NGA VÀ NATO VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC - Pdf 37

NGA VÀ NATO: CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA CHIẾN LƯỢC

Tác giả : Đại tá V. V. Kirillov, tiến sĩ chính trị học
Nguồn: T/c Nga “Tư tưởng quân sự”, số 9/2007; tr. 2-12
Người dịch: Đăng Vinh
Từ khoá: Địa chiến lược; Quan hệ quân sự; Nga; NATO

Trên các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây các quan chức
nhà nước cấp cao nhất thường lớn tiếng một cách có kế hoạch và hệ thống về
sự cần thiết phải tăng cường tiềm lực quân sự của NATO. Đáng tiếc là, nếu
trước đây điều đó liên quan đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố, thì
hiện nay họ lại nói đến sức mạnh quân sự đang gia tăng của Nga. Nước Nga,
cũng giống như vài chục năm về trước, trong những năm “chiến tranh Lạnh”
lại bị đặt vào cùng một cấp với các quốc gia “ma quỉ”, cũng giống như ‘trục
ma quỉ”. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì?
Ở đây có một số nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất (được một số
chính trị gia và nhà bình luận quân sự tán thành) - đó là sự liên quan đến việc
đầu cơ trước bầu cử, muốn đánh bật các ứng cử viên tiềm năng như thể họ
đang chi quá nhiều tiền cho chạy đua vũ trang. Có thể, điều đó là có thật, đặc
biệt ở Mỹ-nước mà sau một năm nữa sẽ tổ chức các cuộc bầu cử tổng thống.
Nhưng từ góc độ nhà khoa học quân sự, chứ không phải là kẻ nhỏ nhen đơn
thuần, cách giải thích này là rất đáng ngờ. Dù ai giành thắng lợi trong các
cuộc bầu cử ở Mỹ, người thuộc Đảng Dân chủ hay người thuộc Đảng Cộng
hoà thì thái độ đối với quân đội của người dân Mỹ bình thường vẫn không
thay đổi. Phân tích sự hình thành và phát triển sức mạnh quân sự của Mỹ và
của các nước thành viên khác trong khối NATO trong khoảng mười năm gần
đây cho thấy, ngân sách của họ chỉ có tăng chữ không giảm. Điều đó thấy rất
rõ qua bảng 1 dưới đây.
Bảng 1. Chi phí quân sự của Mỹ trong những năm 1993-2007 (tỷ USD)
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2005 2006 2007
297, 288,6 278,9 271,4 267,2 268,5 276,7 280,8 417,0 550,0 715,0

Tên gọi
Bộ đội của quân đội và hải quân, triệu người
Các nhà xây dựng quân sự, nghìn người
Bộ đội biên phòng, nghìn người
Bộ đội nội vụ, nghìn người
Bộ đội đường sắt, nghìn người
Số lượng sư đoàn, đơn vị
Số xe tăng, chiếc
Dự trữ vũ khí hoá học, nghìn tấn
Đầu đạn hạt nhân, nghìn quả

Số lượng
4,5
329
220
200
200
180
63,800
gần 50
gần 15


Bảng 3. So sánh chi phí quân sự của NATO và khối Vácsava (triệu USD)

Năm

Mỹ

1975

Chương trình dự kiến sẽ hoàn thành sau 20 năm, tiêu tốn hơn 200 tỷ USD.
Chỉ riêng việc bảo đảm liên lạc trong vòng 5 năm tới sẽ phải tiêu tốn 24 tỷ
USD. (Đây là khoản tiền lớn hơn so với chi phí của người Mỹ để chế tạo bom
nguyên tử). Mỹ không vội vã tiêu huỷ các đầu đạn hạt nhân chiến lược phải
cắt giảm, trong khi Nga phải thực hiện đầy đủ và vô điều kiện các nghĩa vụ đã
được thông qua của mình. Việc đưa các đầu đạn này vào lực lượng dự bị sẽ
cho phép Lầu Năm góc tăng số đầu đạn từ 2.700 đơn vị năm 2002 lên 3.230
đơn vị trong năm sau đó. Trong khi đó Nga đã thoả thuận với Mỹ về việc đến
ngày 31-12-2012 sẽ giảm số đầu đạn hạt nhân chiến lược xuống còn 1.700 2.200 đơn vị.
Nước Nga nhận được gì? Nước Nga giảm vũ khí, còn ngược lại Mỹ và
các đồng minh của Mỹ lại tăng. Ai giấu giếm? Theo thực tế của năm 2003
trong các kho vũ khí thì chỉ riêng Mỹ đã có 7.068 đầu đạn hạt nhân được triển
khai, trong đó có 5948 đầu đạn hạt nhân chiến lược và 1120 đầu đạn hạt nhân
phi chiến lược. Và ngoài kho hạt nhân của Mỹ còn có các kho hạt nhân của
các nước khác. Ví dụ, Anh có 185 đơn vị đạn hạt nhân chiến lược, Pháp có
348 đơn vị, Trung Quốc có 282 đơn vị đạn chiến lược và 120 đơn vị phi chiến
lược. Các nước khác như Ấn Độ, Pakixtan và Ixraen mỗi nước đều có vài
chục đơn vị đầu đạn nguyên tử. Và tất cả những nước này lại ở rất gần Nga,


trong khi đó lại ở khá xa Tây Âu, nhất là Mỹ. Vậy ai đe doạ ai trong tình
huống này? vấn đề đã rõ.
Vấn đề càng trở nên rõ ràng hơn, nếu tính rằng GDP của nước Nga hiện
nay được đánh giá chỉ là hơn một nghìn tỷ USD một chút. Để so sánh - GDP
của Nhật lớn gấp 4 lần; chưa kể đến GDP của Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ,
Italia, Trung Quốc v.v. Hiện nay các nước Liên minh châu Âu đã chiếm tỷ
trọng hơn 20% GDP thế giới, trong khi tỷ trọng nền kinh tế Nga trong tổng
GDP của thế giới đến năm 2015 chỉ đạt 3%. Trong khi đó tỷ trọng của Mỹ đạt
16,5%, còn Trung Quốc-18%. Hiện nay Nga giống như một pháo đài bị bao
vây mà trên đường biên giới phía Tây của pháo đài đó là Khối quân sự Bắc

đó là rất đặc trưng và tiêu biểu không chỉ đối với NATO, mà cả Trung Quốc,


Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và những quốc gia đang phát triển nhanh khác
trên thế giới. Điều đó nói lên điều gì? điều đó nói lên rằng, trong tương lai
gần ở những khu vực có mỏ dầu sẽ có xung đột lợi ích giữa các nước khác
nhau với đầy những hậu quả khôn lường. Vì vậy một số nước đã vội vã thâm
nhập vào những khu vực trên. Kết luận này không phải là ngẫu nhiên, nếu chú
ý đến bảng 4.
Có lẽ, Irắc (trong số các nước được nêu trong bảng 4) không phải ngẫu
nhiên trở thành nạn nhân đầu tiên của sự xâm lược. Nhưng ở đây cũng cần
thấy một sự thật là nhịp độ khai thác dầu mỗi năm một tăng nhanh. Và Nga
cũng không phải là một ngoại lệ. Vì thế, dự trữ dầu có thể sẽ cạn kiệt nhanh
hơn so với loài người tưởng. Chỉ vào đầu thế kỷ 21 người ta đã có kế hoạch
chỉ khai thác ở mức như trong thế kỷ trước.

Bảng 4. Trữ lượng dầu mỏ chỉ đủ để khai thác ở mức như hiện nay
(theo số liệu của hãng British Petroleum)
Nước
Canađa
Nauy
Mỹ
Nga
Cadăcxtan
Mêhicô
Nigiêria
Cata
Arập Xêút
Các tiểu vương quốc Arập thống nhất
Irắc



Trữ lượng của Mỹ được đánh giá là 3 tỷ tấn dầu. Trong khi đó như ở
khu vực Caxpi của Cadắcxtan (mỏ dầu Kashagan) được phát hiện mới đây có
trữ lượng được đánh giá là từ 7-9 tỷ tấn. Hiện nay Mỹ nhập khẩu 56% nhu
cầu dầu mỏ, trong tương lai trước mắt sẽ nhập khẩu 65-70%. Vì thế Mỹ quan
tâm đến khu vực Vịnh Pecxích nơi tập trung tới 65% trữ lượng dầu thế giới.
Trong khu vực Cận Đông và ở châu Phi tập trung hơn 90% trữ lượng dầu đã
được thăm dò. Ở Irắc – 11,77%. Irắc đang khai thác 120 triệu tấn dầu một
năm. Mỗi năm người Mỹ đốt và chế biến 561 triệu tấn dầu (trong đó Mỹ nhận
được từ Liên bang Nga và các quốc gia SNG khác gần 10 triệu tấn).
Một qui luật thú vị được rút ra: giá dầu càng cao thì tốc độ tăng trưởng
kinh tế thế giới càng thấp. Ví dụ, vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước, khi
giá dầu không quá 10 USD một thùng thì tốc độ tăng trưởng trung bình hàng
năm của GDP thế giới dao động ở mức 5-7%, còn vào đầu những năm 80 khi
giá dầu là 70 USD một thùng thì tăng trưởng GDP thế giới là 1-2%.
Hiện nay Nga đang tăng tốc độ khai thác dầu, cũng như bán dầu. Trong
đó họ thường không nghĩ rằng, chính điều đó đang tạo khả năng củng cố
những nước mà Nga bán nguồn nguyên liệu chiến lược này cho họ. Theo số
liệu của Uỷ ban Tài nguyên quốc gia và Bộ Môi trường, nhịp độ khai thác dầu
ở Nga thể hiện như sau.

Bảng 6. Khai thác dầu ở Nga

Năm
1970
1980
1990
1995
2000

tranh lạnh” chi phí quân sự của thế giới cũng chỉ là 898 tỷ USD. Hiện nay kỷ
lục này đã bị phá và đã đạt hơn 1.000 tỷ. Theo bảng 7, rõ ràng Nga còn xa
mới là nước “dẫn đầu” về chi phí cho chạy đua vũ trang. Các số liệu nêu trong
bảng sau về chi phí quân sự trên thế giới những năm gần đây đã khẳng định rõ
ràng điều đó. Điều này phân biệt Liên bang Nga hiện đại với Liên Xô trước
đây. Nhưng tại sao họ lại đe doạ.
Bảng 7. Chi phí quân sự của các nước chủ chốt trên thế giới trong năm
2006 (tỷ USD)
Nước
Mỹ
Anh
Nhật Bản
Pháp
Đức
Trung Quốc
Ấn Độ
Nga
Hàn Quốc

Ngân sách quân sự
550
51
45
41
32
30
25
24
21


2002
2003
2004
2005
2006

Khối lượng doanh thu Chi phí cho mua sắm và hiện
nhờ xuất khẩu vũ khí đại hoà vũ khí cho lực lượng
vũ trang
2,8
1,2
3,5
1,5
2,7
1,7
2,6
1,6
2,5
1,4
3,6
1,9
3,7
2,0
4,8
2,0
5,3
2,1
5,8
2,2
6,1

còn buôn với khối lượng lớn hơn Nga rất nhiều. Nước Nga mới chỉ bắt đầu
đẩy mạnh hơn một chút việc buôn bán này, trong khi cả Mỹ và các đồng minh
của Mỹ trong khối NATO đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ việc buôn bán này
với nhịp độ cao hơn Nga rất nhiều. Chỉ riêng trong những năm 1998-2002 Mỹ
đã bán lượng vũ khí trị giá 37,7 tỷ USD. Pháp, Đức, Anh và Italia bán với
lượng tương ứng là 8,3; 4,9; 4,8; 1,7 tỷ USD. Người mua vũ khí sẽ thấy rất
thú vị nếu xem bảng 9.
Bảng 9. Nước bán và nước mua vũ khí năm 2006.

Nước bán
Mỹ
Nga
Anh
Ixraen
Pháp
Đức
Ucraina

Tổng số, tỷ USD
12,5
6,1
3,3
1,2
1,1
1,0
0,9

Nước mua
Trung Quốc
Ấn Độ

mà người ta đem đến đây, không thể mọc rễ trên mảnh đất Ápganixtan. Và ở
Irắc người Mỹ và các đồng minh của Mỹ rõ ràng đang thất bại. Vậy ai phải lo
sợ trong thế giới hiện đại?
Thực tế sau cũng giúp trả lời cho chúng ta vấn đề này. Các nước NATO
sau khi Liên Xô sụp đổ và Nga suy yếu trên thế giới đã thực hiện sự kiểm soát
chính trị-quân sự các khu vực ảnh hưởng trước đây của Nga và Liên Xô. Đó
là các nước vùng Bancăng, các nước Bantích, các quốc gia Trung và Đông
Âu. Thật thú vị là ngay Đ. Rôckơpheolơ đã nói: “Tôi sở hữu rất nhiều và trên
thực tế lại không kiểm soát được gì. Tôi muốn không sở hữu gì cả và kiểm
soát được tất cả”. Người Mỹ đang tích cực sử dụng ý tưởng này ở những ngõ
ngách khác nhau trên hành tinh. Ví dụ, hiện nay Mỹ và Anh đang kiểm soát
27% trữ lượng dầu mỏ 40% trữ lượng khí đốt của khu vực Caxpi. Ngoài
Ápganixtan và Irắc, sau sự kiện 11-9-2001 Mỹ đã bảo đảm cho mình sự hiện
diện quân sự ở một số nước Trung Á. Việc có các căn cứ quân sự cho phép
Mỹ kiểm soát không phận trên thực tế đối với toàn bộ Trung Á. Ngoài ra, Mỹ
đang bành trướng ảnh hưởng của mình ở Grudia, Adécbaigian, Ucraina và
nhiều nước cộng hoà khác của Liên Xô cũ. Thoả thuận với Mỹ về việc chuyển
hoá lực lượng vũ trang Adécbaigian sang các tiêu chuẩn của NATO đã có
hiệu lực ở nước này từ năm 2002. Grudia cũng đã chuyển sang các tiêu chuẩn
của NATO. Trên thực tế, trên lãnh thổ của nước này đã tạo ra các điều kiện
cho việc triển khai quân NATO. Quân đội Mỹ đã chiếm vị trí của quân Nga.
Vậy ai đe doạ ai trong trường hợp này? Câu trả lời lại đã rõ.
Báo chí Mỹ đã nhiều lần công bố các kế hoạch chia cắt nước Nga hiện
đại. Đặc biệt ở đây Z. Brêdinxki và M. Ônbrai đã thành công. Họ nói thẳng ra
rằng, nước Nga là một nước có quá nhiều và rộng lớn, ví dụ, Xibêri. Cần phải
tách Xibêri khỏi Nga. Xây dựng ở đây một loạt quốc gia nhỏ mà Mỹ điều
khiển được, khi đó, như một đập chắn sóng, các nước cộng hoà Xibêri sẽ kẹp
chặt quanh Trung Quốc. Rồi lại làm như vậy, dường như cái tiền đề mà họ
nghĩ ra này không tồi. Họ làm tất cả điều đó chỉ vì một mục đích: để nước
Trung Quốc Cộng sản không thể trở thành một cường quốc hùng mạnh hơn.

thể đứng ngang hàng với Mỹ, thay thế Liên Xô cũ với tư cách là đối thủ chủ
yếu của Mỹ. Nếu có được tiềm lực tổng hợp của ba quốc gia này thì ba nước
cùng nhau có thể chặn đứng NATO trong tình huống khẩn cấp (bảng 10).

Bảng 10. Tiềm lực quân sự tổng hợp của Nga, Trung Quốc và Ấn Độ.

Lực lượng vũ trang (nghìn người)
Nước
Dân số
Tổng Lục Không
Hải Lực lượng Khả năng
số
quân quân
quân hạt nhân động viên
(đơn vị)
Nga 145.100
1.200 322
49,5
150
7800
32250
Trung 1.255.000 2470
1730 420
220
400
34300
Quốc


Ấn Độ 1.016.242 1303

2001
2002
2003
2004
2005
2006

Tổng số
192
237
284
346
414
555
667

Tỷ lệ% trong GDP
2,4
2,8
2,7
3,0
3,0
3,0
3,0

Các số liệu của bảng 12 cho thấy một cách trực quan những nước nào
đang tăng cường thực sự chi phí quân sự trong suốt một thời gian dài, còn
những nước nào thì giảm chi phí quân sự.
Như vậy, có thể xác nhận rằng, thế giới không việc gì phải sợ nước Nga
hiện đại. Chúng ta đã rút ra kết luận đúng từ lịch sử mới đây của mình. Bây

43,9 43,4
43,9 43,1 42,3
7,4
7,7
7,6
7,8
7,9
41,9 40,0
24,6 23,3 23,2

*********

1998
268,5
38,7
42,3
8,3
17,3

1999
276,7
38,4
40,8
9,5
16,9

2000
280,8
38,6
42,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status