Đề bài:
Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo qui định của các điều ước quốc tế
song phương Việt Nam kí kết với các nước? Thực tiễn thực hiện ủy thác tư
pháp quốc tế giữa Việt Nam với các nước kí kết điều ước quốc tế về vấn đề
này.
MỤC LỤC
1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ (UTTPQT)
1.1 Khái niệm UTTPQT
1.2 Những qui định của pháp luật Việt Nam về UTTPQT
2. ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUI ĐỊNH CHUNG CỦA CÁC
ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC
NƯỚC
2.1 Các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước về
UTTPQT
2.2 Nội dung chủ yêu của các điều ước quốc tế về UTTPQT mà Việt Nam kí
kết với các nước
3. THỰC TIỆN THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ GIỮA VIỆT
NAM VỚI CÁC NƯỚC KÍ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ NÀY
(bài học kì - mục tài liệu bài tập)
Bài làm
1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm UTTPQT
Ủy thác tư pháp quốc tế là hình thức tương trợ tư pháp của các quốc gia có
chủ quyền. UTTPQT do quốc gia được uỷ thác thực hiện bao gồm các hoạt
động tiến hành hành vi tố tụng riêng biệt đã được pháp luật của nước đó quy
1
2. ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUI ĐỊNH CHUNG CỦA
CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT
VỚI CÁC NƯỚC
2.1 Các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước
về UTTPQT
a. Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, thương mại
*) Các Hiệp định đã ký
Hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dân sự
với các nước được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định Tương trợ tư pháp (và
pháp lý) được ký kết giữa Nhà nước ta với nước ngoài. Tính đến thời điểm
hiện nay, trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ,
chuyển giao người bị kết án, Việt Nam đã ký 26 Hiệp định TTTP với các
nước (trong đó có 15 Hiệp định điều chỉnh TTTP về dân sự, thương mại); đã
và đang chuẩn bị đàm phán 18 Hiệp định TTTP trên các lĩnh vực, đã và đang
chuẩn bị rà soát, sửa đổi, hiện đại hóa 04 Hiệp định đã ký với các nước
XHCN trước đây. Cụ thể về 26 Hiệp định TTTP đã ký như sau:
- 12 Hiệp định TTTP với phạm vi rộng, điều chỉnh TTTP trên đầy đủ các
lĩnh vực dân sự, hình sự và dẫn độ: đó là các Hiệp định với Liên Xô cũ
(10/12/1981), Tiệp khắc (12/10/1982), Cu Ba (30/11/1984), Hung-ga-ri
(18/01/1985), Bun-ga-ri (03/10/1986), Ba Lan (22/3/1993), CHDCND Lào
(06/7/1998), Nga (25/8/1998), Ucraina (16/4/2000), Mông Cổ (17/4/2000),
Bê-la-rút (14/9/2000), CHDCND Triều Tiên (04/5/200)[1];
3
- 03 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dân sự và thương
mại: với CH Pháp (24/02/1999), Trung Quốc (19/10/1998) và Angeri (14 /
4/2010);
- 02 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực hình sự: với
Đa phần các Hiệp định TTTP với các nước trước đây thuộc hệ thống XHCN
được Nhà nước Việt Nam ký vào những năm 80, khi thể chế về TTTP của
nước ta còn rất sơ sài. Cùng với sự phát triển của thể chế về tư pháp quốc tế
trong đó đặc biệt là về TTTP, nhu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa
hoặc thay mới (nếu cần thiết) các Hiệp định đã ký trước đây là rất cần thiết
để đảm bảo sự tương thích giữa các Hiệp định đó với Luật Tương trợ tư
pháp, các Hiệp định đa phương về TTTP cũng như phù hợp với thực tiễn
triển khai công tác tương trợ tư pháp.
Vào đầu năm 2010, Bộ Tư pháp đã tiến hành đàm phán với Cộng hoà Séc về
việc sửa đổi Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và
hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHXHCN Tiệp Khắc ký
ngày 12 tháng 10 năm 1982, đã được Cộng hòa Séc và Cộng hòa Xlô-va-kia
kế thừa.
Hiện nay Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển
khai việc rà soát, hiện đại hóa các Hiệp định TTTP đã ký với các nước
XHCN cũ, trước mắt là với 03 nước Ba Lan, Xlovakia, Hungari.
5
2.2 Nội dung chủ yêu của các điều ước quốc tế về UTTPQT mà Việt
Nam kí kết với các nước
Nội dung các hoạt động UTTPQT giữa Việt Nam với các nước có nhiều
điểm khác nhau tùy thuộc vào quan hệ song phương cũng như ý chí của các
bên kí kết. Tuy nhiên có thể thấy nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế
song phương mà Việt Nam kí kết với các nước bao hàm 4 phần chính sau:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự.
- Triệu tập người làm chứng, người giám định.
- Thu thập, cung cấp chứng cứ.
- Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.
Nam, pháp luật và tập quán quốc tế, các điều ước đa phương trong cùng lĩnh
vực; việc đàm phán, ký kết được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục,
nguyên tắc quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
b. Phạm vi điều chỉnh và nội dung chính của các Hiệp định TTTP
Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký với các nước XHCN trước đây là loại
điều ước song phương có phạm vi rất rộng, bao gồm cả các vấn đề bảo hộ
pháp lý, những quy phạm xung đột thống nhất để giải quyết xung đột pháp
luật và xung đột thẩm quyền, công nhận và thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên
Hiệp định được ký kết gần đây và các dự thảo Hiệp định TTTP trong lĩnh
vực dân sự và thương mại đang được đàm phán mới có phạm vi hẹp hơn,
được xây dựng theo nguyên tắc điều chỉnh các vấn đề mang tính nguyên tắc,
thủ tục tương trợ tư pháp và dẫn chiếu đến luật tố tụng và nội dung của quốc
gia ký kết. Xu hướng ký kết Hiệp định TTTP theo từng lĩnh vực chuyên
ngành (hoặc chỉ chuyên về hình sự, dẫn độ, hoặc chuyên về tố tụng dân sự),
7
không quy định xen kẽ, lồng ghép nhiều lĩnh vực với nhau, đang được các
quốc gia và các tổ chức quốc tế ngày càng chú trọng. Dự thảo Hiệp định loại
này có ưu thế là đơn giản và dễ thống nhất. Đây cũng là mô hình các Hiệp
định TTTP mà ta đã ký với Trung Quốc, Pháp, An-giê-ri, hay Dự thảo Hiệp
định đang và sẽ được đàm phán với Vương quốc Anh, Hàn quốc, Ka-dắcxtan, Ấn Độ v.v…
Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại quy định trong các dự
thảo Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và các nước phù hợp với Điều 10 Luật
TTTP, bao gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư
pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung
cấp chứng cứ và các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự
3. THỰC TIỆN THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ GIỮA
VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KÍ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẤN
Các vụ án này thường thời hạn xét xử không đảm bảo, việc kéo dài và bế tắc
khi không có kết quả ủy thác sẽ làm người trong nước thiệt thòi. Nếu họ đi
bước nữa thì cuộc sống hôn nhân tự nhiên trái pháp luật, do đó các quyền lợi
về vợ chồng không được đảm bảo… Đối với án xử xong, nếu có đương sự
trong nước kháng cáo thì hồ sơ không thể chuyển ngay để Tòa phúc thẩm
giải quyết mà phải chờ kết quả ủy thác bản án đối với người đang ở nước
ngoài, kéo dài thời gian thêm thời gian giải quyết vụ án…
9
Ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP HCM, cho biết TAND TP HCM
đã có nhiều công văn đề nghị TAND Tối cao, Hội đồng Thẩm phán TAND
Tối cao có hướng dẫn thực hiện thủ tục UTTP nhưng đến nay vẫn chưa
chuyển biến.
Án tồn vì ủy thác tư pháp ()
Cập nhật lúc 08:19 | 09/10/2010 (GMT+7)
Từ lâu, kết quả ủy thác tư pháp đã là một vấn đề “nhức nhối”, ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp. Song, qui định
pháp luật hiện hành về vấn đề này còn chung chung, nên cả cơ quan
nhà nước và người dân chỉ biết “chờ đợi” cơ quan nhận ủy thác có kết
quả trả lời.
Từ một vụ án bị “ngâm”…
Ngày 26/6/2009, TAND TP.HCM mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án
“Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa nguyên đơn là ông Chuang Yu Sheng
và bị đơn là bà Nguyễn Thị Thúy Hương và ông Huang Wen Yuan. Người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Chang Mang Tang và
ông Lin FuLin (người Đài Loan, Trung Quốc).
Do những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên
tòa ngày 26/6/2009 nên TAND TP.HCM đã có Công văn đề nghị Bộ Tư
quan nước bạn vì những lý do “đẩu đâu” thì các vụ, việc dân sự đó sẽ được
liệt vào danh sách “án tồn” gần như không có giới hạn.
11
Thực tế, mỗi ngày, lãnh đạo các cơ quan chức năng Việt Nam phải “chia
nhau” ký hàng chục hồ sơ ủy thác tư pháp. Nhưng như Vụ trưởng Vụ Hợp
tác quốc tế (Bộ Tư pháp) Nguyễn Khánh Ngọc thừa nhận: “Bộ Tư pháp chỉ
có chức năng chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp. Nếu giữa hai nước có Hiệp định
Tương trợ tư pháp thì còn có căn cứ để “nhắc nhở” các cơ quan chức năng
của bạn thực hiện theo yêu cầu ủy thác. Còn nếu không thì đành chỉ biết chờ
bạn có thông tin”.
Nên như trường hợp vụ “tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa bà Hương và
ông Yuan với ông Sheng này, dù Bộ Tư pháp đã thực hiện đúng chức năng
“chuyển hồ sơ” sang Bộ Ngoại giao để làm thủ tục ủy thác tư pháp, nhưng vì
phía Đài Loan và Việt Nam chưa có thỏa thuận về vấn đề tương trợ tư pháp
nên ta chỉ biết “ngồi chờ”, mà không thể có một động thái nào để giúp tiến
trình giải quyết vụ án dân sự tiến triển tích cực hơn.
Cách giải quyết “thụ động” này khiến kết quả ủy thác tư pháp đang là một
trong những “rào cản” lớn nhất đối với việc giải quyết các vụ, việc án dân sự
có yếu tố nước ngoài.
Để gỡ vướng, TANDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao… đang có chủ trương
xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện việc ủy thác tư pháp giải
quyết vụ, việc dân sự. Trong đó, sẽ lưu ý đến trường hợp ủy thác đến lần thứ
2 mà không có kết quả, cũng như qui định cụ thể các bước, các biện pháp xử
lý đối với từng giai đoạn trong quá trình ủy thác tư pháp, từ thụ lý, thu thập
tài liệu, chứng cứ, hòa giải đến việc đưa án dân sự đó ra trước một Hội đồng
xét xử… và những vấn đề khác liên quan như thủ tục tống đại, kháng cáo,
kháng nghị mà không có kết quả ủy thác tư pháp…