về công nghiệp hoá XHCN, coi nhẹ
nông nghiệp, chỉ chú trọng công nghiệp nặng – mất cân đối cơ cấu của nền kinh
tế). Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ cản trở sự phát triển
của LLSX. Không đánh giá được đầy đủ vai trò của khoa học – kỹ thuật trong
phát triển kinh tế. Mô hình kinh tế thiếu hụt các nội dung động lực để phát triển,
mà hạt nhân của nó là vấn đề lợi ích.
Thứ ba, về văn hóa - xã hội, hiểu sai về giai cấp và đấu tranh giai cấp,
không nắm vững mục đích của CNXH là “thay cho xã hội tư sản cũ, với những
giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợp trong đó sự phát
triển tự do của mọi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người”; nhấn mạnh cách mạng văn hóa – tư tưởng, bao cấp văn hóa - tư tưởng;
không thực hiện tốt quyền công dân theo quy định của luật pháp, không đáp ứng
được khát vọng về quyền tự do cá nhân chính đáng; chưa xác lập được hệ
thống chính sách và giải pháp phát huy nguồn lực con người, nhất là nguồn lực
trí tuệ.
Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, mặc dù còn rất nhiều khiếm khuyết,
nhưng mô hình CNXH truyền thống đã có tác dụng to lớn trong điều kiện chiến
tranh, đã phát huy được vai trò của mình, phát huy sức mạnh trước thử thách của
chiến tranh tàn khốc. Miền Bắc hoàn thành xuất sắc vai trò hậu phương lớn đối
với tiền tuyến lớn, đồng thời hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng
Lào và cách mạng Campuchia.
Nhưng trong hòa bình, khi sự vật và quá trình phải vận hành theo một cơ
chế bình thường, tuân thủ những quy luật khách quan, thì với những hạn chế
trên, mô hình CNXH mà Đảng CSVN xác định trong những năm 1960-1985 trở
thành một trong những lực cản trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Đất nước, dân
tộc đứng trước nhu cầu cấp thiết phải đổi mới, nhận thức rõ hơn về CNXH, về
con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Thành tựu, hạn chế của quá trình xây dựng CNXH theo mô hình truyền
thống(1960-1985)
thức XHCN được tăng cường. Xã hội miền Bắc đã trở thành xã hội của những
người lao động bình đẳng. Các dân tộc chung sống trên tinh thần đoàn kết, hoà hợp.
+ Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế:
Sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế phát triển nhanh. Năm 1965, miền Bắc
có 4,5 triệu người đi học (trong 16 triệu dân), có 10.290 trường phổ thông các
cấp (năm 1960 có 7.066 trường), có 18 trường đại học và cao đẳng với 34.000
sinh viên (năm 1960 có 9 trường và 8.000 sinh viên). Năm 1975, cứ ba người
có một người đi học. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và cán bộ quản lý có
trình độ trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp hơn 43 vạn người, tăng 19 lần
so với năm 1960. Mạng lưới y tế được mở rộng. Số bác sĩ, y sĩ tăng 13,4 lần so
với năm 1960. Hoạt động văn hoá, nghệ thuật cũng phát triển trên nhiều mặt với nội
dung phong phú.
- Những hạn chế chủ yếu:
+ Về kinh tế:
Sau hơn 20 năm xây dựng CNXH, nền kinh tế miền Bắc còn mang nặng
tính chất sản xuất nhỏ. Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thấp kém, 80% lực lượng
lao động xã hội vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp. Tổ chức sản
xuất trong nông nghiệp và trình độ quản lý của cán bộ chưa đáp ứng được yêu
cầu, cơ sở vật chất nghèo nàn, nông cụ chủ yếu là thô sơ. Tỉ lệ xã viên xin ra
khỏi hợp tác xã cao. Quan niệm về CNH còn giản đơn, giáo điều, đồng nhất
CNH với việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, quá nhấn mạnh đến
việc phát triển công nghiệp nặng, đầu tư quá nhiều vào xây dựng cơ bản trong
điều kiện có chiến tranh phá hoại.
+ Về đời sống – xã hội:
Mức sống của nhân dân còn thấp và có nhiều khó khăn. Tổng sản phẩm
và thu nhập quốc dân còn chưa đảm bảo được nhu cầu cơ bản của đời sống
nhân dân và nhu cầu tích luỹ cho xây dựng CNXH. Nhịp độ tăng dân số nhanh
(từ 16,1 triệu/1960 tăng lên 24,6 triệu người/1975) [45, tr. 65], trong khi thu nhập
quốc dân tăng chậm chạp (năm 1961 là 3.722 triệu đồng; năm 1965 là 4.822;
năm 1970 là 4.716; năm 1973 là 5.312; năm 1974 là 6.177 và 1975 là 6.464) [45,
so với kế hoạch 5 năm trước, thì kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 có một số thành
tựu mới đáng ghi nhận, bởi Đảng CSVN và Nhà nước đã tiến hành một bước
điều chỉnh cơ cấu đầu tư và nhịp độ phát triển đi đôi với một số thay đổi cục bộ
trong cơ chế quản lý kinh tế. Mặc dù vậy, do nền kinh tế trong những năm 1981-
1985 về cơ bản vẫn vận hành theo cơ chế quản lý cũ - cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, quan liêu và bao cấp, nên tuy có bước tăng trưởng khá hơn, nhưng hiệu
quả đầu tư vẫn thấp, đầu tư cao nhưng tăng trưởng sản xuất vẫn chậm và không
ổn định. Nhiều chỉ tiêu bình quân đầu người năm 1985 vẫn thấp hơn năm 1976.
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế tiếp tục phát triển và có những đóng góp
nhất định vào việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới. Một số nội dung
của cải cách giáo dục đã được thực hiện. Nhiều loại hình trường lớp được mở
ra. Hệ thống dạy nghề chính quy đã được hình thành. Nội dung giảng dạy, học
tập có một số điểm sửa đổi. Các trường đều đẩy mạnh lao động sản xuất, gắn
nhiệm vụ giáo dục với các chương trình kinh tế - xã hội của cả nước và của từng
địa phương.
- Những hạn chế chủ yếu
Sau hai kế hoạch 5 năm xây dựng và phát triển kinh tế theo mô hình cũ,
nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng. QHSX chưa phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của LLSX. Trong kế hoạch 5 năm (1976 – 1980),
đã nỗ lực tiến hành cải tạo QHSX, xoá bỏ tư hữu, nhanh chóng thiết lập hai hình
thức sở hữu toàn dân và tập thể, coi hình thức này như là tiêu chí hàng đầu của
CNXH. Kết thúc kế hoạch, QHSX XHCN với chế độ công hữu về TLSX và hai
thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể đã được đẩy tới mức cao
nhất ở các tỉnh phía Bắc, đồng thời được xác lập ở các tỉnh phía Nam. Về hình
thức, công cuộc cải tạo QHSX đã thành công. Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ
QHSX có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX hay không, có
đem lại hiệu quả kinh tế hay không, thì vấn đề lại hoàn toàn khác. Do nôn nóng
đẩy nhanh QHSX đi trước để mở đường và lên cao hơn một bước so với LLSX,
nên nền kinh tế lập tức nảy sinh vấn đề. Cộng thêm vào đó, Nhà nước quản lý
toàn bộ kinh tế - xã hội bằng biện pháp hành chính, hình thức phân phối thực
tế đi xuống cộng hưởng với những sai lầm trong lưu thông, phân phối và sự
không ổn định của thị trường tài chính, tiền tệ, nên lạm phát diễn ra nghiêm trọng
(lạm phát phi mã tới ba con số), hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng.
Trong kế hoạch 5 năm (1981 - 1985), sản xuất tăng chậm, không tương
xứng với khả năng và nguồn vốn bỏ ra, không đáp ứng được yêu cầu về ổn định
đời sống người lao động. Một số chỉ tiêu của kế hoạch không đạt đã ảnh hưởng
đến toàn bộ hoạt động và đời sống của nhân dân. Hiệu quả sản xuất và đầu tư
thấp. Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt, lại bị lãng phí trong sử dụng.
Phân phối lưu thông rối ren, căng thẳng. Vật giá tăng nhanh, ngân sách thâm
hụt, nạn lạm phát tăng (198: lạm phát 313%; 1986: 774,7%). Nhà nước không
nắm được hàng, tiền, có lúc không đủ tiền để trả lương và thu mua hàng hoá. QHSX
chậm được củng cố, kinh tế quốc doanh suy yếu. Những thành phần kinh tế khác
không được sử dụng và cải tạo tốt. Những mặt mất cân đối trong nền kinh tế chậm
được thu hẹp, có phần gay gắt hơn trước.
Tựu chung lại, 10 sau khi đất nước thống nhất, sau hai kế hoạch 5 năm
(1976 - 1980; 1981 - 1985) xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội theo mô hình
cũ, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng: QHSX chưa phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX; kinh tế tăng trưởng thấp. Nếu tính chung từ
năm 1976 đến năm 1985, tổng sản phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân mỗi năm
tăng 4,6 %. Thu nhập quốc dân tăng 38,8%, bình quân tăng 3,7%/năm. Sản xuất
trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Hàng năm, Nhà
nước không những phải nhập các mặt hàng quan trọng cho sản xuất, mà còn
phải nhập hàng tiêu dùng, kể cả những loại hàng hóa lẽ ra sản xuất trong nước
có thể đáp ứng được như gạo và vải mặc. Từ 1976 đến 1985, Nhà nước đã
nhập 60 triệu mét vải các loại và gần 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo, nhưng số
người bị thiếu đói vẫn lên đến 3 triệu người. Thu chi ngân sách phải dựa vào vay
và viện trợ nước ngoài. Tính đến năm 1985, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và
1,9 tỷ USD. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm 1985 là 36,6%, phải
bù đắp bằng phát hành giấy bạc. Hậu quả nhãn tiền là tình trạng siêu lạm phát
diễn ra ở mức trầm trọng, tăng vọt tới ba con số vào năm 1986 (774,7%). Khủng
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Đổi mới cục bộ chưa và không đủ để tạo ra
được cú hích cần thiết, tuy nhiên, nó tạo tiền đề cho bước đi đổi mới toàn diện của Đại
hội lần thứ VI Đảng CSVN (1986).
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội,
tr.26.