oOo
1. Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật độc lập
Luật quốc tế hiện đại là tổng thể những nguyên tắc, những qui phạm pháp luật quốc
tế do các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện &
bình đẳng, thông qua đấu tranh & thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt
(chủ yếu là quan hệ chính trò) giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau (trước tiên & chủ yếu
giữa các quốc gia) trong những trường hợp cần thiết pháp luật quốc tế được bảo đảm thi
hành bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể pháp luật
quốc tế thi hành hoặc bằng sức đấu tranh của nhân dân cùng dư luận tiến bộ thế giới. Hệ
thống là bao gồm tổng thể cơ quan, bộ phận mà nó bổ sung, hổ trợ trong một chỉnh thể
thống nhất.
Pháp luật quốc gia cũng được hiểu là một hệ thống, mỗi quốc gia có một hệ pháp luật
riêng & theo nghóa nầy luật quốc tế cũng được coi là một hệ thống pháp luật bao gồm
những hệ thống nguyên tắc, những qui phạm pháp luật quốc tế nhằm điều chỉnh các mối
quan hệ giữa các quốc gia với nhau
Luật quốc tế được coi là một hệ thống pháp luật độc lập bởi vì so với hệ thống pháp
luật của từng quốc gia, luật quốc tế có những đặc thù cơ bản mà các dấu hiệu của luật mỗi
quốc gia không có các dấu hiệu đặc thù đó( nói thêm về đặc điểm của luật quốc tế ở câu 2)
2. Khái niệm & đặc điểm cơ bản của luật quốc tế
Khái niệm: Luật quốc tế hiện đại hay còn gọi là công pháp quốc tế là tổng thể những
nguyên tắc, những qui phạm pháp luật quốc tế do các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp lí
quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện & bình đẳng, thông qua đấu tranh & thương lượng
nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trò) giữa các chủ thể
luật quốc tế với nhau (trước tiên & chủ yếu giữa các quốc gia) trong những trường hợp cần
thiết luật quốc tế được bảo đảm thi hành bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc
tập thể do chính các chủ thể luật quốc tế thi hành hoặc bằng sức đấu tranh của nhân dân
cùng dư luận tiến bộ Thế giới.
Đặc điểm: Từ khái niệm nêu trên, luật quốc tế có những đặc điểm cơ bản như sau:
Đối tượng điều chỉnh : nếu như luật trong nước điều chỉnh về quan hệ xã
hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia & quan hệ có iếu tố nước ngoài thì luật quốc
tế chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống uốc tế như quan hệ chính
• Tổ chức phi chính phủ được thành lập dưới sự thỏa thuận giữa các
thể nhân với pháp nhân thì không được coi là chủ thể của luật quốc tế, không được thừa
nhận của luật quốc tế (VD: Hội luật gia thế giới, Hội Liên hiệp phụ nữ thế giới…)
• Tư cách chủ thể của tòa thánh Vatican tòa thánh Vatican không phải
là một quốc gia, tư cách chủ thể của Vatican được đặt ra
Biện pháp bảo đảm thi hành luật quốc tế khi xây dựng các điều ước quốc
tế các bên thường thỏa thuận các biện pháp cưỡng chế để áp dụng cho các quốc gia vi
phạm. Đó là những quan hệ mà tự các chủ thể thỏa thuận xây dựng các biện pháp nhất
đònh vì lợi ích của chính họ. Các chủ thể bò hại được quyền sử dụng một số biện pháp nhất
đònh cho quốc gia gây hại. Biện pháp cưỡng chế được thể hiện dưới hai hình thức:
Cưỡng chế cá thể : trên bình diện quốc tế không có cơ quan cưỡng
chế tập trung thường trực, những biện pháp do chính chủ thể của luật quốc tế thực hiện
dưới hình thức cá thể, riêng lẻ tức là chủ thể bò hại được quyền sử dụng những biện pháp
cưỡng chế trả đũa hay biện pháp tự vệ đối với chủ thể gây hại cho mình (rút đại sứ về
nước, cắt đứt quan hệ ngoại giao, bao vây kinh tế, giáng trả…)
Biện pháp cưỡng chế tập thể tức là quốc gia bò hại có quyền liên
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 2 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
minh các quốc gia trên cơ sở các cam kết phù hợp để chống lại quốc gia gây hại cho mình.
LHQ giao cho HĐBA LHQ có nhiệm vụ giữ gìn hòa bình & an ninh của các quốc gia
trong khuôn khổ tuân thủ hiến chương LHQ, có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng
chế & trừng phạt kể cả dùng vũ lực chống lại các quốc gia vi phạm.
Ngoài ra vấn đề dư luận tiến bộ trên thế giới & sự đấu tranh của nhân dân các nước
cũng là biện pháp để cho pháp luật quốc tế phải tuân theo.
3. So sánh điều ươcù quốc tế & tập quán quốc tế
Điều ước quốc tế : được coi là văn bản pháp lí quốc tế do các chủ thể của
luật quốc tế thỏa thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện & bình đẳng nhằm ổn đònh thay đổi
hay chấm dứt quyền & nghóa vụ pháp lí đối với nhau trong bang giao quốc tế phù hợp với
những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Tập quán quốc tế: là qui tắc xử sự chung được hình thành trong quan hệ
quốc tế do một hoặc một số quốc gia đưa ra & áp dụng lâu dài trong thực tiễn (được áp
tế thi hành hoặc bằng sức đấu tranh của nhân dân cùng dư luận tiến bộ Thế giới.
Về đối tượng điều chỉnh pháp luật quốc gia điều chỉnh những quan hệ xã
hội phát sinh trong nội bộ phạm vi lãnh thổ , còn pháp luật quốc tế điều chỉnh những quan
hệ xã hội phát sinh trong đời sống sinh họat quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế.
Về chủ thể chủ thể luật quốc gia là thể nhân, pháp nhân & nhà nước tham
gia với tư cách là chủ thể đặc biệt khi nhà nước là một bên trong quan hệ, còn chủ thể của
pháp luật quốc tế là các quốc gia có chủ quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập,
các tổ chức liên chính phủ & các chủ thể khác.
Về trình tự xây dựng Pháp Luật: việc xây dựng pháp luật & trình tự xây
đựng pháp luật của pháp luật quốc gia do cơ quan lập pháp thực hiện còn xây dựng & trình
tự xây dựng pháp luật quốc tế do không có cơ quan lập pháp nên khi xây dựng các qui
phạm thành văn bất thành văn chủ iếu do sự thỏa thuận giữa các chủ thể có chủ quyền
quốc gia của luật quốc tế.
Về biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật quốc gia có bộ máy cưỡng chế
tập trung thường trực như quân đội, cảnh sát,tòa án nhà tù…làm biện pháp bảo đảm thi
hành, còn pháp luật quốc tế thì không có bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực mà chỉ có
một số biện pháp cưỡng chế nhất đònh mang tính tự cưỡng chế dưới hình thức riêng rẽ hoặc
tập thể
Về phương pháp điều chỉnh các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc
gia có phương pháp điều chỉnh khác nhau còn các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc
tế thì chỉ có một phương pháp điều chỉnh là sự thỏa thuận.
5. Phân tích bản chất của luật quốc tế hiện đại trên cơ sở so sánh với LQT củ .
Luật quốc tế hiện đại là tổng thểnhững nguyên tắc, những qui phạm pháp luật quốc tế
do các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện &
bình đẳng, thông qua đấu tranh & thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt
(chủ yếu là quan hệ chính trò) giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau (trước tiên & chủ yếu
giữa các quốc gia) trong những trường hợp cần thiết luật quốc tế được bảo đảm thi hành
bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thểà do các chủ thể luật quốc tế thi hành
hoặc bằng sức đấu tranh của nhân dân cùng dư luận tiến bộ Thế giới.
Như ta biết, nếu như luật quốc gia đều có liên quan chặt chẽ đến hạ tầng kỷ thuật nhất
hình thức tổ chức nhà nước, mặc dù hình thức tổ chức của nhà nước rất đa dạng, tuy nhiên ở
mọi giai đọan phát triển của lich sử nhà nước & pháp luật quốc gia được thừa nhận là chủ
thể cơ bản của luật quốc tế
Cho đến nay dù chưa có một đònh nghóa thống nhất về quốc gia, tuy nhiên theo luật
quốc tế hiện đòa thì để coi quốc gia là một thực thể của luật quốc tế, quốc gia phải có các
tiêu chí sau:
- Có lãnh thổ xác đònh - Có dân cư ổn đònh - Có chính phủ có chủ quyền- Có khả năng
thiết lập & thực hiện các quan hệ đối ngoại.
Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng
nước, vùng trời, dưới lòng đất, lãnh thổ của quốc gia phải được xác đònh rõ ràng bởi đường
biên giới trên đất liền với các quốc gia lân cận hay vùng không thuộc quốc gia nào, quốc
gia đó phải được xác đònh trên bản đồ đòa lí hành chánh thế giới với vò trí & đòa danh rõ
ràng, tuy nhiên giữa các quốc gia có thể có các vùng lãnh thổ tranh chấp, nhưng để đảm
bảo yếu tố lãnh thổ xác đònh thì quốc gia đó phải có vùng lãnh thổ hòan tòan được xác đònh
rõ ràng thuộc chủ quyền của mình.
Một quốc gia không thể tách rời yếu tố con người nghóa là có dân cư ổn
đònh trên lãnh thổ đó, đa phần dân cư phải là công dân nước sở tại, sinh sống ổn đònh lâu
dài là những người có đòa vò pháp lí có quyền & nghóa vụ đối với quốc gia, quốc gia cũng
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 5 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
thực hiện quyền & nghóa vụ của mình đối với công dân của mình, có lich sử truyền thống
văn hóa gắn bó lâu dài với quốc gia sở tại.
Chiùnh phủ là yếu tố cần phải có để điều hành xã hội, có chủ quyền được
nhân dân tín nhiệm có đầy đủ chủ quyền & quyền lực trong việc thực hiện các quan hệ đối
nội , đối ngoại, nghóa là có thực quyền điều hành quốc gia trong lập pháp, hành pháp & tư
pháp quyết đònh vận mệnh chính trò của dân tộc, tự do lựa chọn hình thức, thể chế chính trò,
kinh tế, văn hóa – xã hội cho đất nước mình, chính phủ đó phải nắm được quyền lực đối
ngoại nghóa là nắm quyền đại diện quốc gia tham gia vào các quan hệ quốc tế.
Quốc gia phải có khả năng thiết lập & thực hiện các quan hệ đối ngoại
trong cả mặt thể hiện vai trò một chủ thể luật quốc tế, có khả năng về chính trò, kinh tế,
văn hóa – xã hội để có thể thực hiện quyền quyết đònh mọi vấn đề của quốc gia mà các
đường biên giới trên đất liền với các quốc gia lân cận hay vùng không thuộc quốc gia nào,
quốc gia đó phải được xác đònh trên bản đồ đòa lí hành chánh thế giới với vò trí & đòa danh
rõ ràng, tuy nhiên giữa các quốc gia có thể có các vùng lãnh thổ tranh chấp, nhưng để đảm
bảo yếu tố lãnh thổ xác đònh thì quốc gia đó phải có vùng lãnh thổ hòan tòan được xác đònh
rõ ràng thuộc chủ quyền của mình.
• Dân cư : một quốc gia không thể tách rời yếu tố con người nghóa là có dân
cư ổn đònh trên lãnh thổ đó, đa phần dân cư phải là công dân nước sở tại, sinh sống ổn đònh
lâu dài là những người có đòa vò pháp lí có quyền & nghóa vụ đối với quốc gia, quốc gia
cũng thực hiện quyền & nghóa vụ của mình đối với công dân của mình, có lich sử truyền
thống văn hóa, nguồn gốc gắn liền với lãnh thổ mà họ đang sinh sống ,gắn bó lâu dài với
quốc gia sở tại.
• Chiùnh phủ : là yếu tố cần phải có để điều hành xã hội, có chủ quyền được
nhân dân tín nhiệm có đầy đủ chủ quyền & quyền lực trong việc thực hiện các quan hệ đối
nội , đối ngoại, nghóa là có thực quyền điều hành quốc gia trong lập pháp, hành pháp & tư
pháp quyết đònh vận mệnh chính trò của dân tộc, tự do lựa chọn hình thức, thể chế chính trò,
kinh tế, văn hóa – xã hội cho đất nước mình, chính phủ đó phải nắm được quyền lực đối
ngoại nghóa là nắm quyền đại diện quốc gia tham gia vào các quan hệ quốc tế, có khả năng
thiết lập quan hệ pháp luật quốc tế
Khi một quốc gia đáp ứng được các điều kiện về lãnh thổ,dân cư ổn đònh, quốc gia
có chủ quyền, chính phủ có khả năng quan hệ pháp luật quốc tế thì kể từ thời điểm đó quốc
gia trở thành chủ thể đương nhiên, chủ thể mới của luật quốc tế mà không phụ thuộc bất kỳ
sự công nhận nào.
8.Vì sao tổ chức liên chính phủ là chủ thể phái sinh, thứ sinh không có chủ quyền
Chủ thể của luật quốc tế hiện đại là một thực thể đang tham gia quan hệ pháp lí luật
quốc tế một cách độâc lập có đầy đủ quyền & nghóa vụ pháp luật quốc tế đồng thời phải
gánh chòu trách nhiệm pháp lí quốc tế một cách độc lập do chính hành vi vi phạm pháp luật
quốc tế gây ra trên cơ sở các qui phạm pháp luật quốc tế.
Luật quốc tế công nhận quốc gia là chủ thể chủ yếu của luật quốc tế, bên cạnh đó còn
các tổ chức liên chính phủ, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập & tư cách chủ thể
Vatican cũng được xem là chủ thể luật quốc tế, trong đó tổ chức liên chính phủ là chủ thể
lực hành vi, tuy nhiên quyền năng chủ thể được gọi là thuộc tính tự nhiên vốn có của quốc
gia, bởi vì sự tồn tại của nó khẳng đònh tư cách chủ thể, không cần bất kì một sự cộng nhận
nào.
Quyền năng chủ thể của tổ chức liên chính phủ nó không dựa vào thuộc tính “ tự
nhiên “ vốn có như quốc gia mà quyền năng này được ghi nhận ngay chính trong hiến
chương, điều lệ thành lập nên tổ chức do các quốc gia thỏa thuận thành lập.
9.Tại sao thể nhân, pháp nhân không là chủ thể của luật quốc tế hiện đại
Theo các nhà làm luật quốc tế thì chủ thể luật quốc tế hiện đại là các quốc gia có chủ
quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ & Vatican.
Ngoài 4 chủ thể trên luật quốc tế hiện đại không có chủ thể nào khác. Vì vậy thể nhân,
pháp nhân không được xem là chủ thể luật quốc tế hiện đại .
Nói thể nhân, pháp nhân không được xem là chủ thể luật quốc tế hiện đại vì
những lý do sau:
Các tổ chức liên chính phủ xuất hiện & tồn tại do các quốc gia thành lập
nên, không tự nhiên mà có, mà do thỏa thuận của các quốc gia có chủ quyền với nhau. Các
quốc gia thỏa thuận thành lập cũng như thỏa thuận, quyền & nghóa vụ của các tổ chức liên
chính phủ phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản luật quốc tế hiện đại. Tư cách chủ
thể của tổ chức liên chính phủ có từ thời điểm khi các văn bản hiến chương, điều lệ phát
sinh hiệu lực.
Quyền năng chủ thể có giới hạn được gọi là chủ thể hạn chế, vì vậy các tổ
chức quốc tế khác nhau sẽ có quyền năng chủ thể luật quốc tế không giống nhau
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 8 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
Là chủ thể không có chủ quyền của luật quốc tế bởi vì tổ chức quốc tế liên
chính phủ không phải là chủ thể có chủ quyền của luật quốc tế, vì chủ quyền quốc gia là
chủ quyền độc lập trong luật quốc tế mà tổ chức liên chính phủ không thể có được chủ
quyền đó.
Trong quan hệ pháp luật quốc tế là quan hệ bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
với nhau vì khi ngồi vào bàn đàm phán thỏa thuận ký kết điều ước quốc tế các quốc gia
đều là những con người cụ thể, đây là những người được quốc gia giao cho họ, ủy quyên
cho họ được xây dựng nên những qui phạm pháp luật quốc tế. Đây là những con người luôn
ngoài & chết ở nước ngoài)
Công nhận chính phủ mới này không phải là công nhận chủ thể mới của luật quốc tế
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 9 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
mà là công nhận người đại diện “ hợp pháp” cho một quốc gia trong bang giao quốc tế.
Sự công nhận chính phủ thực tế (CP Defacto) là hợp pháp phải dựa trên những tiêu chí
sau:
Chính phủ mới phải được đông đảo quần chúng nhdân tự nguyện, tự giác ủng hộ.
Chính phủ mới phải khả năng duy trì & thực hiện được quyền lực của mình trong
một thời gian dài ổn đònh, tự giải quyết được các công việc của đất nước
Chính phủ mới phải có khả năng kiểm soát được toàn bộ hoặc phần lớn lãnh thổ
của quốc gia đó một cách độc lập & tự quản lí được mọi công việc của quốc gia.
Căn cứ vào 3 điều kiện trên, tùy thuộc vào sự nhìn nhận của từng quốc gia để có sự
công nhận chính phủ thực tế đó là hợp pháp, điều này cũng có nghóa là sẽ có những quốc
gia công nhận thực tế đó là hợp pháp nhưng cũng có những quốc gia sẽ không công nhận
thực tế đó.
11.So sánh phê chuẩn, phê duyệt & gia nhập
• Phê chuẩn là sự đồng ý chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của các bên ký kết (thông thường là cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước đó) xác nhận
điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với mình. Thông thường những điều ước quốc tế liên
quan đến vấn đề chính trò, ANQP, biên giới lãnh thổ thì phải phê chuẩn.(VD: Ở VN vấn đề
này được qui đònh tại điều 10 Pháp lệnh về ký kết thực hiện điều ước quốc tế năm 1993)
• Phê duyệt là tuyên bố đơn phương ( hành vi pháp lí đơn phương)của cơ
quan có thẩm quyền trong nước công nhận một đều ước quốc có hiệu lực đối với quốc gia
mình.
• Gia nhập là tuyên bố đơn phương của cơ quan có thẩm quyền của quốc
gia, công nhận một điều ước quốc tế có hiệu lực đối với quốc gia mình, chính thức ràng
buộc quyền và nghóa vụ của mình đối với một điều ước quốc tế mà mình chưa phải là thành
viên của điều ước quốc tế đó.
Giống nhau:
Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập đều là hành vi đơn phương nhằm công nhận hiệu lực
Khác nhau:
Tuyên bố hủy bỏ điều ước phải được điều ước cho phép.
Tuyên bố bãi bỏ điều ước không cần được điều ước cho phép.
Có 5 cơ sở tuyên bố hủy bỏ điều ước:
Có sự vi phạm về thẩm quyền &ø thủ tục ký kết theo qui đònh của pháp luật
trong nước của các bên ký kết.
Điều ước quốc tế ký kết mà trong đó có một trong các bên chỉ hưởng quyền mà
không thực hiên nghóa vụ.
Khi xuất hiện điều khoản Rebutsic Stantibus tức là khi hoàn cảnh trong nước bò
thay đổi căn bản các bên không thể thực hiện được điều ước vì vậy có quyền tuyên bố hủy
bỏ điều ước.
Tuy nhiên trong điều khoản này không áp dụng đối với các Điều ước về: biên
giới lãnh thổ, điều ước mang tính trung lập nhân đạo. Điều ước mà các quốc gia cam kết,
nó sẽ không hết hiệu lực cả khi xảy ra chiến tranh.
Nội dung của điều ước trái với nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
Khi các bên thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế trường hợp này thường
áp dụng cho điều ước vô thời hạn.
Ví dụ: Điều ước thành lập hiệp ứơc Vacsava, điều ước này qui đònh 20 năm nhưng
thực hiện được 15 năm thì ngồi lại thỏa thuận với nhau chấm dứt Điều ước quốc tế này.
13. Phân biệt tuyên bố bảo lưu & tuyên bố giải thích
• Bảo lưu điều ước quốc tế là tuyên bố đơn phương của một quốc gia đưa
ra ký phê duyệt, phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước nhiều bên nhằm loại trừ hoặc thay đổi
hệ quả pháp lý của một hoặc một số qui đònh của điều ước.
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 11 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
• Giải thích điều ước quốc tế là việc làm sáng tỏ nội dung của điều ước
nhằm mục đích thực hiện điều ước một cách kòp thời và chính xác tránh sự hiểu lầm và
ngây mâu thuẩn giữa các bên.
Giống nhau: đều là tuyên bố đơn phương của quốc gia đưa ra
nhằm công nhận hiệu lực điều ước quốc tế đối với quốc gia mình
Khác nhau:
được quyền bảo lưu.
Đối với những điều ước đa phương mà có điều khoản qui đònh hoặc các
bên thỏa thuận miệng với nhau rằng không cho phép bảo lưu thì quyền bảo lưu không được
thực hiện. Đối với những điều ước nhiều bên trong đó chỉ qui đònh cho phép bảo lưu một
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 12 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
hoặc một vài điều khoản cụ thể nhất đònh nào đó thì quyền bảo lưu không được thực hiện
đối với những điều khoản còn lại. Đối với những điều ước cho phép tự do lựa chọn một
hoặc một số những điều khoản nào đó để bảo lưu thì quyền bảo lưu cũng không được thực
hiện đối với những điều khoản không phù hợp với mục đích và đối tượng của điều ước.
Khộng phải là quyền ưu tiên vì không thể có sự ưu tiên một điều khoản của một điều
ước quốc tế đối với một quốc gia nào khác.
Quyền bảo lưu diễn ra trong bất kỳ giai đọan nào của quá trình ký kết điều ước, tuy
nhiên nếu điều ước qui đònh điều ước này chỉ phát sinh hiệu lực sau khi phê chuẩn nhưng
quốc gia lại tuyên bố bảo lưu từ những giai đoạn đầu của quá trình ký kết điều ước quốc tế
thì khi phê chuẩn quốc gia đó nhắc lại điều khoản bảo lưu mới có gía trò pháp lý.
Quốc gia có quyền bảo lưu thì cũng có quyền rút bảo lưu hay hủy bỏ bảo lưu trong bất
kỳ thời điểm nào xét thấy cần thiết.
Bảo lưu có giá trò một năm kể từ khi đưa ra tuyên bố bảo lưu mà không có quốc gia
nào phản đối.
Thực tiễn bảo lưu của VN:
VN bảo lưu những điều khoản điều ước qui đònh phải đưa những tranh chấp bất đồng
về việc giải thích hoặc áp dụng điều ước ra trước trụ sở quốc tế để giải quyết hoặc thông
qua một thủ tục giải quyết bắt buộc khác bất kể các bên tranh chấp có đồng ý hay không.
VN ta bảo lưu những điều khỏan của diều ước quốc tế không phù hợp với những quan
điểm mang tính chất chỉ đạo của nhà nước ta
Ví dụ: Nguyên tắc mang tính chất của VN là bình đẳng nam nữ mà công ước về người
phụ nữ khi lấy chồng nước ngoài mặc nhiên mất đi quốc tòch của mình điều này đi ngược
lại với nguyên tắc nam nữ bình đẳng cho nên VN đã bảo lưu công ước trên.
VN bảo lưu những điều khoản hạn chế sự tham gia của một số quốc gia & phong trào
giải phóng dân tộc
gia đối với lãnh thổ
Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời &
vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn riêng biệt hoặc tuyệt đối của một quốc gia, lãnh
thổ quốc gia là toàn vẹn & bất khả xâm phạm.
Lãnh thổ quốc gia và vấn đề điều chỉnh của luật quốc gia được thể hiện trong các bộ
luật đấât đai, luật biên giới, hiến pháp điều chỉnh lãnh thổ được qui đònh trong luật về phân
cấp quản lí.
Xuất phát từ quyền lợi các quốc gia bò ảnh hưởng trực tiếp đến quyền & lợi ích của
các quốc gia khác ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia về lãnh thổ
Ảnh hưởng gián tiếp đến quyền & lợi ích đến các quốc gia khác
Nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh xung đột tranh chấp với các quốc gia
khác.
Trong hệ thống các qui phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh lãnh thổ về : Phương pháp
hoạch đònh biên giới lãnh thổ quốc gia. Qui chế pháp lí lãnh thổ,của biên giới quốc gia xác
đònh rõ vùng lãnh thổ nào thuộc chủ quyền quốc gia, vùng lãnh thổ nào thuộc cộng đồng.
Những nội dung liên quan đến giải quyết tranh chấp về lãnh thổ, biên giới.
Phân tích quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ
Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn đối với lãnh thổ của mình, chủ quyền đó gọi là
quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ. Đây chính là quyền tối cao của quốc gia thực
hiện trên phạm vi lãnh thổ của mình. Quyền tối cao này là thuộc tính không thể tách rời
của quốc gia tức là chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ xuất hiện kể từ khi quốc gia
được hình thành trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Quyền này
được thể hiện như sau:
Kể từ thời điểm quốc gia mới ra đời thì chủ quyền của lãnh thổ được xác lập chỉ khi
quốc gia không còn tồn tại thì chủ quyền quốc gia mới mất đi.
Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ biểu hiện ở quyền thiêng liêng và bất khả
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 14 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
xâm phạm của quốc gia trên hai phương diện: quyền lực và vật chất, hai phương diện này
có mối quan hệ mật thiết & biện chứng với nhau .
Về phương diện quyền lực được thể hiện: quyền lực của quốc gia được thực hiện trên
chiếm một bộ phận của lãnh thổ quốc gia.
Nội dung của nguyên tắc này:
Nghiêm cấm xâm chiếm lãnh thổ bằng cách đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.Mỗi quốc gia
có quyền hoàn toàn tự do chọn lựa cho mình một chế độ chính trò, kinh tế, văn hoá, xã hội
phù hợp với nguyện vọng của cộng đồng sống trên đó mà không có sự can thiệp từ bên
ngoài dưới bất kì hình thức nào.
Biên giới quốc gia là ổn đònh & bất khả xâm phạm, đường biên giới của quốc gia được
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 15 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
vạch ra một cách hợp pháp & được thừa nhận trên thực tế, không bò thay đổi hoặc vi phạm
dưới bất kì hình thức nào, cấm dùng lực lượng quân sự xâm nhập lãnh thổ, gây rối biên
giới, di dời cột mốc biên giới.
Không được sử dụng lãnh thổ quốc gia khi chưa có sự đồng ý của quốc gia chủ nhà,
bất kì một hành vi nào sử dụng một phần hay toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia khác mà
không có sự đồng ý của quốc gia chủ nhà đều là bất hợp pháp.
Không được sử dụng lãnh thổ của mình hoặc cho quốc gia khác sử dụng nhằm gây
thiệt hại cho quốc gia thứ ba.
Quốc gia tự qui đònh chế độ pháp lý đối với từng vùng lãnh thổ quốc gia. Quốc gia có
quyền sở hữu hoàn toàn đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên trong vùng lãnh thổ quốc
gia . Quốc gia thực hiện quyền tài phán đối với công dân, tổ chức kể cả cá nhân, tổ chức
nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình. Quốc gia có quyền áp dụng các biện
pháp cưỡng chế, điều chỉnh, kiểm soát họat động của các pháp nhân & người nước ngoài
kể cả trường hợp quốc hữu hóa, tòch thu, trưng thu tài sản cá nhân của tổ chức, cá nhân
nước ngoài có bồi thường hoặc không bồi thường.
Quốc gia có nghóa vụ bảo vệ & cải tạo môi trường quốc gia theo những nguyên tắc
chung của pháp luật quốc tế. Quốc gia có quyền sử dụng hay thay đổi lãnh thổà phù hợp với
lợi ích cộng đồng dân cư sống trên phần lãnh thổ đó.
18. So sánh biên giới quốc gia trên bộ & biên giới quốc gia trên biển
• Biên giới quốc gia trên bộ là đường biên giới được vạch ra trên đất liền, đảo,
sông, hồ… cơ sở pháp lí đường biên giới trên bộ luôn kí kết dựa trên điều ước quốc tế.
• Biên giới quốc gia trên biển: là ranh giới giữa vùng biển thuộc chủ quyền hoàn
đònh chính xác giới hạn lãnh thổ quốc gia của quốc gia đó đối với vùng biển tiếp liền của
đại dương không phải là lãnh thổ của quốc gia, quốc gia ven biển phải công bố chính thức
đường cơ sở, chiều rộng lãnh hải, đồng thời phải công khai, chính thức đường biên giới trên
biển của quốc gia trên hải đồ tỷ lệ lớn.
Thủ tục
• Trên bộ: bắt buộc trong mọi trường hợp đều phải thông qua điều ước song
phương giữa hai nước hữu quan.
• Trên biển: Việc xác đònh ranh giới phía ngoài lãnh hải thông qua điều ước
song phương.
Tính chất chủ quyền:
• Trên bộ: hoàn toàn mang tính chất tuyệt đối.
• Trên biển: đường biên giới chưa hoàn chỉnh mang tính chất không được
tuyệt đối vì các tàu thuyền qua lại vô hại mà không cần xin phép.
19. Khái niệm & chế độ pháp lí vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng nằm phía ngoài lãnh hải tiếp giáp với lãnh hải, tính từ
đường cơ sở cho biết chiều rộng pháp lí của vùng đặc quyền kinh tế không quá 200 hải lí
kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ( điều 55, 57). Chế độ pháp lí vùng
đặc quyền kinh tế là vùng được khai thác chứ không được quản lí
Quyền của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế: Quyền chủ quyền & thực
hiện tài phán của quốc gia : quyền chủ quyền các quốc gia sẽ được thực hiện các quyền
của họ đối với tất cả tài nguyên thiên nhiên nằm trong vùng đặc quyền kinh tế tiến hành
về việc thăm dò & khai thác, bảo tồn & quản lí các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc
không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển & lòng đất dưới đáy biển
cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò & khai thác vùng nầy nhằm mục đích
kinh tế như việc sản xuất năng lượng trữ nước hải lưu & gió ( điều 56 công ước về luật
biểïn) Quốc gia ven biển có quyền tài phán sẽ hưởng quyền tài phán lắp đặt & sử dụng các
công trình thiết bò nhân tạo, tài phán về lónh vực nghiên cứu khoa học, tài phán về việc bảo
vệ & giữ gìn môi trường biển có nghóa là đặt ra các qui cách các đảo nhân tạo, công trình
nhân tạo
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 17 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
Quyền tài phán quốc gia ven biển đối với tàu thường nước ngoài
Quyền tài phán ở chiều hướng hành trình của tàu, hành trình của tàu đi qua lãnh hải một
cách binh thường
Quyền tài phán về hình sự : hướng của tàu từ nội thủy đi ra lãnh hải mà vi phạm pháp
luật thì quốc gia ven biển có quyền áp dụng tài phán đối với hành vi vi phạm hình sự
Hướng đi của tàu qua lãnh hải một cách đơn thuần về nguyên tắc quốc gia không được
thực hiện quyền tài phán hình sự trên con tàu nước ngoài để tiến hành việc bắt giữ hay điều
tra sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trừ trường hợp sau : nếu hậu quả của vụ vi
phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển, được quyền tài phán hình sự nếu vụ vi phạm đó có
tính chất phá hoại hòa bình hoặc an ninh trật tự trong lãnh hải nước ven biển. Nếu thuyền
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 18 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
trưởng hay viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự mà tàu mang quốc tòch có yêu cầu. Nếu
các biện pháp này là cần thiết để trấn áp các hành vi buôn lậu ma túy& các chất kích thích
khác.
Hướng mà tàu đi từ ngoài đi vào lãnh hải mà không vào nội thủy: về nguyên tắc quốc
gia ven biển không được áp dụng các biện pháp kiểm tra bắt giữ nào trên con tàu đối với
những vi phạm hình sự xảy ra ở trên tàu trước khi tàu vào lảnh hải của quốc gia ven biển.
Quyền tài phán trên lónh vực dân sự : quốc gia có quyền thực hiện quyền tài phán của
mình đối với tàu nước ngoài đang neo đậu lãnh hải hoặc đang đi qua lãnh hải sau khi rời nội
thủy.
Chỉ đi qua lãnh hải một cách đơn thuần thì quốc gia ven biển không được giữ lại hoặc
bắt tàu thay đổi hành triønh chỉ nhằm mục đích xét xử dân sự đối người trên tàu ( trừ trường
hợp khi con tàu vi phạm nghóa vụ đã cam kết đối với quốc gia ven biển)
Quyền tài phán về hành chánh: trên lãnh hải trong công ước 1982 không có qui đònh
nào về xử phạt hành chánh, nhưng trong lãnh hải nếu tàu dân sự vi phạm hành chánh thì
quốc gia ven biển có quyền áp dụng quyền tài phán đối với tàu dân sự vi phạm.
21.Khái niệm & cách xác đònh thềm lục đòa
Tại điều 76 công ước quốc tế về luật biển 1982 thì thềm lục đòa bao gồm đáy biển &
lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của thềm
lục đòa hoặc cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải 200 hải lí , khi bờ ngoài
lãnh hải là một bộ phận đặc thù của vùng đặc quyền kinh tế.Vùng tiếp giáp lãnh hải khác về
bản chất so với vùng lãnh hải, đây là vùng biển mà quốc gia ven biển được hưởng các quyền
mang tính chất chủ quyền trên những lónh vực nhất đònh mang tính chất cảnh giác.
Các quyền thuộc chủ quyền quốc gia ở vùng biển này bao gồm ngăn ngừa những vi
phạm đối với các luật & qui đònh về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc
trong lãnh hải của mình , trừng trò những vi phạm đối với các luật & qui đònh nói trên xảy ra
trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình.
Chế độ pháp lí tại khỏan 3 điều 23 qui đònh
Quốc gia ven biển có thẩm quyền đối với các hiện vật có tính lòch sử & khảo cổ nằm
trên đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải. Quyền kiểm tra giám sát các họat động liên quan
đến các lónh vực hải quan, thuế quan, y tế & nhập cư. Quốc gia ven biển được quyền xử lí
trừng trò các vi phạm về 4 qui đònh về hải quan thuế quan, y tế, nhập cư.
23. Quyền ưu đãi miễn trừ của cơ quan đại diện ngoại giao
Cơ quan đại diện ngoại giao là cơ quan của nhà nước có trụ sở đóng trên lãnh thổ nước
sở tại để thực hiện quan hệ ngoại giao đối với quốc gia đó hoặc với quốc gia khác nếu các
quốc gia có liên quan đồng ý.
Quyền ưu đãi miễn trừ là việc mà quốc gia nước sở tại tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất,
tốt nhất dành cho các cơ quan & thành viên cơ quan ngoại giao cũng như gia đình ho,ï để họ
thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ ngoại giao trên cơ sở phù hợp hiến pháp quốc tế.
Quyền ưu đãi dành cho cơ quan đại diện ngoại giao ( điều 20 - điều 28)
Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở những tòa nhà dành cho cơ quan đại
diện ngoại giao, những bộ phận nhà cửa & đất đai thuộc tòa nhà đó bất kể chủ là ai được
dùng vào công việc của đoàn kể cả nhà ở của đoàn ( điều 1 công ước Viên 1961)
Chính quyền sở tại không được phép vào khi không được sự đồng ý của
người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao,cá nhân & các cấp có thẩm quyền của nước sở
tại không được xâm nhập cơ quan đại diện ngoại giao trong mọi trường hợp, dưới bất kì hình
thức nào, xuất phát từ việc đảm bảo bí mật nhà nước của cơ quan đại diện ngoại giao.
Nước nhận đại diện có nghóa vụ bảo vệ , thi hành kòp thời các biện pháp
ngăn chặn sự xâm chiếm hoặc làm hư hại an ninh , danh dự cơ quan đại diện không bò xâm
phạm ( điều 22 công ứơc Viên 1961). Mặc dù vậy nước cử đại diện không lợi dụng quyền
chức ( điêù 37)
Quyền ưu đãi miễn trừ dành cho nhân viên kỷ thuật & nghiệp vụ, phục vu
• Nhân viên hành chánh- kỉ thuật & các thành viên gia đình họ nếu không
phải là công dân nước sở tại hoặc không thường trú tại nước nầy được hưởng các quyền ưu
đãi tương đương với viên chức đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nơi ở, quyền
miễn trừ xét xử về hình sự.
• Quyền được miễn thuế & lệ phí đối với thu nhập cá nhân, ngược lại nếu
là công dân của nước sở tại có nơi thường trú nước sở tại thì quyền miễn trừ về hải quan hẹp
hơn, chỉ được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự & xử phạt vi phạm hành chánh trong
khi thi hành công vụ ( điều 37)
• Nhân viên phục vụ nếu không phải là công dân nước sở tại không thường
trú tại nước sở tại sẽ được miễn các thuế đánh vào tiền công thu nhập, còn về tất cả các mặt
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 21 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
khác được quyền ưu đãi & miễn trừ trong chừng mực được nước đại diện cho phép.
Tuy nhiên nước nhận đại diện phải thi hành quyền tài phán của nước mình đối với
những người này để không làm cản trở việc thi hành thực hiện chức năng của đòan ngoại
giao.
25. Quyền ưu đãi miễn trừ của cơ quan lãnh sự
Trụ sở cơ quan lãnh sự là bất khả xâm phạm chính quyền nước tiếp nhận không được
phép vào trụ sở của cơ quan lãnh sự nếu không có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan
lãnh sự trừ trường hợp hỏa hoạn hoặc tai họa xảy ra cần bảo vệ khẩn cấp ( điều 31 công ước
Viên 1963)
Nước tiếp nhận có nghóa vụ áp dụng mọi biện pháp thích hợp để bảo vệ trụ sở cơ quan
lãnh sự trước mọi sự tấn công, xâm chiếm hoặc gây thiệt hại ngăn ngừa mọi sự phá rối trật
tự hoặc làm tổn hại đến danh dự cơ quan lãnh sự.
Trụ sở đồ đạc, tài sản & phương tiện đi lại của cơ quan lãnh sự không bò trưng dụng vì lí
do an ninh quốc phòng hoặc lợi ích công cộng, trường hợp cần trưng dụng vì lí do trên, nước
tiếp nhận phải áp dụng mọi biện pháp, cách xử lí không làm cản trở đến việc thi hành chức
năng lãnh sự & phải bồi thường nhanh chóng & thỏa đáng.
Hồ sơ lưu trữ, tài liệu thư tín lãnh sự là bất khả xâm phạm, vali lãnh sự không được mở
• Về chức năng : cơ quan ngoại giao mang tính vó mô, còn cơ quan lãnh sự
mang tính vi mô (cụ thể trong việc cấp visa, giấy tơ øđi đường, tài liệu văn bản, công chứng,
chứng thực giấy tờ…)
• Về quan hệ : Quan hệ lãnh sự là loại quan hệ đặc thù gắn bó mật thiết với
quan hệ ngoại giao nhưng lại mang tính độc lập tách khỏi quan hệ ngoại giao, được đại diện
tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền & lợi ích hợp pháp của công dân nước mình tại nước sở
tại.
• Quan hệ ngoại giao là quan hệ mang tính đại diện & chính trò, còn quan hệ
lãnh sự là quan hệ hành chánh – pháp lí quốc tế được thiết lập trong quan hệ đối ngoại để
bảo vệ các quyền & lợi ích hợp pháp của tổ chức & công dân nước mình tại nước nhận lãnh
sự, nếu không có thỏa thuận khác thì bao gồm cả quan hệ lãnh sự.
• Khi cắt đứt quan hệ ngoại giao thì quan hệ ngoại giao đương nhiên chấm dứt ,
không làm ảnh hưởng đến quan hệ lãnh sự đương nhiên không bò cắt đứt.
• Về số lượng: thì một quốc gia cóthể đặt một hoặc nhiều cơ quan lãnh sự của
mình tại nước khác,còn cơ quan ngoại giao chỉ có một cơ quan đại diện đặt tại thủ đô.
• Về phạm vi quan hệ : Phạm vi quan hệ đối với nước sở tại thì cơ quan ngoại
giao có quan hệ trên phạm vi tòan lãnh thổ nước sở tại. Còn phạm vi quan hệ đối với cơ quan
lãnh sự thì quan hệ trong phạm vi cơ quan đại diện của mình.
27. Trong điều 1 Hiến pháp 92 của nước CH XHCN VN có ghi rõ:“nước CH
XHCN VN là một nước độc lập có chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao
gồm đất liền, các hải đảo vùng biển và vùng trời”. Bằng lý luận đã học anh chò hãy
chứng minh nội dung trên.
Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời
phía trên, vùng đất phía dưới thuộc chủ quyền hoàn toàn & đầy đủ của một quốc gia điều
này có nghóa là lãnh thổ quốc gia được cấu thành 4 bộ phận:
Vùng đất: là bộ phận quan trọng không một quốc gia nào không có &ø chiếm phần lớn
tổng diện tích lãnh thổ so với các bộ phận khác.
Vùng đất này bao gồm: toàn bộ đất lục đòa, các đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Các
vùng đất đương nhiên thuộc chủ quyền hoàn toàn tuyệt đối của mỗi quốc gia mà không có
sự can thiệp nào.
chưa có quốc gia nào qui đònh độ cao của vùng trời.
Bên trên vùng trời được coi là khoảng trung vũ trụ là sân chơi chung của cộng đồng.
Vùng lòng đất: là toàn bộ vùng nằm dưới vùng đất và vùng nước của quốc gia.
Tính chất chủ quyền của quốc gia đối với vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn tuyệt
đối và riêng biệt vì vậy quốc gia có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất
của quốc gia.
Vùng lòng đất được thừa nhận mặc nhiên vì không có điều ước quốc tế nào qui đònh.
Biên giới vùng lòng đất được tính tới tận tâm trái đất.
Căn cứ vào lãnh thổ của mình nước CH XHCN VN đã thực hiện quyền tối cao của
quốc gia đối với lãnh thổ của mình. Cụ thể Điều 1 HP 1992 nước CH XHCN VN đã khẳng
đònh:”Nước CH XHCN VN là một nước độc lập có chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo vùng biển và vùng trời”. Việc khẳng đònh quyền tối cao
của quốc gia đối với lãnh thổ của mình đã được nước ta dựa vào hai phương diện: quyền
TÀI LIỆU ÔN TẬP Trang 24 TRẦN HUY HOÀNG C4 – K6
lực & vật chất.
Về phương diện quyền lực được thể hiện:Quyền lực của nước CH XHCN VN được
thực hiện trên phạm vi lãnh thổ của chính Quốc gia mình. Quyền lực tối cao đối với lãnh
thổ là cao nhất loại trừ mọi quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào phạm vi lãnh thổ của mình.
Quyền lực này là quyến tối cao đối với tất cả mọi người, mọi tổ chức hoạt động trên phạm
vi lãnh thổ của Quốc gia.
Quyền lực tối cao của nước CH XHCN VN đối với lãnh thổ được thực hiện thông qua
hoạt động của hệ thống các cơ quan NN bao gồm: cơ quan lập pháp (QH), hành pháp
(Chính phủ ), tư pháp (Cơ quan tư pháp) bao trùm lên tất cả lónh vực trong đời sống xã hội
của Quốc gia.
Quyền lực này là quyền không chia sẻ với bất kỳ nước nào khác và là chủ quyền
thiêng liêng của nước CH XHCN VN.
Về phương diện vật chất: Theo quan niệm đúng đắn của nhiều quốc gia và được chấp
nhận một cách rộng rãi thì lãnh thổ quốc gia là một diện tích vùng đất, vùng nước, vùng
trời và vùng lòng đất mà trong đó một NN áp dụng để qui đònh hệ thống các qui tắc pháp lý
nhằm thực hiện chủ quyền của mình. Điều này có nghóa là lãnh thổ quốc gia đồng thời