1
Đề tài:
“Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt nam” 2
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó
các chủ thể của nó được tiến hành sản xuất, kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản
thân cá nhân, và thông qua đó thực hiện lợi ích xã hội. Cho đến nay, kinh tế tư nhân được
coi là khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội. Sự tồn tại nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân là vấn đề tất yếu bắt
nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Đây là khu vực kinh tế rất nhạy cảm với những đặc trưng của kinh
tế thị trường, có tiềm lực lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, tăng
trưởng kinh tế. Bởi vậy, phát triển kinh tế tư nhân là có lợi cho chủ nghĩa xã hội và được
coi là điều kiện không thể thiếu để xây dựng thành công kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài, là động lực quan
trọng để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sau hơn mười năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý, kinh tế tư nhân nước
ta đã hồi phục và phát triển nhanh chóng, đấy sinh lực với một sức bật mạnh mẽ. Hiện
nay, kinh tế tư nhân có tỷ trọng lớn nhất trong GDP cả nước, thu hut nhiều lao động nhất
và có tỷ lệ vốn đầu tư đáng kể trong toàn bộ vốn đầu tư của xã hội, đang trở thành một
nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng trong những năm tới.
người vớ nhau trong việc vân dụng khai thác nguồn lực kinh tế – xã hội.Quan hệ sở hữu
cũng không thể tách rời quan hệ tổ chức, quản lý, phân phối được thể hiện qua quan hệ lợi
ích kinh tế.
4
Nội dung sở hữu khi được thể chế hóa về mặt pháp lý gọi là chế độ sở hữu. Nói cách
khác, chế độ sở hữu là tập hợp các thể chế về mặt pháp lý, bảo đảm cho các quyền sở hữu
được thực hiện. Còn sở hữu thông qua đời sống xã hội gọi là quyền sở hữu.
Chế độ sở hữu bao gồm nhiều quyền, trong đó đáng chú ý nhất là quyền sở hữu và
quyền sử dụng. Đây là hai nhóm quyền vừa phân cực, vừa thống nhất với nhau. Sự phát
triển kinh tế – xã hội càng phức tạp thì sự phân chia, sự tác động giữa hai nhóm trên càng
phong phú và đa dạng. Lý luận về sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử
dụng cùng với việc xuất hiện vấn đề quyền sở hữu thực tế và quyền sở hữu danh nghĩa đã
mở ra phương hướng mới cho các giải pháp về vấn đề sở hữu nhà nước trong các nước xã
hội chủ nghĩa và trong một số nước đang phát triển hiện nay.
Hình thức sở hữu cũng là một nội dung quan trọng khác của sở hữu. Nó là cơ sở khách
quan của sở hữu, tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Cho đến nay, loài người đã trải qua nhiều hình thức sở hữu, phát triển qua các giai
đoạn khác nhau từ sở hữu bộ lạc, đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội chủ
nghĩa. Trong xã hội hiện đại ngày nay, phần lớn các quan điểm đều cho rằng, mặc dù rất
phong phú, đa dạng, nhưng trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu nhà
nước, sở hữu tư nhân và sở hữu hôn hợp.
1.1.2 Thế nào là sở hữu tư nhân?
Điều 211 Bộ luật dân sự nước ta (2005) cho rằng: sở hữu tư nhân là sở hữu của cá
nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu
tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân.
Đây là khái niệm mang tính khái quát cao. Nó cho thấy sở hữu tư nhân bao hàm hai
lĩnh vực: lĩnh vực tiêu dùng cá nhân (sở hữu cá nhân) và sở hữu nguồn lực được đưa vào
sản xuất (sở hữu tư nhân). Thực tế cho thấy: sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư
nhân là một thể thống nhất, không có sự chia cắt, chúng có cùng một nội dung sở hữu: sở
6
Thứ nhất, sở hữu quyết định mục đích của sản xuất và toàn bộ cơ chế điều tiết của nền
sản xuất xã hội.Nó quy định quy mô và phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong quá
trình sản xuất xã hội.Nó quyết định quan hệ lợi ích vật chất của thành viên khác nhau
trong xã hội.
Thứ hai, sở hữu là nhân tố cơ bản của quan hệ sản xuất khi nó giữ vai trò chi phối hai
mặt còn lại của quan hệ sản xuất, tức là nó quyết định đến phương thức, phương pháp của
việc tổ chức và quản lý sản xuất, nó cũng quyết định đến tính chất và hình thức phân phối
sản phẩm.
Thứ ba, chế độ sở hữu quyết định vị trí khác nhau của con người, của giai cấp và các
mối quan hệ lẫn nhau của họ trong quá trình sản xuất.Từ đó, nó quyết định các mối quan
hệ trong trao đổi và phân phối.Chế độ sở hứu còn quy định cả đặc điểm, hình thức và cơ
cấu của giai cấp, tầng lớp xã hội.
Thứ tư, sở hữu vừa là quan hệ kinh tế, vừa là quan hệ pháp lý, vì vậy nếu không có sự
biến đổi của chế độ sở hữu phù hợp thì lực lượng sản xuất khó có thể phát triển bình
thường.
Thứ năm, mỗi phương thức sản xuất được đặc trưng bởi một quan hệ sản xuất riêng,
tạo thành một chế độ kinh tế xã hội, do chế độ sở hữu quyết định.Trong mối quan hệ đó,
sở hữu là cái quyết định bản chất của chế độ kinh tế xã hội, còn quan hệ sản xuất là tiêu
chí hàng đầu để phân biệt các hình thái kinh tế xã hội.
Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội của xã hội có giai cấp, sở hữu liên quan đến cơ sở
hạ tầng của xã hội như là tổng hợp các kiểu quan hệ sản xuất, các loại hình kinh tế…Cơ
sở hiện thực của sở hữu gồm 3 loại hình cơ bản:
- Loại hình sở hữu điển hình, giữ vai trò chủ đạo, nó ứng với quan hệ sản xuất thống trị.
- Loại hình sở hữu gắn với quan hệ sản xuất tàn dư.
- Loại hình sở hữu gắn với quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.
7
Do đó việc duy trì cùng một lúc nhiều loại hình sở hữu trong một hình thái kinh tế xã
thuê hay không thuê lao động.
2.2 Các loại hình kinh tế tư nhân:
Khu vực kinh tế tư nhân hiểu theo góc độ khái quát bao gồm các loại hình: kinh tế cá
thể của nông dân, thợ thủ công và tiểu thương; kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư nhân
trong kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có nguồn vốn đầu tư nước ngoài (nếu thuộc sở
hữu tư nhân)…Đại hội IX của Đảng đã tách kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành một
loại hình kinh tế độc lập, không nằm trong khu vực kinh tế tư nhân.Hiện nay, quan niệm
phổ biến ở nước ta về kinh tế tư nhân gồm hai loại hình kinh tế:
Một là, kinh tế cá thể, tiểu chủ: bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên cơ sở sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp tư nhân,
hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động của chính họ. Kinh tế cá thể,tiểu chủ tồn tại độc
lập dưới hình thức xưởng thợ gia đình, công ty tư nhân nhỏ, hộ kinh doanh thương mại,
dịch vụ, hộ làm kinh tế trang trại, hoặc tham gia liên doanh, liên kết với các loại hình kinh
tế khác.
Hai là, kinh tế tư bản tư nhân: đây là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê hoạt động
một cách độc lập, trong đó chủ thể tư bản đồng thời là chủ doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân thường được nhận thức theo cách xác
định của luật doanh nghiệp (1999) gồm có: Công ty trách nhiêm hữu hạn, doanh nghiệp tư
nhân,công ty cổ phần và công ty hợp doanh được thành lập theo luật doanh nghiệp.
II.VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA SỞ HỮU TƯ NHÂN, KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Vị trí của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
9
1.1 Lợi thế về động lực phát triển của kinh tế tư nhân trong quan hệ với khu vực nhà
nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất nào, muốn đạt hiệu quả tăng trưởng
cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường.Bởi vì,với trình độ phát triển của lực lượng
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, kinh tế tư nhân được coi là khu vực kinh tế đang
hàng ngày hàng giờ làm nảy sinh chủ nghĩa tư bản.vì vậy, nó luôn trở thành đối tượng của
cách mạng xã hội chủ nghĩa.Ở đây, nhà nước coi việc loại bỏ kinh tế tư nhân càng nhanh,
càng triệt để bao nhiều thì càng nhanh có chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu, bất kể những đóng
góp của nó đối với nền kinh tế như thế nào.
Với những quan điểm trên đã dẫn đến việc thực hiện cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế xã
hội chưa hợp lý, cộng với nhiều ảnh hưởng khách quan, chủ quan khác nên mô hình kinh
tế kế hoạch tập trung đã lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.Thực tế đòi hỏi phải tiến
hành đổi mới và trong quá trình đổi mới đó,nhận thức về vị trí của các khu vực kinh tế đã
có sự thay đổi căn bản so với trước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư nhân được coi là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
Kinh tế tư nhân luôn là bạn đồng hành và hoạt động bình đẳng với các khu vực kinh tế
khác, không còn là đối tượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa nữa.
Việc đổi mới nhận thức về vị trí của kinh tế tư nhân như trên chính là sự đánh giá một
cách đầy đủ, khách quan và khoa học hơn về khu vực kinh tế này.Với sự tương hợp của
mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chắc chắn khu vực kinh tế
tư nhân sẽ đóng góp xứng đáng hơn nữa cho việc tăng trưởng và tăng tiềm lực kinh tế đất
nước, và như vậy, vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân cũng chắc chắn sẽ được tăng lên
trong thời gian mới.
1.3 Từ vị trí mới, kinh tế tư nhân đang tạo thành một đối chứng hiện thực năng động
để các khu vực kinh tế khác đối chiếu và luôn tự đổi mới,hoàn thiện.
11
Trong quá trình đổi mới chúng ta đã hình thành mô hình “kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”.Dù có những mặt trái cố hữu nhưng cho tới nay và cả trong
tương lai, cơ chế thị trường vẫn tỏ ra đầy sức sống và là cơ chế ưu việt nhất, bởi kinh tế
thị trường kích thích sự phát triển trên nhiều lĩnh vực như:
- Gắn các chủ thể hành vi lại với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, tạo nên
sự hiệp tác hữu cơ của nền sản xuất xã hội.
- Truyền dẫn thông tin, thông qua giá cả, thị trường cung cầu của các bên, chỉ cho người
dựng các công trình văn hóa, đường sá, cầu cống…
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế nước ta
trở nên đa dạng hơn.Sự biến đổi của quan hệ sản xuất kéo theo sự biến đổi quan hệ quản
lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, các ngành trong
cả nước.Nhờ vậy, phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm của sản
xuất.
Sự xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc khu vực kinh tế tư
nhân trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất kinh doanh đẩy lùi tình trạng độc quyền
của một số doanh nghiệp nhà nước, tăng thêm đối tác cạnh tranh thúc đẩy sự phân công
lao động xã hội.Điều đó làm sản xuất hàng hóa phát triển, thị trường mở rộng, các quy
luật kinh tế thị trường được phát huy tác dụng, đẩy lùi cơ chế quản lý tập trung quan, bao
cấp vốn đã ăn sâu trong tiềm thức xã hội.
2.2. Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
-Kinh tế tư nhân có tốc độ tăng trưởng nhanh, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế cả nước.
13
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực kinh tế tư nhân là đều đặn và xấp xỉ
tốc độ tăng GDP toàn bộ nền kinh tế, trong đó riêng kinh tế tư bản tư nhân bao giờ cũng
thuộc bộ phận có tốc độ tăng trưởng cao nhất.
- Kinh tế tư nhân đã góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo
hướng hiện đại.
Thứ nhất, xét về cơ cấu ngành, khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần chuyển dịch kinh
tế chung của cả nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thứ hai, về cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự biến chuyển tích cực theo hướng
phát huy ngày càng hiệu quả sự đóng góp của các loại hình kinh tế mới trong nền kinh tế
quốc dân.
là trình độ khoa họa và công nghệ còn ở điểm xuất phát lạc hậu 50-70 năm so với thế
giới.Trong lĩnh vực này kinh tế tư nhân đã, đang và sẽ hoạt động có hiệu quả trên các
phương diện: (1) - Chủ động đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, trên cơ sở này nâng cao năng lực cạnh tranh: (2)- Lựa
chọn công nghệ nhập thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường.
Kinh tế tư nhân có nhiều khả năng và lợi thế về đổi mới và tham gia phát triển công
nghệ trên các lĩnh vực: chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ… kể cả một số ngành công
nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…Tuy nhiên, do điểm xuất phát
thấp, kinh nghiệm và nguồn vốn chưa nhiều nên việc đổi mới và phát triển công nghệ ở
khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn còn nhiều hạn chế, còn ở dạng triển vọng, tiềm
năng nhiều hơn là ở dạng thực tiễn.
-Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh
vào nên kinh tế thế giới
Nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào việc tăng
kinh ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa.Ví dụ, năm 2001 nhập khẩu trực tiếp của khu vực
kinh tế tư nhân phi nông nghiệp đạt 3,336 tỷ $, xuất khẩu đạt 2,851 tỷ $.Một số sản phẩm
15
xuất khẩu chủ yếu nước ta hiện nay như các sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ…
đều do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất; khu vực kinh tế tư nhân còn chiếm tỷ trọng đáng
kể trong xuất khẩu hàng may mặc, hàng thủy sản,…Báo cáo của Bộ Thương mại cho thấy
khu vực kinh tế tư nhân đóng góp gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, quy mô xuất khẩu của nước ta còn hạn chế so với các
nước trong khu vực, nếu tính theo đầu người thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam bằng
1/5 của Thái Lan, cơ cấu hàng xuất khẩu còn lạc hậu, loại hình dịch vụ thu ngoại tệ chưa
phát triển, thị trường nước ta mới có chiều rộng chưa có chiều sâu, quá trình hội nhập
kinh tế còn lúng túng chưa thành lộ trình rõ ràng, nhiều doanh nghiệp chưa chuẩn bị tích
cực cho hội nhập mà còn trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước…Những thực tế đó đòi
hỏi khu vực kinh tế tư nhân phải đầu tư phát triển mạnh hơn nữa vào lĩnh vực kinh tế
quan trọng này, bởi vì ở đây kinh tế tư nhân luôn có một lợi thế cao và toàn diện.
tồn tại, nhưng kinh tế tư nhân trong nước đã vượt qua cơn lốc của giai đoạn ‘cải tạo xã hội
chủ nghĩa’ để tồn tại , phát triển đáp ứng được một phần quan trọng sản phẩm cho nhu
cầu của xã hội.
2.Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay
2.1.Các giai đoạn phát triển
2.1.1 Từ năm 1986-1990:
Nhà nước bắt đầu soạn thảo và ban hành một số đạo luật cho sở hữu tư nhân, kinh tế
tư nhân phát triển.Tuy nhiên, trong giai đoạn này, do hậu quả của những sai lầm cũ chưa
được khắc phục, chúng ta lại gặp phải những khó khăn mới do những khiếm khuyết mới
nảy sinh trong những năm đầu đổi mới: giá, tiền lương, vỡ tín dụng…Trong bối cảnh như
vậy, sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân của nước ta trong giai đoạn này chỉ mới được bắt đầu
tái lập, còn phát triển thì chưa mạnh, chưa rõ nét.
2.1.2 Từ năm 1991-1999
17
Đây là giai đoạn Luật Cty và luật doanh nghiệp phát huy tác dụng, vì thế sở hữu tư
nhân, kinh tế tư nhân phát triển khá mạnh.
Trong nông nghiệp, có 37,3% hộ tham gia các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và 62,7%
hộ sản xuất cá thể có tham gia các hình thức tổ kinh tế hợp tác giản đơn.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh,các ngành nghề phi nông nghiệp có 2.137.713 hộ
sản xuất kinh doanh cá thể,tăng 6,02% so với năm 1996.Năm 1991 cả nước mới có 414
doanh nghiệp được thành lập đến năm 1999 tăng lên 33.521 doanh nghiệp.
2.1.3 Từ năm 2000 đến nay
Đây là giai đoạn luật doanh nghiệp ra đời tạo điều kiện cho sở hữu tư nhân, kinh tế tư
nhân phát trỉên mạnh hơn so với giai đoạn 1991-1999.Tính từ ngày 1-1-2000 đến đầu
tháng 9-2003,cả nước có khoảng 2,5 triệu hộ sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi
nông nghiệp và đã thành lập thêm 72.601 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân,
đưa số doanh nghiệp lên 120.000 cơ sở và gấp hơn ba lần số doanh nghiệp có đến cuối
năm 1999.
2.2.Một số đặc điểm về động thái phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong quá trình
luân chuyển vốn nhanh…
Một khía cạnh của nhà đầu tư trong nước vẫn còn giữ thế thủ, chỉ muốn đầu tư vào
lĩnh vực có thể ‘đánh nhanh thắng nhanh’, ‘rút gọn, rút lẹ’ khi có tình huống bất lợi xảy
ra.
Mặt khác do chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực sản xuất
công, nông nghiệp chưa đủ mức kích thích so với lĩnh vực thương mại dịch vụ dù không
được kích thích nhiều mà vẫn thu được lợi nhuận cao.
2.2.3 Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang có sự biến động
theo hướng xã hội hóa sản xuất trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ năm 2000 trở lại đây, tỷ trọng doanh nghiệp tư nhân đang giảm xuống, từ 72%
năm 1998 xuống còn 34% năm 2003.Trong khi đó cty TNHH có chiều hướng tăng lên, từ
19
27% năm 1998 lên 56% năm 2003.Số cty cổ phần tăng lên rõ rệt từ chưa đầy 1 % năm
1998 lên 10% năm 2003.Sự biến động nói trên chứng tỏ các nhà đầu tư trong nước đã ý
thức được những điểm lợi và bất lợi của từng loại hình doanh nghiệp; có xu hướng lựa
chọn các loại hình doanh nghiệp hiện đại, tạo cơ sở để doanh nghiệp có thể ổn định, phát
triển không hạn chế về quy mô và thời gian họat động. Điều này trước hết là do sự phát
triển của lực lượng sản xuất đã được nâng lên thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đã thúc đẩy quan hệ sản xuất biến đổi theo hướng xã hội hóa ngày một
cao hơn, nên loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu ra đời ngày càng nhiều.Đây là xu
hướng biến động phù hợp với quy luật khách quan trong tiến trình phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
2.2.4Hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực
Trong lĩnh vực sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp chủ yếu là kinh tế hộ, trong đó có một
số đã tích tụ phát triển thành kinh tế trang trại, nhưng hơn 97% vẫn là trang trại gia đình.
Trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp số hộ kinh doanh cá thể có
2,5 triệu hộ trong khi đó các loại hình doanh nghiệp chỉ có 120.000 đơn vị, trong đó có
hơn 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thực trạng trên phản ánh đúng trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nước ta hiện
về chủng loại, kiểu dáng, khan hiếm hàng hóa trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Nhưng bên cạnh đó khu vực kinh tế này lại mang tính tự phát cao, dễ dẫn đến khủng
hoảng kinh tế và phân hóa xã hội khá sâu sắc.Vì vậy,cần điều chỉnh hài hòa khu vực kinh
tế nhà nước và kinh tế tư nhân để đảm bảo nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững,
tăng cường ổn định về mặt xã hội.
2.3.2 Kinh tế tư nhân tác động tích cực, tạo điều kiện để kinh tế nước ta phát triển theo
chiều sâu theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa
21
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp
mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành,lĩnh vực và tòan bộ nền kinh
tế theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại.Về mặt này có thể nói kinh tế tư nhân có
khả năng đáp ứng rất nhanh và hiệu quả.Kinh tế tư nhân đang tích cực tham gia vào quá
trình từng bước phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn,hiện đại cho đất nước,nó cũng
là đối tác tích cực trong việc tham gia hội nhập kinh tế thế giới về khoa học công nghệ.
Thứ hai,vấn đề bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách là mục tiêu và
động lực của sự phát triển.Trong phát triển kinh tế hiện đại, chất lượng của người lao
động là nhân tố quyết định, là nhân tố nội sinh không có gì có thể thay thế.Về vấn đề này,
sở hữu tư nhân cũng có sự tác động hết sức hiệu quả.Bởi việc phát triển nhân tố con
người suy cho cùng trước hết vẫn là phát huy động lực của sở hữu tư nhân của mỗi cá
nhân con ngừoi cụ thể, sau đó mới đến động lực tập thể.
2.3.3 Kinh tế tư nhân có sự đóng góp toàn diện và hiệu quả trên các lĩnh vực
Kinh tế tư nhân tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, qua đó làm tăng thu nhập,
cải thiện đời sống, góp phần thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn của các tầng lớp nhân
dân cho đầu tư phát triển
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hương tiến
bộ, đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước,góp phần mở rộng thị
trường, thu hút nguồn vốn đầu tư nứơc ngoài tại Việt Nam, góp phần xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp, thúc đẩy lực lựợng sản xuất phát triển và mở rộng dân chủ chủ nghĩa xã
hội.
- Nâng cao chất lượng các quy hoạch và kế hoạch, hạn chế đến mức tối thiểu những điều
chỉnh, thay đổi khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân
- Giữ vững sự ổn định về tài chính tiền tệ, giá cả.Có những dự báo về những biến động
trên lĩnh vực này và phương án xử lý những ảnh hưởng xấu có thể phát sinh, tạo điều kiện
cho khu vực kinh tế tư nhân tham gia tích cực bào thị trường tài chính tiền tệ…
23
- Trên cơ sở ban hanh luật chống độc quyền, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng,
lành mạnh.Kiểm soát chặt chẽ giá cả của một số mặt hàng có tính chất đọc quyền để
không gây những biến động đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp, thủ tiêu hoặc hạn chế năng
lực cạnh tranh của sản phẩm do kinh tế tư nhân sản xuất ra
- Nghiên cứu chế độ thuế hợp lý với những sắc thuế thống nhất cho mọi cơ sở kinh doanh
1.3 Tiếp tục ổn định môi trường chính trị- xã hội trong nước, tạo môi trường quốc tế
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
- Xóa bỏ những thiên kiến về giai cấp, giai tầng, tạo môi trường tâm lý thuận lợi cho kinh
doanh
- Tăng cường an ninh chính trị, xã hội, đặc biệt coi trọng an ninh kinh tế, hạn chế đến
mức thấp nhất những tai nạn gây tổn thất lớn về kinh tế
- Tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân có thể tiếp cận một cách thuận lợi môi trường
quốc tế để tìm kiếm cơ hội và các điều kiện kinh doanh
Tóm lại, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi là điều kiện tiên quyết để huy động
mọi nguồn lực trong dân cư phát triển khu vực kinh tế tư nhân
2. Đổi mới quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế do tư nhân tự bỏ vốn đầu tư để sản xuất kinh
doanh và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.Nhà
nước không thể áp đặt quan hệ quản lý trực tiếp mà chỉ có thể tác động bằng định hướng
và các đòn bẩy kinh tế.
2.1 Đổi mới quan niệm về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Nhà nước chỉ nên giới hạn sự quản lý ở những nội dung:
- Định hướng cho kinh tế tư nhân phát triển bằng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát
25
- Nâng cao chất lượng đối thoại và xử lý tốt các vấn đề đặt ra để cuộc đối thoại đạt hiệu
quả thì cần phải có sự hướng dẫn của các cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp về các
vấn đề cơ bản và phổ biến nhất đang vướng mắc, cản trở hoạt động của doanh nghiệp
4.Giải pháp về phát triển các loại hình kinh tế tư nhân
Đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
- Đối với kinh tế hộ:khuyến khích nông hộ tích tụ ruộng đất để phát triển thành kinh tế
trang trại và được coi như là loại hình kinh tế phổ biến trong nông nghiệp
- Đối với kinh tế trang trại: kinh tế trang trại phải được coi là loại hình kinh tế tư nhân cơ
bản trong nông nghiệp, là cơ sở để hình thành và phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa
lớn trong nông nghiệp
-Khuyến khích phát triển công nghệp chế biến, sơ chế nông lân hải sản, nâng cao gí trị
hàng hóa và liên kết với các doanh nghiệp có chức năng để tiêu thụ và xuất khẩu các hàng
hóa đó
- Đối với dịch vụ nông thôn phần lớn cũng do kinh tế tư nhân đảm nhân, cần phát triển
mạnh các lĩnh vực: giống cây trồng vật nuôi.
- Đối với loại hình doanh nghiệp nhỏ
Khuyến khích mở rộng quy mô hoạt động, tận dụng mọi trình độ công nghệ.Thực hiện
liên kết với các thành phần kinh tế khác trong quá trình tích tụ, nếu hội tụ điều kiện cần
thiếtcó thể phát triển thành các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc vừa hoặc hợp vốn
thành cty TNHH và tiếp tục tìm cơ hội tích tụ cao hơn
4.3 Đối với loại hình doanh nghiệp vừa và lớn (tư bản tư nhân)
Khuyến khích đầu tư vào các ngành quan trọng có trình độ công nghệ hiện đại.Mở
rộng các hình thức liên doanh liên kết với nước ngoài.Hướng các loại hình doanh nghiệp
này hình thành các cty cổ phần có quy mô lớn với trình độ công nghệ cao
5.Giải pháp hạn chế tiêu cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế
tư nhân