trình bày khái quát thị trường ngoại hối. phân tích thực trạng thị trường ngoại hối ở việt nam và đề xuất giải pháp nhằm củng cố thị trường ngoại hối ở việt nam - Pdf 16



Bài tập nhóm 9:

Môn: TÀI CHÍNH QUÔC TẾ

Trình bày khái quát thị trường ngoại hối.
Phân tích thực trạng thị trường ngoại hối ở
Việt Nam và đề xuất giải pháp nhằm củng cố
thị trường ngoại hối ở Việt Nam.

Nhóm 9:

Lớp: K50.ĐH Tài Chính - Ngân Hàng
Trường: Đại học Tây Bắc
Thành viên trong nhóm:

1. Lê Chí Cường
2. Vì Văn Quý
3. Quàng Văn Thương
4. Vũ M ạnh Tiến
5. Lê Ngọc Tú
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜN G NGOẠI HỐI


- Là nơi để NHTW can thiệp lên tỷ giá c. Các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối:
Nhóm khách hàng mua bán lẻ: gồm các công ty nội địa & đa quốc gia,
những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối
nhằm hai mục đích: Chuyển đổi ngoại tệ và phòng ngừa tỷ giá.
Các ngân hàng thương mại & Ngân hàng đầu tư:Tham gia mua bán ngoại
tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hoặc là mua bán thay cho
khách hàng khi thực hiện vai trò môi giới.
Những nhà môi giới ngoại hối: Tham gia trên Forex với tư cách là trung
gian trong các giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho người khác nhằm thu
hoa hồng trong từng giao dịch
Các ngân hàng trung ương: Đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành
và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại
hối, ổn định giá cả và tỷ giá hối đối.
1.2. Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối:
a. Nghiệp vụ giao ngay (SPOT):
Là giao dịch hai bên thực hiện mua/bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá
giao ngay trên thị trường tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong
vòng 02 ngày làm việc tiếp theo.
- Những lợi ích chính:
+ Đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho thanh toán xuất
nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cước vận tải, bảo hiểm.
+ Góp vốn liên doanh với nước ngoài.
+ Đóng hội phí cho các tổ chức quốc tế.
+ Đi công tác, học tập, chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài.
+ Có thể thanh toán ngay trong ngày (today), thanh toán vào ngày hôm
sau (tom) hoặc thanh toán trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch
(spot).

- Thời gian thanh toán:
Đối với giao dịch giữa VNĐ với các ngoại tệ kỳ hạn thanh toán tối thiểu
là 03 ngày, tối đa là 365 ngày kề từ ngày giao dịch.
Đối với giao dịch giữa hai loại ngoại tệ với nhau kỳ hạn thanh toán dựa
trên cơ sở thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng.
c. Nghiệp vụ hoán đổi (SWAP): Là nghiệp vụ ngoại hối phối hợp giữa hai
nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay và giao dịch ngoại hối có kỳ hạn để
kiếm lợi nhuận.
- Những lợi ích chính:
+ Giúp doanh nghiệp XNK quản l ý dòng tiền hiệu quả.
+ Sử dụng ngay được nguồn ngoại tệ sẽ có trong tương lai.
+ Có thể hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền.
360
Điểm kỳ hạn =

Spot x (IR2 – IR1) x Ngày
Tỷ giá kỳ hạn =
Spot x

1 + (IR1 x Ngày/360)
1 + (IR2 x Ngày/360)
+ Phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ảnh hưởng xấu tới thu nhập và chi
phí trong tương lai.
- Những đặc điểm cơ bản:
+ Giao dịch hoán đổi có hai dạng gồm hoặc giao dịch giao ngay và giao
dịch kỳ hạn hoặc giao dịch kỳ hạn và giao dịch kỳ hạn.
+ Tỷ giá giao dịch: một giao dịch hoán đổi bao gồm 2 tỷ giá khác nhau,
hoặc tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn hoặc tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá kỳ hạn
tương ứng với hai dạng giao dịch trên.
+ Thời hạn thanh toán cũng có đặc điểm tương tự gồm hoặc thanh toán

1.3 Tỷ giá hối đoái:
1.3.1. Khái niệm:
- Hối đoái: là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang đồng tiền khác.
Sự chuyển đổi này xuất phát từ yêu cầu thanh toán giữa các cá nhân, các công
ty, các tổ chức thuộc hai quốc gia khác nhau và dựa trên một tỷ lệ nhất định của
hai đồng tiền.
- Tỷ giá hối đoái là: tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền nước này với đồng tiền
nước khác hay cụ thể hơn là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền trong nước với đồng
tiền nước ngoài.
1.3.2. Cơ sở xác định tỷ giá:
Giá trị của mỗi đồng tiền nằm ở sức mua hàng hóa dịch vụ của nó. Tỷ giá giữa
các đồng tiền được xác định trên cơ sở so sánh sức mua tương đương
- Tỷ giá đựơc xác định bởi cung cầu trên thị trường ngoại hối
- Sự thừa kế nhất định từ chế độ bản vị vàng và BrettonWoods
Các quốc gia áp dụng các chính sách tỷ giá khác nhau:
- Tỷ giá cố định: : tỷ giá được quyết định bởi NHTW. NHTW công bố
mức tỷ giá chính thức và cam kết duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong
nước với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố dù cung cầu ngoại tệ trên thị
trường có thay đổi. Khi có sự biến động thị trường, muốn duy trì tỷ giá đã ấn
định thì NHTW phải điều hòa lượng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để đảm
bảo cân bằng cung cầu
- Tỷ giá theo quan hệ cung cầu (thả nổi hoàn toàn): tỷ giá được quyết
định bởi cung và cầu ngoại tệ trên thị trường. Khi cung cầu thay đổi đến đâu, tỷ
giá thay đổi tương ứng đến đó theo mức cân bằng trên thị trường.
- Tỷ giá thả nổi có sự quản lý ( kết hợp của thả nổi và cố định): tỷ giá này
có thể do thị trường quyết định, cũng có thể do NHTW quyết định. Khi thị
trường ít biến động, tỷ giá được thả nổi theo cung cầu trên thị trường ngoại hối.
Khi có dao động mạnh và nhanh thì NHTW can thiệp để giữ ổn định tỷ giá.
1.3.3. Quy ước tên đơn vị tiền tệ:
Để thống nhất và tiện lợi trong các giao dịch ngoại hối Tổ chức Tiêu

Dollar Úc

AUD

Franc Th
ụy sĩ

CHF

Yen Nh
ật

JPY

Đồng Việt Nam VND

1.3.4. Phân loại tỷ giá:
Có rất nhiều loại tỷ giá tùy theo căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại
hối hay căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá.
a. Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối:
- Tỷ giá mua vào: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẳn sàng mua
vào đồng tiền yết giá.
- Tỷ giá bán ra: Là tỷ giá mà tại đó Ngân hàng yết giá sẳn sàng bán ra
đồng tiền yết giá.
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá ngân hàng Thương mại áp dụng để mua ngoại
tệ tiền mặt của khách hàng,
- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mà ngân hàng Thương mại áp dụng để
mua và bán ngoại tệ chuyển khoản với khách hàng.
- Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong
ngày.

 Riêng dollar M ỹ và Euro vừa yết giá trực tiếp vừa yết giá gián tiếp
1.3.6. Tỷ giá chéo:
a. Khái niệm:
Tỷ giá chéo là tỷ giá giửa hai đồng tiền bất kỳ được xác định thông qua
đồng tiền thứ 3 (đồng tiền trung gian).
Do đồng USD thường là đồng tiền được yết giá với các đồng tiền quốc
gia khác, nên tỷ giá đồng tiền bất kỳ thường được suy ra từ tỷ giá giữa chúng
với đồng USD. Từ đó tỷ giá chéo được hiểu là tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ
được xác định thông qua USD.
b. Phương pháp tính tỷ giá chéo:
- Trường hợp 1: tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền được yết giá trực tiếp
Ví dụ: USD/VND =15.458 và USD/JPY= 119,01
Tỷ giá chéo JPY/VND= USD/VND/USD/JPY=15,458/119,01=129.88
- Trường hợp 2: Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền được yết giá gián tiếp
Ví dụ: GBP/USD = 1,5475 và AUD/USD = 0.5957
Tỷ giá chéo GBP/AUD = GBP/USD/AUD/USD=1,5475/0,5957 = 2,5978
- Trường hợp 3: Tỷ giá chéo giữa một đồng tiền yết giá trực tiếp và một
đồng tiền yết giá gián tiếp
Ví dụ: GBP/USD = 1,5475 và USD/VND =15.458
Tỷ giá chéo : GBP/VND = GBP/USD x USD/VN
= 1,5475 x 15.458 = 23,921
1.3.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá:
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
sự biến động của tỷ giá hối đoái
- Tình hình lạm phát trong và ngoài nước: Nếu tỷ kệ lạm phát trong nước
cao hơn ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hàng
hóa nước ngoài. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa ngoại nhập và
giảm nhu cầu hàng hóa nội địa. sự thay đổi nhu cầu hàng hóa này làm tăng cầu
và giảm cung ngoại tệ. Làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ (tỷ giá tăng).
Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so

NHNN vận dụng rất linh hoạt giúp ổn định thị trường , mở ra nhiều nghiệp vụ
mới, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.
Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam các nghiệp vụ phái sinh vẫn còn sơ
khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấpdo tại Việt Nam vẫn
chưa có một thị trường ngoại hối có tỷ già theo thị trường mà vẫn theo sự quản
lý của nhà nước. Sự biến động của tỷ già cũng không lớn trong 1 thời gian chỉ
trong năm 2011 có sự điều chỉnh mạnh của NHNN với tỷ giá chính do vậy nên
ở Việt Nam rất nhiều nghiệp vụ phái sinh vẫn chưa được phát triển. Giao dịch
kỳ hạn và hoán đổi mới chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 5%) trên tổng
doanh số giao dịch ngoại tệ của các NHTM
Tỷ trọng mua, bán kỳ hạn quá chênh lệch; ngân hàng mua kỳ hạn chỉ
chiếm khoảng 30%, trong khi đó bán kỳ hạn chiếm tới gần 70%.
Thời hạn hợp đồng tối đa chỉ là 6 tháng và tối thiểu là 7 ngày.
Tỷ lệ % gia tăng của tỷ giá kỳ hạn theo từng kỳ hạn là cố định trong khi
các biến số xác định nó lại biến động hàng ngày theo diễn biến thị trườnVới
những lý do:
a. Thiếu khách hàng:
Với tỷ giá do NHNN quyết định nên khách hàng không quan tâm tới vấn
đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Vớ sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá vào những năm
2008 và đặc biệt vào năm 2011 thì vấn đề rủi đang được quan tâm
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề rủi ro tỷ
giá, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành thuỷ sản, dệt may, cà
phê và các ngành sản xuất, xuất khẩu khác. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn chưa có thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới
phòng chống rủi ro đối với các hoạt động ngoại tệ của mình.
b. Thiếu cơ sở pháp lý:
Điều chỉnh giao dịch ngoại hối kì hạn và hoán đổi:
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, trước ngày
28/5/2004, tỷ giá kì hạn được xác định bằng cách lấy tỷ giá giao ngay cộng với
một biên độ dao động tùy theo kì hạn của hợp đồng kì hạn. Như vậy, cách xác

giao dịch quyền chọn tiền tệ (sau đây gọi là “giao dịch quyền chọn”) là một
giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó, bên mua quyền có
quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở
một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước. Nếu bên
mua quyền chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán
hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thoả thuận trước. Tại
Quyết định này, giao dịch quyền lựa chọn chỉ bao gồm giao dịch giữa các
ngoại tệ (không liên quan đến Đồng Việt Nam). Đối tượng được tham gia giao
dịch hối đoái bao gồm tổ chức tín dụng (TCTD) được phép, tổ chức kinh tế, tổ
chức khác và cá nhân và NHNN Việt Nam. TCTD được phép được duy trì tổng
giá trị hợp đồng quyền lựa chọn không có giao dịch đối ứng tối đa là 10% so
với vốn tự có. Cũng trong quyết định này, các TCTD được phép không được
mua quyền lựa chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân mà họ chỉ
được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này mà thôi.
Trong vài năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép
các NHTM được thực hiện nhiều nghiệp vụ mới như quyền chọn ngoại hối,
quyền chọn vàng, hoán đổi lãi suất. Tuy nhiên cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ
phái sinh còn chưa đầy đủ, ngoại trừ chỉ có giao dịch hoán đổi lãi suất đã có
quy chế của NHNN là Quyết định số 1133/2003/QĐ-NHNN, ngày 30/09/2003.
Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn
ngoại tệ, tuy nhiên chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ,
còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND thì phải được sự cho phép từ phía
NHNN. Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường chuyển đổi
ngoại tệ ra VND để phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất trong nước mà hầu như
không chuyển đổi từ ngoại tệ ra ngoại tệ. Đây cũng là trở ngại lớn đối với các
NHTM làm cho doanh số giao dịch quyền chọn rất thấp.
c. Thiếu kiến thức, hiểu biết:
Sản phẩm phái sinh trong phòng chống rủi ro là một sản phẩm khá mới
và phức tạp đối với thị trường Việt Nam. Đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như
các NHTM phải có hệ thống thông tin dự báo tỷ giá quốc tế nhanh, chính xác,

16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3%
nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở dưới 17.500 VND.
Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm
mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân
đối” với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước
bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình
quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại; hiện vẫn thấp hơn so với những ngày
cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng
đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.
Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá
USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép; việc
đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở
lại đây.
Trong báo cáo tổng kết thị trường tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục
duy trì thông điệp “đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ
giá ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối
hoạt động tích cực hơn”.
Nhu cầu vay ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đã tăng lên. Trong tháng 7
và 8 vừa qua, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) đã tăng
khá nhanh; lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng
8 đến nay cũng đã tăng khá mạnh; một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên
đến 4% - 4,15%/năm.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã
tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008.
Giá vàng:
Năm 2009 là năm có nhiều kỷ lục nhất về sự biến động của giá vàng và
là năm có nhiều nhà đầu tư trả giá đắt vì đoán sai xu hướng thị trường Và đến
ngày 1-12-2009, giá vàng quốc tế trên sàn New York lần đầu tiên trong lịch sử
vượt qua ngưỡng 1.200 USD/OZ. Ngày 11/11/2009, giá vàng lên kỷ lục 29
triệu đồng/lượng. Trưa ngày 11/11/2009, Ngân hàng Nhà nước công bố cho

Ngày giao dịch ấn tượng của quý 2/2010: Ngày 02/05/2010, người dân
đổ xô đi mua vàng sau khi giá vàng hạ 1,5 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 đêm. Yếu
tố khác khiến giá vàng giảm sâu trong thời điểm này còn là bởi Ngân hàng Nhà
nước yêu cầu các doanh nghiệp lớn tăng cung vàng.
Tuy nhiên giá vàng chỉ giảm được 3 ngày, lực mua quá lớn khiến giá
vàng lên lại mức 26,48 triệu đồng/lượng vào ngày 11/02.
Tỷ giá đôla M ỹ vào ngày 11/02/2010 cũng lên cao và đến 11h trưa cùng ngày ở
mức 19.800 đồng Việt Nam/USD.
Cuối quý 3/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 31,21 – 31,25 triệu
đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,08 –
26,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở
mức 31,17 – 31,23 triệu đồng/lượng
Quý 4/2010, sự hỗn loạn trên thị trường vàng bắt đầu từ ngày 08/11/2010
khi người dân đổ xô nhau đi mua vàng, phiên giao dịch ngày 09/11/2010 lịch
sử, giá vàng lập đỉnh cao chưa từng có. Giá vàng SBJ giao dịch ở mức 37,00 –
37,40 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SJC ở mức 36,50 – 37,02
triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long ở mức 36,90 – 37,30 triệu
đồng/lượng.Chốt phiên giao dịch ngày 30/12/2010, giá vàng SJC ở mức 36,04
– 36,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng SBJ cuối ngày 30/12/2010 ở mức 36,07 –
36,10 triệu đồng/lượng.
Năm 2010 được xem là một năm tương đối thành công của chính sách
quản lý ngoại hối với tỷ giá diễn biến tương đối ổn định, giá vàng trong nước
tuy vẫn tiếp tục tăng nóng nhưng đã bám sát hơn với giá vàng thế giới
Năm 2011:
a. Tỷ giá ổn định:
Tỷ giá USD/VND phản ánh sát hơn cung – cầu thị trường và tương đối
ổn định; hoạt động mua – bán ngoại tệ trên thị trường tự do được hạn chế.
Ngay từ đầu năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh mạnh tỷ
giá bình quân liên ngân hàng với quyết định số 230/2011/QĐ-NHNN ngày
11/2/2011: tỷ giá USD/VND tăng (giảm giá VND) 9,3% từ 18.932 lên 20.693

M ặc dù năm 2011 đã ghi nhận những nỗ lực của NHNN trong công tác
điều tiết thị trường vàng thể hiện thông qua các văn bản pháp luật quản lý thị
trường vàng như Thông Tư 11 Quy định về việc chấm dứt huy động và cho vay
vốn bằng vàng của TCTD; yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay cầm
cố, thế chấp bằng vàng; dự thảo nghị định mới về quản lý kinh doanh vàng,
trong đó chủ trương tiến tới xóa các thương hiệu vàng miếng không phải SJC;
biện pháp không cấp hạn ngạch nhập vàng cho các doanh nghiệp nhưng cho
phép SJC và 5 NHTM đủ điều kiện được phép giao dịch vàng tài khoản ở nước
ngoài ; nhưng các biện pháp này vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Thị trường vàng trong nước vẫn tiếp tục chứng kiến những mức chênh lệch
không hợp lý giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới. M ức chênh lệch có
lúc đã lên tới hơn 4 triệu VND/ lượng nhưng nhìn chung phổ biến ở khoảng 2-3
triệu VND/lượng. Hoạt động đầu cơ của một số cá nhân và tổ chức kinh doanh
vàng có quy mô và yếu tố tâm lý chạy theo đám đông của người dân tại một số
thời điểm nhạy cảm của giá vàng vẫn chưa được khắc phục. Tại những thời
điểm giá vàng lên cao, tình trạng người người chen lấn xếp hàng để mua vàng
đã trở thành quen thuộc.
Năm 2012:
Dự báo nếu loại trừ những yếu tố bất trắc thì có thể khẳng định thị trường
ngoại hối năm 2012 sẽ rất ổn định. Biến động của tỷ giá USD/VND có thể ở
mức 2 - 3%" Dự báo cán cân tổng thể năm nay sẽ thặng dư khoảng 3 tỷ USD,
tiếp tục là một yếu tố hỗ trợ thuận lợi cho bình ổn tỷ giá và thị trường ngoại
hối. CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP CỦNG CỐ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM

- Cho phép doanh nghiệp được phát hành trái phiếu ngoại tệ để huy động
ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa của ngân hàng

bán cuối cùng, điều tiết, định hướng cung - cầu thông qua những lực lượng sẵn
có.
Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập, mà có sự tương
tác với thị trường tiền gửi, thị trường cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm
trong khả năng điều chỉnh, quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể
là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự
tương tác điển hình trong mối quan hệ này, góp phần giải vây cho thị trường
ngoại hối. Tất nhiên, theo ý kiến chuyên gia, để điều hòa được mối quan hệ này
theo các mục đích định sẵn, năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có
tính quyết định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status