Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH VI TỔ CHỨC
1. KN hành vi tổ chức là gì? Trình bày các chức năng và tầm quan trọng của môn hành vi tổ chức đối với
nhà quản trị? Xác định đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn này?
• Khái niệm hành vi tổ chức: là hành vi của con người trong tổ chức thông qua nghiên cứu một cách
hệ thống về hành vi và thái độ của con người trong mối tương tác giữa cá nhân, nhóm và tổ chức
• Vai trò của hành vi tổ chức: nâng cao hiệu quả quản lý, phát huy vai trò của con người trong tổ chức,
khai thác một cách tối ưu nguồn nhân lực, phát huy tính sáng tạo của con người .v.v… tạo nên được mối
quan hệ gắn bó giữa con người với tổ chức
• Chức năng của hành vi tổ chức : có 3 chức năng cơ bản là : giải thích, dự đoán và kiểm soát
- Chức năng giải thích
Chức năng Giải thích của Hành vi tổ chức giúp nhà quản lý tìm cách lý giải những hành vi của cá nhân,
nhóm và tổ chức. Theo quan điểm quản lý thì “Giải thích” có thể là chức năng ít quan trọng nhất trong số ba
chức năng của Hành vi tổ chức bởi vì nó diễn ra khi sự việc đã xảy ra.
- Chức năng dự đoán
Dự đoán là nhằm vào các sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai. Nó tìm cách xác định một hành động cho
trước sẽ dẫn đến những kết cục nào.
- Chức năng kiểm soát
Kiểm soát là tác động đến người khác để đạt được những mục tiêu nhất định. Chức năng kiểm soát của
Hành vi tổ chức là chức năng gây tranh cãi nhiều nhất. Có quan điểm cho rằng kiểm soát hành vi của người lao
động là vi phạm tự do cá nhân; kiểm soát người khác khi mà bản thân người đó không biết mình bị kiểm soát là
không “danh chính ngôn thuận” về mặt đạo đức. Đối lập với quan điểm này, đa số các nhà quản lý và các nhà
nghiên cứu hiện nay cho rằng kiểm soát hành vi trong khuôn khổ tổ chức là điều hết sức cần thiết. Không vi
phạm quyền tư do cá nhân mà ngược lại nó có tác dụng bảo vệ cá nhân và đảm bảo đạt được mục tiêu của tổ
chức.
Trong thực tế, các nhà quản lý ngày càng áp dụng các công nghệ, kỹ thuật hiện đại để kiểm soát người
lao động trong tổ chức của mình và các nhà quản lý đều nhận thức rằng kiểm soát là chức năng quan trọng của
Hành vi tổ chức nó đảm bảo tính hiệu quả trong công việc của tổ chức.
• Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hành vi của con người trong tổ chức
- Môn học giúp các nhà quản trị giải thích, dự đoán, kiểm soát hành vi một cách tốt hơn
- Nội dung môn học được thể hiện qua 3 cấp độ là : cá nhân, nhóm, tổ chức và dựa trên 5 biến số là :
ta sẽ chọn công việc nào ít bấp bênh hơn ”. Mặt trái của xu hướng trên là tạo ra sự chuyển dịch lao động trái
ngược so với yêu cầu phát triển kinh tế, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Nhân lực cho phát triển kinh tế là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội. Nhận ra vấn đề này, từ hơn 10 năm trước, TPHCM đã đưa ra chủ trương quy hoạch lại các
ngành nghề kinh tế theo hướng giảm dần các ngành nghề thâm dụng lao động, ưu tiên tập trung phát triển các
ngành nghề mũi nhọn sản xuất theo công nghệ hiện đại, sử dụng chủ yếu lao động có hàm lượng chất xám, trình độ
chuyên môn cao. Nhưng thực tế là từ đó đến nay, việc chuyển đổi này chưa mang lại hiệu quả. Trong khi đó, các
khu chế xuất, khu công nghiệp đang từng ngày được lấp đầy diện tích bằng các DN sản xuất, gia công theo công
nghệ thấp thì khu công nghệ cao của TP cũng vẫn chưa thực sự cao trong việc lựa chọn, thu hút nhà đầu tư.
Một khi bài toán quy hoạch ngành nghề kinh tế không giải quyết triệt để và có hiệu quả thì còn lâu mới điều
chỉnh được cơ cấu, cung – cầu lao động theo ngành nghề. Và do vậy, năm, mười năm sau hoặc xa hơn nữa, tình
trạng khan hiếm giả tạo, thừa – thiếu lao động vẫn cứ thế diễn ra và giải quyết nó chẳng khác nào kiến bò miệng
chén.
Sức hút giảm
Theo bà Đoàn Thị Thu Hà, Trưởng phòng Lao động - Tiền lương thuộc Hepza, sở dĩ nhiều doanh nghiệp
tuyển không ra người vì lượng lao động trở về quê khi mất việc, thiếu việc chưa trở lại thành phố. Doanh nghiệp
đang ra sức thu hút lao động, nhưng vẫn thiếu trầm trọng mặc dù đã hạ chuẩn đầu vào. Một số công ty gặp khó
khăn cả trong việc tuyển dụng lao động phổ thông như Công ty Nissei, Công ty Tân Hưng Vương, Công ty Nidec
Copal, Công ty Phúc Yên
Mức lương khởi điểm dành cho lao động phổ thông hiện nay tại nhiều khu công nghiệp - khu chế xuất
khoảng 1,2 triệu đồng/người/tháng, tính cả phụ cấp, thưởng, tăng ca có thể lên khoảng 2 triệu đồng/người/tháng.
Mức thu nhập trên so với mức sống tại thành phố rõ ràng chưa hấp dẫn với nhiều lao động ngoại tỉnh, khi các chi
phí sống ngày càng đắt đỏ.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn khó khăn, một lượng lớn lao động đã chuyển dịch từ những ngành cắt giảm
nhiều như may mặc, da-giày, chế biến gỗ sang lĩnh vực khác, chủ yếu là thương mại - dịch vụ.
Không chỉ thiếu lao động phổ thông, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động kỹ thuật cũng đang đứng ngồi
không yên khi bói không ra người. Thành phố đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động sang phục vụ các
ngành công nghiệp mũi nhọn, hạn chế những ngành thâm dụng lao động. Nhưng không thể ngày một ngày hai có
thể đào tạo được hàng nghìn công nhân kỹ thuật thuộc nhiều ngành nghề.
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn phải bằng lòng khi tuyển dụng lao động phổ thông
Cần hệ thống thông tin thị trường lao động
Ông Nguyễn Lê Hoàng, Phó phòng Lao động - Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, Sở Lao động Thương binh
và Xã hội cho biết: Hiện tổng số lao động toàn thành phố ước khoảng trên 1,1 triệu lao động, trong đó số lao động
qua đào tạo đạt tỷ lệ khoảng 55%. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố như hiện nay thì mức cung lao
động sẵn sàng là không thiếu. Thế nhưng, người cần việc vẫn cứ tìm việc, nhà tuyển dụng vẫn cứ treo biển nhưng
không tìm được người. “Thực tế trên là kết quả của một thời gian dài thị trường lao động “đói” thông tin dự báo,
công tác giáo dục - đào tạo chưa gắn với nhu cầu xã hội”.
Cũng theo ông Hoàng, thị trường lao động thành phố đang thực sự thiếu một hệ thống thông tin có tính hệ
thống, cụ thể và tương đối chính xác. Biểu hiện là Hải Phòng vẫn chưa có trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực trong
khi sàn giao dịch việc làm lại chưa đi vào hoạt động. Hoạt động tuyển dụng của các doanh nghiệp vẫn theo kiểu
“truyền thống” là đăng tuyển dụng hoặc gián tiếp thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm. Điều này vừa đẩy
doanh nghiệp vào thế bị động đồng thời làm cho người sử dụng lao động và người lao động khó có điều kiện để tìm
hiểu kỹ về nhau trước khi hình thành quan hệ lao động. “Chính vì vậy, thị trường lao động rơi vào tình trạng thừa
mà thiếu. Nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, không chỉ là lao động qua đào
tạo mà còn khó tuyển cả lao động phổ thông”.
Rõ ràng, để giải quyết tình trạng mất cân đối về cung - cầu lao động đòi hỏi một tổng thể giải pháp có tính
đồng bộ, trong đó công tác dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động có vai trò quan trọng. Hiện
một số tỉnh thành như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… đã thành lập trung tâm dự báo nguồn nhân lực và hoạt động khá
hiệu quả. Chính vì vậy thành phố cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm cung cấp những thông
tin chính xác, có căn cứ về nhu cầu các ngành kinh tế cũng như khả năng đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề. Mặt
khác, cần đẩy mạnh hơn các kênh giới thiệu việc làm bằng hoạt động liên tục của sàn giao dịch việc làm và các
phiên giao dịch việc làm lưu động tại các quận, huyện.
Chương 2: NHỮNG CƠ SỞ CỦA HÀNH VI CÁ NHÂN
3. Tình huống đặt ra: Câu phát biểu “Tất cả các công ty đều có lợi khi thuê những người thông minh (khả
năng trí tuệ) làm việc cho mình”. Bạn có đồng ý hay không? Giải thích? (dung phần khả năng để giải thích)
Câu phát biểu trên không hoàn toàn đúng.
Khả năng nhân viên liên quan đến năng lực cá nhân thực hiện các nhiệm vụ ở một vị trí công tác. Thông
thường khả năng được đáng giá qua những gì nhân viên có thể làm được trong một tổ chức. Khả năng nhân viên
được cấu thành từ 2 yếu tố chính: khả năng tư duy và khả năng hành động.
a. Khả năng tư duy
dưỡng nhiều (ít)
Thâm niên cao
(thấp)
Hiệu quả
Vắng mặt
Bỏ việc
Hài lòng
Trong đặc tính tiểu sử, biến số "thâm niên" có thể dự đoán tốt hiệu quả công việc, tỷ lệ vắng mặt, tỷ lệ nghĩ
việc và mức độ hài lòng trong công việc
Trong điều kiện khả năng và tính cách cá nhân phù hợp với yêu cầu công việc, có thể nâng cao hiệu quả làm
việc của họ. Khi đó sự thỏa mãn là cao nhất và mức độ nghĩ việc, bỏ việc là thấp nhất
Chương 3: GIÁ TRỊ - THÁI ĐỘ VÀ SỰ THỎA MÃN ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC
5. Trình bày KN giá trị là gì? Nêu điểm giống và khác nhau giữa giá trị và thái độ?
Khái niệm giá trị : những giá tri thể hiện sự phán quyết cơ bản về các dạng cụ thể của hành vi hoặc tình
trạng cuối cùng là được ưa thích hay không được ưa thích ( đối với cá nhân và xã hội). Giá trị nằm trong mỗi người,
không thấy được, chỉ được biểu hiện qua : thái độ, động cơ, nhận thức dẫn đến thỏa mãn công trong công việc
Giống nhau giữa giá trị và thái độ :
Cơ sở : giống như giá trị, thái độ được hình thành từ cha mẹ, thầy cô và các thành viên trong nhóm. Trong
những năm đầu đời, chúng ta bắt đầu mô hình hóa thái độ của chúng ta khi chúng ta khâm phục, kính trọng hay sợ
hãi. Chúng ta quan sát cách cư xử của gia đình, bạn bè từ đó hình thành thái độ và hành vi của chúng ta cho thích
Thứ ba, bạn có thể thay đổi thái độ và cho rằng không có gì là sai trái khi đổ nước thải ra sông. Thứ tư, điều hoà sự
bất hoà bằng cách cho rằng lợi ích mà công ty mang lại là lớn hơn so với những chi phí mà xã hội phải bỏ ra để xử
lý ô nhiễm.
Niềm tin của cá nhân về mức độ ảnh hưởng của họ đối với các nhân tố sẽ ảnh hưởng tới cách mà họ phản
ứng đối với sự bất hòa. Nếu họ nhận thức sự bất hòa kết quả của các nhân tố mà họ không kiểm soát được thì họ
dường như ít được nhận thức cho sự thay đổi thái độ. Ví dụ, hành vi tạo ra sự bất hoà là dược đòi hỏi từ cấp trên,
sức ép cho giảm sự bất hoà sẽ thấp hơn là hành vi dược thực hiện một cách tự nguyện. Khi sự bất hoà tồn tại, nó có
thể được hợp lý hóa và được biện hộ.
Các phần thưởng cũng ảnh hưởng.tới mức độ mà mỗi cá nhân được động viên trong giảm bất hoà. Sự bất
hoà cao trong khi gắn liền với nó là phần thưởng lớn sẽ có xu hướng làm giảm sự căng thẳng trong bất hoà.
Những điều trên cho thấy khi con người cảm thấy bất hoà thì diều đó không có nghĩa là họ phải làm giảm sự
bất hoà. Nếu sự bất hoà là không quan trọng, do các nguyên nhân bên ngoài gây ra, hoặc phần thường nhận được là
lớn con người có ít có mong muốn giảm bất hoà.
• Trong tổ chức, nhà quản trị cần quan tâm đến loại thái độ cụ thể:
Con người có thể có hàng ngàn thái độ, song hành vi tổ chức chỉ tập trung sự chú ý trong các thái độ có liên
quan tới công việc. Những thái độ có liên quan tới công việc gắn liền với sự lượng giá tích cực hoặc tiêu cực của
người lao động về các khía cạnh của môi trường làm việc của họ. Đặc biệt có ba thái độ chủ yếu cần được quan
tâm: Sự thỏa mãn đối với công việc; Sự gắn bó với công việc; và Sự tích cực nhiệt tình với tổ chức.
Thỏa mãn
Gắn bóNhiệt tình
Sự thỏa mãn đối với công việc đề cập tới thái độ chung của một cá nhân đối với công việc của anh ta. Một
người có mức độ thỏa mãn cao đối với công việc sẽ có một thái độ tích cực đối với công việc của anh ta và ngược
lại. Khi ta đề cập tới thái độ của người lao động điều đó thường là sự thỏa mãn đối với công việc.
Sự gắn bó với công việc đề cập việc đo lường mức độ hiểu biết về công việc của người lao động; sự tham gia
tích cực; và sự quan tâm tới việc thực hiện nhiệm vụ là quan trọng. Những người thể hiện sự gắn bó cao với công
việc của họ là những người có năng suất cao hơn, có mức độ thỏa mãn đối với công việc cao hơn và ít thuyên
chuyển hơn những người có sự gắn bó thấp.
Sự tích cực, nhiệt tình với tổ chức thể hiện sự hướng tới tổ chức của con người bằng việc trung thành với tổ
chức, gắn bó chặt chẽ với tổ chức. Một người có mức độ nhiệt tình .cao với tổ chức sẽ gắn bó cao với công việc của
họ - không kể họ có thỏa mãn hay không. Với nhận thức này chúng ta có thể mong đợi một tương quan nghịch biến
Huấn luyện và phát triển không đủ thường được kể ra như là một nhân tố khiến người lao động đi tìm việc khác.
Nếu một tổ chức không có các chương trình huấn luyện thích hợp, cảm tưởng không thỏa mãn có thể bắt đầu ngay
khi người lao động tham gia. Thật thú vị khi người lao động cũng thường nản lòng đối với các huấn luyện không
liên quan, không cần thiết cho họ. Vì thế, huấn luyện và phát triển là nhân tố quan trọng trong mức độ thay đổi
nhân viên.
4. Thỏa mãn việc làm
Đây cũng là một lý do thông thường được kể ra khi rời bỏ công ty. Người lao động có thể nói rằng họ cảm thấy
dưới giá trị, rằng nỗ lực họ trôi qua không được chú ý, hoặc họ nhận được ít hoặc không có phản hồi nào về thành
tích của họ.
Một số vấn đề khác liên quan đến thỏa mãn công việc:
Người lao động tin rằng công việc của họ ít cơ hội, họ không cảm thấy phải ráng sức. Để phản ánh điều này, họ có
thể lên tiếng đề nghị một thử thách mới.
Bạn phải có khả năng nhận biết người lao động cần phát huy tố chất và có những công cụ đo lường tại chỗ để dự
tính các nhu cầu của họ.
Thỏa mãn công việc, hoặc thiếu điều đó, có thể có nhiều dạng nhưng người lao động rời đi vì các phát sinh liên
quan đến các vấn đề sau:
- Không đủ trách nhiệm
- Thiếu an toàn về việc làm
- Nhiệm vụ thiếu sự kiểm tra quan tâm của quản lý
- Thời hạn hoàn thành nhiệm vụ quá thúc bách
- Quá nhiều nhiệm vụ
- Nhiệm vụ lặp lại quá nhiều
- Thiếu sự đa dạng
- Giờ làm việc quá dài
- Tài năng ít có cơ hội được sử dụng
Người quản lý cần nhạy với những người lao động tài năng và sẵn sàng giảm mức độ nhàm chán trong công việc
của họ. Hãy nhớ rằng cho người lao động những nhiệm vụ nhiều thích thú để làm chứ không có nghĩa là cho họ số
lượng lớn hơn công việc để làm.
5. Thăng tiến
Rất khó để đề nghị các cơ hội thăng tiến cho người lao động như họ mong muốn. Người lao động có thể phải từ
- Kế hoạch đóng tiền hưu
- Chăm sóc sức khỏe.
Người lao động đang tìm kiếm những điều đó và các phúc lợi khác khi họ tìm một công việc dài hạn.
Bạn tự hỏi các câu hỏi sau:
- Bạn có biết tiền lương của bạn so sánh thế nào với chính sách đãi ngộ mà đối thủ cạnh tranh với bạn đưa ra?
- Chính sách tiền lương của bạn có công bằng?
- Chính sách đãi ngộ có được ưu tiên thực hiện?
Giải quyết được những câu hỏi đó có thể sẽ cầm được chìa khóa để giữ chân nhân viên chủ chốt một cách hiệu quả.
Đáng nói thêm, mặc dù tiền là một hạng mục quan trọng, có thể khiến người lao động ở lại hay ra đi nhưng hiếm
khi là hạng mục quyết định về sự lưu giữ nhân viên. Trong hầu hết các tổ chức, những người ra đi hay ở lại đều
than phiền như nhau về tiền lương.
8. Sự quản lý
Nhiều người lao động đổ việc từ chức của họ cho người quản lý. Điều này thông thường là do người lao động được
thăng cấp quản lý hay đốc công không được huấn luyện về quản lý hoặc lãnh đạo thích hợp mà ra. Một số quản lý
theo cách truyền thống yếu kém trong lúc số khác lại yếu kém việc thúc đẩy nhân viên.
Bạn có cảnh báo về phòng, tổ có quản lý yếu kém trong tổ chức của bạn không? Các lao động có than phiền về cách
quản lý truyền thống yếu kém đó không? Đã có nhân viên nào từ chức vì quan hệ giữa họ và nhà quản lý chưa? Đã
có phỏng vấn ra đi nào theo dõi các vấn đề quan hệ đó chưa?
Bất kỳ một điều sau đây có thể dẫn đến người lao động cân nhắc tìm tới tổ chức khác :
- Thiếu sựu quản lý
- Ít hoặc không có động cơ
- Thiếu giám sát
- Phản hồi yếu kém
- Thiếu chỉ dẫn
- Truyền thông yếu
- Người quản lý khó gần.
9. Công việc bên ngoài
Chúng ta cần nhắc nhở chúng ta rằng có một cuộc sống bên ngoài văn phòng. Người ta thường cố tạo được sự cân
bằng làm việc/ cuộc sống, và người lao động cũng xem xét như thế về một công việc thay thế nhằm đạt được điều
đó. Có thể một nhân viên mới lập gia đình muốn có thêm thời gian sống với gia đình? Có thể một nhân viên bỏ mặc
nó.
Con người có xu hướng nhóm những cái giống nhau hoặc tương tự nhau thành một nhóm. Mức độ tương
tự càng lớn, càng dễ có khả năng là con người sẽ hướng tới nhận thức nó như là một nhóm.
Những đối tượng là gần với nhau sẽ có xu hướng được nhận thức thành cùng một đám hơn là từng phần riêng
biệt. Do đặc điểm này, con người thường nhóm những sự kiện, hoặc đối tượng không có liên quan với nhau thành
một nhóm. Ví dụ, người lao động trong cùng một đơn vị thường được xem là một nhóm. Nếu trong đơn vị có hai
người đột nhiên xin chuyển công tác chúng ta có xu hướng nhìn họ là có những điểm giống nhau trong khi thực
chất họ rất khác nhau.
c. Tình huống trong đó quá trình nhận thức diễn ra
Bối cảnh trong đó con người nhìn các đối tượng hoặc sự kiện là quan trọng. Những yếu tố của môi trường ảnh
hưởng quan trọng đến nhận thức của chúng ta. Bạn sẽ không chú ý đến một cô gái trang điểm đậm, mặc váy rất
ngắn tại một sàn nhảy, song vẫn cô gái đó với trang phục đó ở lớp học thì sẽ tạo ra một sự chú ý đặc biệt bởi bạn.
Trong trường hợp này, người nhận thức và đối tượng nhận thức là không đổi song nhận thức là rất khác nhau.
• Những lỗi làm sai lệch quá trình nhận thức của cá nhân
Nhận thức và diễn đạt những điều người khác làm là những việc khó khăn. Vì thế, các cá nhân khi thực
hiện những nhận thức thường bị sai lầm dẫn tới việc méo mó trong đánh giá. Sự hiểu biết về những nhược điểm này
là có ích khi nó có thể dẫn tới những sự bóp méo lớn. Đó là các lỗi quy kết cơ bản như sau:
+ Xu hướng hạ thấp các yếu tố bên ngoài và đề cao sự ảnh hưởng của các yếu tố bên trong khi nhận xét
hành vi của cá nhân
+ Xu hướng cá nhân sẽ quy kết các thành công của họ do yếu tố bên trong, trong khi đó đổ thừa những thất
bại do yếu tố bên ngoài
9. Tình huống đặt ra: Câu phát biểu “Hầu hết việc ra quyết định của cá nhân trong tổ chức là quá trình không
hợp lý”. Bạn có đồng ý không? Giải thích?
• Quan điểm hành vi về quá trình ra quyết định thực tế
Quan điểm hành vi cho rằng cá nhân không thể tối ưu hoá hành vi của họ. Vậy họ ra quyết định thế nào ? Họ
ra quyết định trên cơ sở sự thoả mãn. Điều này nghĩa là họ theo đuổi một giải pháp mà giải pháp đó là thỏa mãn và
đủ. Họ không chọn giải pháp tốt nhất, mà họ thường chọn một giải pháp chấp nhận được. Họ phản ứng với sự phức
tạp của nhiệm vụ bằng việc đơn giản hoá các vấn đề tới mức có thể hiểu được. nghĩa là họ tạo ra một bối cảnh đơn
giản để có thể thấy được những yếu tố cơ bản từ vấn đề cần giải quyết mà không có tất cả sự phức tạp của nó . Thay
vì phát triển một danh mục đầy đủ các giải pháp người ra quyết định nhận dạng những chọn lựa dễ thấy nhất, nếu
Những khác biệt văn hóa trong việc ra quyết định
Lựa chọn vấn đề
Chiều sâu thời gian
Mức độ nhấn mạnh vào logic và tính hợp lý
Tinh tưởng vào khả năng cá nhân giải quyết vấn đề
Tham khảo Preference for collect tính chất tập thể trong các quyết định
Tiêu chuẩn quyết định mang tính đạo đức
Tối ưu hóa: Tìm kiếm cái tốt nhất trong hàng loạt chọn lựa.
Quyền cá nhân: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cá nhân cơ bản.
Công bằng: Áp đặt và củng cố các luật lệ thật công bằng và không cục bộ.
Đạo dức và văn hóa quốc gia
Không có các chuẩn mực đạo đức toàn cầu.
Các nguyên tắc đạo đức của các tổ chức toàn cầu phản ánh và tôn trọng các chuẩn mực văn hóa địa
phương thật sự cần thiết và thống nhất thực hiện.
Mặc dù ở phạm vị cá nhân, nhưng trong quá trình ra quyết định, mọi cá nhân cần lưu ý các điểm trên bởi vì tất
cả đều có tác động phần nào đến kết quả và mức độ của việc ra quyết định.
Chương 5: ĐỘNG VIÊN NGƯỜI LAO ĐỘNG
10. KN động viên là gì? Trình bày đặc điểm và các ứng dụng của thuyết động viên sau đây:
- Thuyết nhu cầu của Maslow
- Thuyết 2 nhân tố
- Thuyết mong đợi
- Thuyết công bằng
• Khái niệm động viên : là các tác nhân tâm lý quyết định phương hướng hành vi của một cá nhân trong một
tổ chức, mức độ nỗ lực của cá nhân, mức độ kiên trì trong việc đối mặt với những khó khăn trước mắt
Những nhân tố tâm lý tác động ở mỗi cá nhân sẽ quyết định tới
+ Các hành vi cá nhân có thể có theo dự tính diễn ra - có hành vi tự định hướng vào các mục tiêu quan
trọng
+ Làm việc tích cực - mức độ cá nhân cố gắng chịu khó để làm
+ Việc duy trì nhịp độ làm việc tích cực - liệu cá nhân sẽ kiên trì thực hiện hay không
• Đặc điểm thuyết Maslow : mọi người đều có nhu cầu, nhà quản trị phải hiểu chính xác và hiểu nhu cầu cao
người khác (được chọn để tham chiếu)
+ Nếu người khác nhận nhiều phần thưởng thì họ nên đóng góp thêm công sức để đạt sự công bằng so
với mọi người
Sự bất công xảy ra khi tỷ lệ phần thưởng/công sức của một nhân viên không tương đương với người khác
(được chọn để tham chiếu)
+ Sự bất công do phần thưởng công việc không xứng đáng: tỷ lệ của họ thấp hơn người khác. Nhân
viên nhận thức rằng họ không nhân đúng mức mà họ nên hưởng dựa theo công sức đã bỏ ra cho tổ chức
+ Sự bất công do phần thưởng công việc quá mức xứng đáng : tỷ lệ của họ cao hơn của người khác.
Nhân viên nhận thức rằng họ nhận quá mức mà họ nên hưởng dựa theo công sức họ đã bỏ ra cho tổ chức
Khôi phục sự công bằng : sự bất công sẽ tạo sự căng thẳng trong mỗi người khiến họ cố gắng khôi phục lại
công bằng
+ Ở tình trạng bất công do phần thưởng công việc không xứng đáng, nhân viên giảm công sức bỏ ra để
điều chỉnh mức cân bằng tỷ lệ hoặc tìm kiếm nâng cao phần thưởng công việc
+ Ở tình trạng bất công do phần thưởng công việc quá xứng đáng, nhân viên có thể thay đổi người tham
chiếu và điều chỉnh lại ý nghĩ về nhận thức tỷ lệ của họ
+ Nếu sự bất công tiếp tục, nhân viên sẽ thường chọn cách rời bỏ hoặc nghĩ việc
A B A: nghĩ việc
A: làm ít lại
Xa/Y < Xb/Y A: so với C
Chương 6: NHỮNG CƠ SỞ CỦA HÀNH VI NHÓM
11. Trình bày các lý do cá nhân tham gia nhóm? Nêu các yếu tố tạo nét đặc trưng hành vi nhóm xây dựng
nên cấu trúc của nhóm
Có 6 lý do cá nhân tham gia nhóm
+ An toàn : nhằm hạn chế mức độ mất an toàn của tình trạng đơn lẻ
+ Địa vị: nhằm đạt ham muốn địa vị trong tổ chức
+ Tự trọng : nhằm thoả mãn nhu cầu tự trong như trong ý nghĩa tháp nhu cầu của maslow
+ Liên minh : nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội của loài người
+ Quyền lực : nhằm đạt nhu cầu ham muốn có quyền hạn chỉ có được trong một tổ chức
+ Đạt mục tiêu đề ra : nhằm thực hiện được, mang tính khả thi khi có sự tham gia nhóm
• Các nhân tố tạo sự khác biệt
12. KN giao tiếp là gì? Trình bày các chức năng và yếu tố của quá trình giao tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin giao tiếp?
• Khái niệm giao tiếp : là sự truyền đạt điều muốn nói từ người này sang người khác để đối tượng có thể
hiểu những thông điệp truyền đi
• Các chức năng của giao tiếp trong tổ chức : có 4 chức năng cơ bản : kiểm soát, tạo động lực, bày tỏ
cảm xúc và thu nhận thông tin
+ Giao tiếp có thể thực hiện chức năng kiểm soát. Chẳng hạn, các nhà lãnh đạo có thẩm quyền có thể đưa ra
một số yêu cầu mà các nhân viên dưới quyền phải tuân thủ
+ Giao tiếp thúc đẩy động lực bằng cách hình thành các mục tiêu cụ thể, thông tin phản hồi về sự tiến bộ của
cá nhân, tăng cường các hành vi mong muốn, tất cả đều tạo nên động lực lao động và cần có giao tiếp
+ Đối với nhiều nhân viên, nhóm làm việc là môi trường chủ yếu để các thành viên bày tỏ sự thất vọng, cảm
giác mãn nguyện
+ Chức năng cuối cùng của giao tiếp là cung cấp thông tin mà các cá nhân và các nhóm cần đưa ra quyết
định
Trong 4 chức năng này, không có chức năng nào được xem là quan trọng hơn. Mọi quá trình
giao tiếp xảy ra trong một nhóm hay một tổ chức đều là sự kết hợp của một hay nhiều chức năng trên
• Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp
1) lọc tin : là quá trình lựa chọn và thay đổi cách truyền tải thông tin có chú ý của người gởi để làm vui
lòng người nhận
2) Trình độ nhận thức và mức độ nhận thức theo cảm tính
3) Sự khác biệt về giới tính : nam tính dùng trò chuyện để nhấn mạnh địa vị còn phụ nữ dùng nó để tạo
mối liên hệ
4) Cảm xúc khi nhận thông điệp ảnh hưởng đến cách thức mà cá nhân diễn dịch và hiểu thông điệp đó
5) Khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ giao tiếp
6) Các dấu hiệu phi ngôn từ
Chương 8: LÃNH ĐẠO
13. KN lãnh đạo? Trình bày đặc điểm của các thuyết lãnh đạo sau:
- Cá tính điển hình
- Thuyết hành vi
- Thuyết lãnh đạo theo tình huống
tâm, hoặc không có cả khả năng tổ chức lẫn sự quan tâm. Tuy nhiên, người lãnh đạo này không phải lúc nào cũng
mang lại kết quả tích cực. Chẳng hạn, người lãnh đạo có khả năng tổ chức cao luôn đòi hỏi nhân viên của mình phải
hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất có thể được, chấp hành tốt kỷ luật lao động, đảm bảo tiến độ công việc
Những người không đáp ứng yêu cầu có thể bị khiển trách hoặc sa thải. Vì vậy, mức độ thoả mãn công việc của một
số người giảm đi và biến động nhân sự sẽ xảy ra. Nói tóm lại, nghiên cứu của trường Đại học tổng hợp Bang Ohio
cho thấy người lãnh đạo có khả năng tổ chức cao và quan tâm đến nhân viên, nhìn chung mang lại kết quả tích cực.
Tuy nhiên, hiệu quả lãnh đạo còn chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Vì vậy các nhân tố ngoại cảnh cần
được đưa thêm vào xem xét trong lý thuyết này.
Nghiên cứu của trường đại học Michigan
Trong cùng thời gian, trường đài học Michigan cũng thực hiện nghiên cứu về lãnh đạo với mục đích tương tự:
Xác định phong cách ứng xử của nhà lãnh đạo. Họ phân biệt hai loại lãnh đạo: Lãnh đạo lấy con người làm trọng
tâm và lãnh đạo lấy công việc làm trọng tâm.
Lãnh đạo lấy con người làm trọng tâm là những người nhấn mạnh tới mối quan hệ cá nhân. Họ gắn lợi ích cá
nhân với nhu cầu của cấp dưới và chấp nhận sự khác biệt cá nhân giữa các thành viên
Lãnh đạo lấy công việc làm trọng tâm lại nhấn mạnh tới các nhiệm vụ phải thực hiện cũng như khía cạnh kỹ
thuật của công việc. Mối quan tâm chính của họ là làm thế nào để hoàn thành công việc và các thành viên trong
nhóm là phương tiện để đạt được mục tiêu này
• Thuyết lãnh đạo theo tình huống
Fred Fiedler đã phát triển mô hình đầu tiên về sự lãnh đạo theo tình huống. ông cho rằng hiệu quả hoạt động
của nhóm phụ thuộc vào sự hoà hợp giữa nhà lãnh đạo với nhân viên và mức độ ảnh hưởng của các điều kiện bên
ngoài. Vì vậy, để lãnh đạo có hiệu quả người ta phải xác định phong cách lãnh đạo của mỗi người và đặt họ vào
hoàn cảnh phù hợp với phong cách đó.
Với quan điểm trên, nghiên cứu của Fiedler có thể được chia thành 4 giai đoạn:
(1) Xác định phong cách của người lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo lấy công việc làm trọng tâm.
- Phong cách lãnh đạo lấy con người làm trọng tâm.
(2) Xác định các nhân tố hoàn cảnh có ảnh hưởng đến lãnh đạo
- Mối quan hệ lãnh đạo - nhân viên là mức độ tin cậy, trung thực và tôn trọng cấp dưới của nhà lãnh đạo.
- Cấu trúc nhiệm vụ là mức độ có tổ chức trong phân công công việc cho cấp dưới. '
- Thẩm quyền của người lãnh đạo là mức độ ảnh hưởng của người lãnh đạo trong việc kỷ luật, thăng cấp
trong quá khứ hơn là hướng về những thách thức trong tương lai
Nhiều dẫn chứng cho thấy xung đột làm xuất hiện các quyết định phù hợp và nâng cao hiệu quả của nhóm.
Quyết định được xây dựng trên cơ sở các ý kiến được tranh luận giữa các thành viên đưa ra thường hoạt động có
hiệu quả hơn là những nhóm mà sự đồng thuận đạt được tương đối dễ dàng
Ngày nay, các nhà quản trị luôn muốn xung đột xảy ra ở mức độ thấp nhất (trong vòng kiểm soát) để giúp
doanh nghiệp phát triển tốt hơn
Chương 11: VĂN HÓA TỔ CHỨC
16. KN văn hóa tổ chức là gì? Trình bày các chức năng của văn hóa tổ chức và nêu lợi ích của văn hóa tổ chức
đối với nhà quản trị?
• Khái niệm văn hóa tổ chức: là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi
các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của những người lao động trong tổ chức. Cụ thể là những câu
chuyện, các nghi thức, các biểu tượng vật chất, ngôn ngữ
• Những lợi ích của nền văn hóa tổ chức mạnh
+ Văn hóa mạnh có thể có những ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực tới tổ chức và hành vi của nhân viên
+ Văn hóa mạnh có thể góp phần làm giảm sự luân chuyển lao động và làm tăng tính nhất quán của hành vi
+ Văn hóa mạnh thì nhu cầu của ban quản lý trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy định để định hướng
hành vi của người lao động sẽ giảm đi
• Chức năng văn hóa tổ chức
1) VHTC có vai trò xác định ranh giới
2) VHTC có chức năng lan truyền chủ thể cho các thành viên trong tổ chức
3) VHTC thúc đẩy nhân viên cam kết đối với lợi ích chung của tổ chức đối với những gì lớn hơn so với lợi
ích riêng của cá nhân họ
4) VHTC làm tăng sự ổn định của hệ thống xã hội trong tổ chức
17. Trình bày cách thức thay đổi văn hóa tổ chức để có thể kiểm soát quá trình thay đổi cần thiết này?
Cách thức thay đổi văn hóa tổ chức : có 3 yếu tố phải thực hiện cùng lúc
1) Thay đổi con người : thể hiện ở việc áp dụng phương pháp tuyển mộ, tuyển chọn, thuyên chuyển hay sa
thải người lao động. Thái độ và hành vi của nhân viên trong công ty sẽ được điều chỉnh lại theo cách mới
2) Thay đổi cơ cấu tổ chức : nhà quản lý có thể tiến hành thiết kế lại công việc nhằm tăng sự linh hoạt của
vai trò người lao động. Mặt khác, nhà quản lý có thể đề xuất thay đổi cơ cấu tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu
mới trong môi trường luôn thay đổi như hiện nay