ĐỀ TÀI
1
“Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
1
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tháng 12 năm 1991, lá cờ búa liềm trên nóc điện Cremli bị hạ xuống,
đánh dấu sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa phù hợp. Chủ nghĩa xã
hội không còn là một hệ thống, đây chỉ là bước thụt lùi tạm thời. Chủ nghĩa xã
hội theo quy luật phát triển tất yếu của xã hội nó sẽ được xác lập và thay thế
chủ nghĩa tư bản. Mặc dù, chủ nghĩa xã hội không còn là hệ thống thế giới
nhưng một số nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa kịp thời đổi mới đã và
đang đạt được những thành tựu to lớn trong đó có Việt Nam. Việc nghiên cứu,
bổ sung lí luận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã
hội ở từng nước luôn được đặt ra một cách bức thiết cho các Đảng cộng sản.
Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nghiên cứu và học tập để bồi dưỡng, nâng
cao nhận thức về xã hội chủ nghĩa, từ đó có những hành động và việc làm cụ
thể góp phần vào công cuộc chủ nghĩa xã hội của nhà nước và sự tiến bộ của
nhân loại. Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài tiểu luận của mình là:
“Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam đã được nghiên cứu từ lâu. Ngay từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-
Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nghiên cứu và vận dụng sang tạo vào tình
hình cụ thể ở Việt Nam. Đến nay, đã có rất nhiều công trình của nhà nước, tập
Chương II: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
4
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin về chủ nghĩa xã hội.
C.Mác, Ph.Ăngghen đã vận dụng lí luận hình thái kinh tế - xã hội để
phân tích một xã hội hiện thực đó là xã hội tư bản. Hai ông đã tìm ra quy luật
phát sinh, phát triển và diệt vong của nó, đồng thời dự báo về sự ra đời của
hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn: hình thái cộng sản chủ nghĩa và giai
đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
C.Mác, Ph.Ăngghen đánh giá cao vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản
trong việc phát triển lực lượng sản xuất tạo ra nền công nghiệp cơ khí và gắn
liền với nó là giai cấp vô sản cách mạng. Đó là lực lượng sản xuất có tính chất
xã hội. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nển đại công nghiệp và giai cấp vô
sản càng phát triển. Chính sự ra đời của nền đại công nghiệp đã quyết định sự
thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với xã hội phong kiến, thì đến lượt nó, sự
phát triển của nền đại công nghiệp làm cho nền sản xuất có tính chất xã hội lại
mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Sự phát triển của
lực lượng sản xuất có tính chất xã hội đòi hỏi phải “tự giải thoát khỏi tính chất
tư bản của chúng, đến chỗ thực tế thừa nhận tính chất của chúng là những lực
lượng sản xuất xã hội”[2;385]. Điều đó có nghĩa là, phải xóa bỏ chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, xác lập chế độ sở hữu có tính chất xã hội, hay
nói cách khác là chế độ công hữu. Và do đó, một xã hội mới được thay thế chủ
nghĩa tư bản, đó là chủ nghĩa xã hội.
Sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản là một quá trình phát triển tất yếu
khách quan theo quy luật dựa trên những tiền đề vật chất do chủ nghĩa tư bản
tạo ra, và là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong lòng xã
5
hội tư bản. Do đó nó phải vừa thừa kế, phát triển các thành tựu văn minh đạt
Dự đoán của Lênin đã trở thành sự thật. Tháng 10 năm 1917, cách
mạng vô sản nổ ra và thắng lợi ở nước Nga, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu
tiên trên thế giới ra đời. Song, nước Nga khi đó còn là một nước lạc hậu,
chủ nghĩa tư bản chưa phát triển, quan hệ gia trưởng và sản xuất nhỏ còn
nặng nề. Trong điều kiện đó, Lênin đã phát triển sáng tạo lí luận về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định muốn đi lên chủ nghĩa xã hội
thì phải thực hiện thời kì quá độ mà thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
một thời kì lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Ông đã chỉ ra hai con
đường cơ bản lên chủ nghĩa xã hội:
Con đường thứ nhất: quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đây là con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.
Con đường thứ hai: quá độ lên chủ nghĩa xã hội thong qua nhiều khâu
trung gian, nhiều bước quá độ. Đây là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đối
với các nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển.
Lênin cũng chỉ rõ rằng thời kì quá độ đó là những cơn đau đẻ kéo dài, là
quá trình xác lập lực lượng sản xuất mới dựa trên cơ sở của tư bản chủ nghĩa,
đặc biệt nhấn mạnh lợi dụng chủ nghĩa tư bản, nhất là hướng vào chủ nghĩa tư
bản nhà nước, làm khâu trugn gian để chuyển một nước tiểu sản xuất lên chủ
nghĩa xã hội. Theo Lênin thì: “chủ nghĩa tư bản xấu so với chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa tư bản lại tốt với so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất với chủ
nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người tiểu sản xuất tạo nên.
Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên của
nghĩa xã hội, bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể
tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi; bởi vậy
7
chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con
đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) là mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản
xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phưong tiện, con đường, phương pháp, phương
thức để tăng lực lượng sản xuất”[10;276].
Như vậy, theo C.Mác, Ăngghen và Lênin thì chủ nghĩa xã hội là một
thể, ý thức kỉ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng sản xuất cho hợp tác xã,
tăng thu nhập cho xã hội, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ,
dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm”[5;59]. Tinh thần cơ bản
của một luận đề mácxít về chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh nhắc lại với
một quy mô lớn hơn: chủ nghĩa xã hội là của nhân dân, vì nhân dân và do
nhân dân lao động.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội có những đặc trưng cơ
bản như sau:
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có lực lượng sản xuất phát triển
cao, gắn liền với sự phát triển tiến bộ của khoa học – kĩ thuật và văn hóa, dân
giàu nước mạnh.
Thực hiện chế độ sở hữu xã hội về chủ nghĩa sản xuất và thực hiện
nguyên tắc phân phối theo lao động.
Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ, nhân dân lao động làm
chủ. Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn
dân mà nòng cốt là lien minh công – nông – lao động trí óc, do Đảng cộng sản
lãnh đạo.
Chủ nghĩa xã hội có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng,
bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối lập giữa lao
động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn, con người được
9
giải phóng, có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của
xã hội tự nhiên.
Chủ nghĩa xã hội là của quần chúng nhân dân và do quần chúng nhân
dân tự xây dựng lấy.
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ cương lĩnh đầu tiên đã xác định con
đường đi lên tất yếu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định “xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam
xây dựng là một xã hội:
mà nó đã lọt lòng. Đó là xã hội chưa phát triển trên cơ sở chính của
nó”[2;155].
Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ
thể ở Việt Nam trong thời đại ngày nay, Hồ Chí Minh và Đảng ta nhận thức:
chủ nghĩa xã hội là hiện thân đỉnh cao của tiến trình tiến hóa của lịch sử nhân
loại mà những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội là một xã hội: có cơ sở
vật chất – kĩ thuật là nền sản xuất công nghiệp hiện đại; xóa bỏ chế độ tư hữu
tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu;
tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới; thực hiện nguyên tắc
phân phối theo lao động – nguyên tắc phân phối cơ bản nhất; có nhà nước xã
hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và
tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền và lợi ích của nhân dân; là một xã hội có
chế độ đã giải phóng con người thoát khỏi ách áp bức bóc lột, thực hiện công
bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện để con người phát triển
toàn diện”[3;69].
11
CHƯƠNG II
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra
hướng đi cho cách mạng Việt Nam là: chủ trương làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội công sản. Cách mạng Việt
Nam phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn đó đều thuộc phạm trù cách
mạng vô sản. Vào những thập niên 80 của thế kỉ XX, chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và sụp
đổ. Đảng ta vẫn kiên định con đường chủ nghĩa xã hội. Đảng khẳng định
đây chỉ là bước thụt lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội, là sự sụp đổ của một
mô hình chủ nghĩa xã hội chưa phù hợp, còn nhiều khiếm khuyết. Năm
ngắn” nhưng vì điểm xuất phát của chúng ta là từ một nước nông nghiệp lạc
hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa. Từ đặc điểm nổi bật này nên chủ nghĩa xã hội ở nước ta không
thể làm mau được mà phải làm dần dần, qua nhiều chặng đường.
2.2. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Đảng ta đã chỉ rõ: con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nghĩa là bỏ qua
việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư
bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt
13
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. “Để đi
lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần
của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết
dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm
vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế”[12;69].
2.2.1. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Đã có những thời kì Đảng mắc phải những sai lầm trong việc định
hướng phát triển kinh tế do áp dụng máy móc mô hình kế hoạch hóa tập
trung của Liên Xô, Trung Quốc. Chúng ta đồng nhất nền kinh tế hang hóa
với chủ nghĩa tư bản nên đã tiến hành xóa bỏ hai thành phần kinh tế vẫn còn
năng động là kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân quá sớm. Chúng ta
muốn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, phát triển
quan hệ sản xuất tiên tiến nhưng không tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất
sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của
toàn thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ
yếu theo lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp
và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
15
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước phát triển.
Chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất.
Tại Đại hội X, đánh giá quá trình năm năm thực hiện nghị quyết Đại
hội IX của Đảng đã nêu rõ: “nền kinh tế đã vượt qua thời kì suy thoái kém
phát triển, đạt tốc độ phát triển khá cao và tương đối toàn diện… Kinh tế vĩ
mô tương đối ổn định, các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế
được cải thiện; việc huy động các nguồn nội lực cho phát triển có chuyển
biến tích cực, tỉ lệ huy động GDP và ngân sách nhà nước vượt dự
kiến”[12;56].
2.2.2. Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Đại hội IX khẳng định: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nhiệm vụ
trung tâm. Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam có thể rút
ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát huy
những lợi thế của đất nước. Coi phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công
nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa phải đảm bảo: nền kinh tế độc lập tự chủ, tiềm
lực mạnh; có tích lũy cao; cơ cấu kinh tế hợp lí, có sức cạnh trạnh; kết cấu hạ
tầng hiện đại với một số ngành công nghiệp nặng then chốt; kết hợp nội lực và
ngoại lực.
Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu
Đại hội X chủ trương phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ; khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế
17
tác, công nghiệp phần mềm; phát triển một số khu kinh tế mở, thu hút kinh tế.
Nâng cao hiệu quả kinh tế của các khu chế xuất, khu công nghiệp; thu hút đầu
tư của các tập đoàn lớn; thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác tài
nguyên; tu hút những chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng
đồng người Việt ở nước ngoài. Bảo đảm đến năm 2010 có nguồn nhân lực với
cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao, tỉ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp
dưới 50% lực lượng lao động xã hội.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một nhiệm vụ hết sức quan trọng,
giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế
giới, phát huy được thế mạnh về nguòn nhân lực và tài nguyên, tạo bước đột
phá trong tương lai gần, cố gắng đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản là nước
công nghiệp.
2.2.3. Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học-công nghệ và xây
dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Đại hội IX khẳng định: “giáo dục đào tạo là một trong những đọng lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững”[11;654].
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa giáo dục, xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống nhân dân, nâng cao
dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn lực con
người của đất nước.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp
giảng dạy, chăm lo phát triển giáo dục mầm non, tăng cường ngân sách cho
giáo dục đào tạo phát triển đa dạng các hình thức giáo dục đào tạo.Thực hiện
xã hội hóa giáo dục. đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, tăng cường hợp tác quốc
tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ,
thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích
của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tin tưởng
cởi mở, tin tưởng lẫn nhau về sự ổn định chính trị và đồng thuẫn xã hội; đoàn
kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh
đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức,
trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước có ý
nghĩa quan trọng hàng đầu.
Đối với giai cấp công nhân: phát triển về số lượng, chất lượng; tổ chứ,
nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, xứng đáng là lực
lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Giải
quyết việc làm, thực hiện tốt chính sách về pháp luật và tiền lương, bảo hiểm
xã hội , bảo hiểm y tế,… Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền
lợi chính đáng, hợp pháp của công nhân. Chăm lo đào tạo cán bộ và kết nạp
Đảng viên từ những công nhân ưu tú.
Đối với giai cấp nông dân: phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp
đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa công nghê tiên tiến vào nông
nghiệp. Tạo điều kiện thuận lời giúp nông nghiệp chuyển sang làm công
nghiệp và dịch vụ. Khuyến khích nông nghiệp hợp tác với các doanh nghiệp
để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống.
Đối với tri thức: khuyến khích hoạt động phát minh, sáng tạo, bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của tri thức cho công
cuộc phát triển đất nước.
Đối với các doanh nhân: khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh,
20
mở rộng đầu tư trong nước và nước ngoài, giải quyết việc làm cho người lao
động, nâng cao chất luợng sản phẩm, tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hang
hóa Việt Nam.
phải:
Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức và cho toàn dân.
Kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng
và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước.
Tiếp tục xây dưng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lí của nhà nước
đối với hoạt động quốc phòng, an ninh.
C. KẾT LUẬN
22
Ngay từ thế kỉ XIX C.Mác và Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội, chỉ ra một cách khoa học rằng chủ nghĩa xã hội là
một nấc thang cao của lịch sử tiến hóa loài người, nó sẽ thay thế chủ nghĩa tư
bản. Sau đó, những lí luận về chủ nghĩa xã hội được Lênin bổ sung.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và hoàn cảnh cụ
thể Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng đã có những nhận thức sâu sắc, khoa học
về chủ nghĩa xã hội. Từ đó có những bổ sung và phát triển lí luận về chủ nghĩa
xã hội, đưa ra những đặc trưng cơ bản về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ
năm 1986, chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xác định rõ hơn
con đường đi lên của dân tộc.
Từ thực tiễn di lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng đó
là con đường đúng đắn phù hợp với lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với quy
luật phát triển, với xu thế phát triển của thời đại. Nhận thức về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghã xã hội của Đảng và nhân dân ta ngày càng
đúng đắn, khách quan và sáng rõ hơn. Hệ thống quan điểm, lí luận về công
cuộc đổi mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam đã được xây dựng dựa trên sự đúc kết kinh nghiệm của quá khứ, đặc biệt
là trên những thực tiễn sinh động của đất nước và của thời đại. Muốn xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội chúng ta cần phải xây dựng từng bước phù