Câu 1: Phân tích so sánh nghiệp vụ phát hành thư bảo lãnh với nghiệp vụ phát hành thư tín
dụng của ngân hàng thương mại
Thư tín dụng
Cam kết bảo lãnh
Mục đích
là phương tiện thanh toán
công cụ phòng ngừa RR
Nghĩa vụ của người
phát hành
chính yếu: NH phải trả tiền cho người thụ
hưởng nếu họ xuất trình được bộ chứng
từ phù hợp
thứ yếu: NH chỉ trả tiền cho bên thứ 3
khi bên được bảo lãnh không thực
hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ của mình
Lĩnh vực vận dụng
Hợp đồng thương mại
tất cả các lĩnh vực: thương mại, tài trợ,
dân sự…
Số tiền
tổng giá trị hợp đồng cơ sở, tức là số tiền
ghi trên L/C
thường chiếm tỉ lệ nhỏ hơn
RR phát sinh
RR ít xảy ra
- NH phát hành: rủi ro thu hồi vốn
- NH thông báo: L/C giả
- NH được chỉ định: rủi ro ứng trước
tiền cho nhà XK với điều kiện truy đòi
Mức thu hồi vốn
Thấp hơn
Nhanh hơn, giá trị của chuỗi tiền tệ
chiếm một tỉ trọng lớn trong giá trị tài
sản
Trách nhiệm bảo hành bảo
dưỡng
Bên cho thuê
Người đi thuê chịu
Rủi ro hoạt động của tài sản
Người cho thuê chịu phần lớn các
rủi ro chỉ trừ rủi ro do lỗi của bên
đi thuê gây ra
Người đi thuê chịu phần lớn các rủi ro
kể cả rủi ro không phải do mình gây ra
Chuyển quyền sở hữu hoặc
bán tài sản
Không có thỏa thuận chuyển
quyền sở hữu hoặc bán lại tài sản
cho bên đi thuê
Trong hợp đồng cho thuê thường có
điều khoản thỏa thuận chuyển quyền sở
hữu hoặc bán hoặc cho thuê tiếp
Nhà cung cấp
Bất kì ai miễn có tài sản và năng
lực pháp luật
Phải là công ty cho thuê tài chính
Câu 3: Phân tích so sánh hoạt động cho vay thông thường và cho vay theo hạn mức tín dụng. Tại sao ở
Việt Nam cho vay theo hạn mức chưa thật sự thông dụng như ở các nước phát triển
- Người vay chỉ lập hồ sơ 1 lần cho
nhiều khoản vay, ngân hàng cấp cho
khách 1 hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ,
không giới hạn doanh số.
(Ví dụ: Vay hạn mức 50tr 1 tháng,
bạn có thể vay tối đa 50tr, nếu trả 20tr
trong tháng có thể vay tiếp 30tr,có thể
giải ngân làm nhiều lần theo nhu cầu vay
vốn của mình miễn sao số dư cuối tháng
không vượt quá hạn mức 50tr.) -Người vay sẽ phải làm hồ sơ
vay vốn cho từng lần vay với lãi suất,
thời hạn trả tiền và số tiền vay xác
định.
(Ví dụ: Giả sử 1/1/09 bạn có nhu
cầu mua NVL bạn lập hồ sơ vay 300tr
trong thời hạn 4 tháng .Tới tháng sau
12/2/09 bạn cần mua một thiết bị và
bạn lại lập một hồ sơ mới xin vay 150tr
trong thời hạn 2 tháng chẳng hạn. Nếu
NH đồng ý cho bạn vay thì họ sẽ giải
ngân cũng như theo dõi hai khoản nợ
này riêng,tính lãi riêng và thu nợ
riêng.)
-Thủ tục rườm rà, doanh nghiệp
không linh động trong việc sử dụng
vốn do phải lập hồ sơ cho từng lần vay,
chỉ thích hợp với doanh nghiệp có nhu
cầu vốn không định kì.
Phạm vi áp
dụng
-Chỉ áp dụng cho các khách hàng
vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên,
mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có tín
nhiệm với Ngân hàng ( có khả năng tài
chính, sản xuất kinh doanh ổn định, có
lãi, trong thời gian một năm trước đó
không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín
dụng).
-Chỉ áp dụng cho các khách hàng
có nhu cầu vốn không thường xuyên,
hoặc vay có tính chất thời vụ.
Nhà xuất khẩu nên sử dụng bao thanh toán trong những trường hợp sau:
1. Nếu người mua yêu cầu thay phương thức thanh toán L/C, D/P, D/A bằng phương thức O/A: bởi
vì hiện nay các nhà nhập khẩu qui mô, ưu thế hơn nên chỉ chấp nhận hình thức O/A. Điều này sẽ khiến
các nhà xuất khẩu dễ mất đơn đặt hàng nếu không có khả năng về vốn. Còn nếu chấp nhận hình thức
trả sau thì DN sẽ khó khăn trong việc quay vòng vốn nhất là những đơn vị xuất khẩu các mặt hàng
luôn biến động về giá. Vì thế chọn dịch vụ bao thanh toán xuất khẩu sẽ giúp DN giải quyết được khó
khăn này
2. Nhà xuất khẩu thiếu vốn lưu động do tăng trưởng quá nhanh: nhà xuất khẩu được sử dụng các
khoản phải thu đảm bảo cho khoản ứng trước do đó tăng được nguồn vốn lưu động phục vụ sản xuất
kinh doanh đảm bảo cho sự tăng trưởng
3. Thiếu thông tin về người mua mới: ngân hàng bao thanh toán sẽ là người tìm hiểu thông tin về
khách hàng mới thay cho nhà xuất khẩu. Vì khi thẩm định cấp hạn mức bao thanh toán cho nhà nhập
khẩu, bộ phận bao thanh toán của ngân hàng phải đánh giá nhà nhập khẩu về nhiều khía cạnh: tình
hình hoạt động kinh doanh, uy tín thanh toán, quan hệ thanh toán quốc tế…
4. Lo ngại về việc trì hoãn thanh toán, nợ xấu của người mua: vì chỉ cần có các khoản phải thu và
DN sẽ bán lại cho ngân hàng bao thanh toán chính vì thế họ sẽ không còn lo ngại về việc đến hạn
người mua có trả tiền hay không, khi đó ngân hàng bao thanh toán sẽ chịu trách nhiệm về việc thu nợ.
5. Tìm kiếm nguồn lực tài chính linh hoạt: bao thanh toán giúp người bán tăng lợi thế cạnh tranh
khi chào hàng với các điều khoản thanh toán trả chậm mà không ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh doanh
của mình. Doanh số càng cao thì khoản ứng trước càng nhiều, gia tăng doanh số bán hàng.
Câu 5: Tìm và phân tích 5 lợi ích của dịch vụ bao thanh toán đối với người mua và đối với người bán
mà anh/chị cho là tốt nhất
Trả lời:
1. Đối với người bán:
- Không phải quản lí sổ sách bán hàng: ngân hàng bao thanh toán mua lại các khoản phải thu phát
sinh từ việc mua bán chịu nên người bán tiết kiệm được thời gian và chi phí trong việc theo dõi thu
hồi các khoản trả chậm này
- Không phải cấp tín dụng thương mại hoặc chỉ cấp 1 phần tín dụng cho người mua: khi người bán
đem hồ sơ đến NH bao thanh toán xuất khẩu thì NH này sẽ ứng trước tiền tối đa 80% giá trị hóa đơn.
Do vậy mà phần lớn tiền được thanh toán ngay cho người bán và chỉ 1 phần tài trợ cho người mua
Câu 6: Nhược điểm của bao thanh toán
- Bao thanh toán không chỉ tham gia vào công đoạn đầu là cho vay đối với người bán mà còn đi
sâu vào cả quá trình tiếp theo nhằm mục đích để cho đơn vị bao thanh toán có thể kiểm soát được cả
bên mua và nhất là kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay của DN. Chính đặc điểm này đã tạo rào
cản ngăn trở quá trình đơn vị bao thanh toán tiếp xúc với các doanh nghiệp. Tâm lí các doanh nghiệp
VN vẫn chưa muốn công khai tình hình hoạt động, càng không muốn có một tổ chức can thiệp vào
quá trình kinh doanh của mình. Vì vậy, các đơn vị bao thanh toán gặp nhiều khó khăn khi tiếp thị sản
phẩm mới với khách hàng
- Các doanh nghiệp vẫn quen dùng các phương thức thanh toán truyền thống như chuyển tiền, đặc
biệt là L/C
- Chi phí cao gây e ngại cho các doanh nghiệp: bao thanh toán là một nghiệp vụ có nhiều rủi ro,
đặc biệt là rủi ro phát sinh từ phía người mua, thêm vào đó là chi phí quản lí sổ sách, chi phí chuyển
phát nhanh và các chi phí phụ khác. Chính vì thế mà phí dịch vụ tương đối cao ( trung bình khoảng 3-
5% doanh thu)
- Dịch vụ bao thanh toán của các ngân hàng chưa thật tiện lợi: hệ thống thông tin tín dụng còn
thiếu thốn nên để tránh rủi ro ngân hàng đưa ra các điều kiện rất khó đáp ứng như phải chứng minh
uy tín của bên mua hàng, các khoản phải thu phải thật sự an toàn….gây khó khăn cho các doanh
nghiệp sử dụng dịch vụ này nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Trình độ hiểu biết về luật pháp, điều ước và tập quán quốc tế: tiêu chuẩn bao thanh toán không
thống nhất với các qui định về bao thanh toán quốc tế cũng tạo ra một rào cản lớn cho sự phát triển
của dịch vụ bao thanh toán quốc tế Việt Nam
- Quan hệ với thị trường nước ngoài còn hạn chế: trong bao thanh toán quốc tế, người mua và tổ
chức bao thanh toán xuất khẩu ở hai quốc gia khác nhau vì vậy mà việc thẩm định người mua gặp
nhiều khó khăn đòi hỏi nhất thiết cần có sự tham gia hỗ trợ của một tổ chức bao thanh toán tại quốc
gia người mua ( đơn vị bao thanh toán nhập khẩu)
Câu 7: Tổng quát về bao thanh toán
Khái niệm:
Bao thanh toán là việc bên bán hàng chuyển nhượng cho đơn vị bao thanh toán quyền và lợi ích liên
quan đến các khoản phải thu ngắn hạn (dưới 180 ngày) của người bán phát sinh từ việc cung cấp hàng
hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua.
từ dịch vụ này
- Có thể mở rộng quan hệ với các đối tác khác ở trong nước và nước ngoài qua đó học hỏi kinh
nghiệm để phát triển các mặt hoạt động liên quan
BTT là phương thức hai bên cùng có lợi, nhưng tại sao lại chưa phát triển ở nước ta ?
Thứ nhất, nước ta hiện vẫn còn nhiều hạn chế về hành lang pháp lý để thực hiện dịch vụ này. Pháp
luật không thừa nhận dịch vụ BTT nếu không có sự chấp nhận bằng văn bản của khách hàng phải trả
nợ. Chính điều này đã gây không ít khó khăn cho NH và DN khi thực hiện dịch vụ này.
Thứ hai, nhiều DN cho rằng, hiện ở VN dịch vụ BTT của các NH vẫn chưa thật tiện lợi. Bởi NH
thường đòi hỏi cao đối với khách hàng, ngoài phí dịch vụ, nhà xuất khẩu phải chứng minh với NH về
uy tín của bên mua hàng hóa. Đây là khó khăn lớn cho nhà sản xuất, bởi sự hiểu biết về thị trường
xuất khẩu của DN VN còn hạn chế.
Thứ ba, các NH cũng chưa mặn mà với việc cung cấp dịch vụ này vì chúng ta có quá ít thông tin về
tình hình tài chính của người mua, nhất là khách hàng nhập khẩu. Các thông tin nếu công bố công
khai cũng không thật sự rõ ràng, minh bạch. Do đó mà khả năng rủi ro cao, các NH sẽ ngần ngại khi
thực hiện dịch vụ này hoặc nếu có thì mức phí cũng không hấp dẫn khách hàng.
Thứ tư, các NH khi thực hiện BTT đồng nghĩa với chấp nhận rủi ro ở mức độ nào đó. Nhưng ở nước
ta, rủi ro mất vốn đồng nghĩa với trách nhiệm pháp lý của NH và cá nhân người quyết định, do đó,
các NH, đặc bịêt là các NHTM nhà nước không thích sử dụng dịch vụ này.
Thứ năm, cũng do bản thân người cung cấp chưa mặn mà với dịch vụ này nên họ không chú trọng
công tác marketing, tuyên truyền quảng bá tới khách hàng. Các khách hàng vì vậy cũng ít biết đến
loại hình dịch vụ này.
Giải pháp để phát triển phương thức bao thanh toán ở nước ta
- Tăng cường công tác marketing, giới thiệu những tiện ích của BTT cho các DN.
- Đơn giản hoá thủ tục BTT bằng các quy định pháp lý cụ thể.
- Có chính sách phí linh hoạt, phù hợp với các DN vừa và nhỏ.
- NHNN làm đầu mối thành lập Hiệp hội BTT VN, khuyến khích các NH tham gia để được cung cấp
thông tin, hỗ trợ công nghệ…Đây cũng là một bước hội nhập với nền tài chính quốc tế của VN.
- NHNN nghiên cứu quy chế thành lập các công ty BBT độc lập.
Câu 8: Tổng quát về cho thuê tài chính
Khái niệm:
được luật hóa. Các quy định về sở hữu, về tổ chức, hoạt động, vốn điều lệ trong các văn bản còn
nhiều vấn đề phải bàn.
Giải pháp thúc đẩy
1. Lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa là mục tiêu chính hiện nay, ở Việt Nam số doanh nghiệp nhỏ
và vừa chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp. Hơn nữa, xét về bản chất, đây là một “khoản vay tài
chính” và phải trả lãi (trên cơ sở tính phí thuê tài chính được trả cho đến khi hết hạn hợp đồng), và
đương nhiên đã là một “khoản vay” thì rủi ro liên quan đến vay vốn luôn luôn hiện hữu và có thể dẫn
đến phải áp dụng các biện pháp, thậm chí là biện pháp phá sản bất cứ khi nào nếu doanh nghiệp kinh
doanh không có hiệu quả.
Do đó, để thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính hoạt động có hiệu quả đòi hỏi sự phát triển của chính
cộng đồng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi chính các doanh nghiệp là khách hàng
và là mục tiêu hướng tới của các công ty cho thuê tài chính.
2. Từng bước sửa đổi, bổ sung các quy định về hoạt động liên quan đến dịch vụ cho thuê tài chính
trong Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại Nghị định số
16/2001/NĐ-CP đối tượng tài sản để cho thuê tài chính chỉ là các động sản, đây là một trong những
bất cập cần được sửa đổi.
Ngoài ra, các quy định về phương thức xử lý, quản lý, sử dụng, trích khấu hao tài sản thuê tài chính
cũng nên chỉnh sửa cho phù hợp với thông lệ quốc tế
3. Nhà nước, các hiệp hội và chính các công ty cho thuê tài chính cần phải quảng bá rộng rãi hơn nữa
dịch vụ của mình đến cộng đồng doanh nghiệp.
4. Các công ty cho thuê tài chính cố gắng giảm các loại chi phí đầu vào nhằm hạ giá dịch vụ để thu
hút khách hàng.
Câu 9: Cho vay theo hạn mức Tín dụng & Cho vay theo từng lần
Cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay từng lần là hai phương pháp cho vay ngắn hạn được áp
dụng phổ biến hiện nay tại các ngân hàng thương mại (NHTM).
Giữa hai phương pháp này có những điểm khác nhau cơ bản như sau:
Phân biệt
*Cho vay theo hạn mức tín dụng(Cho
nhiều khoản vay, ngân hàng cấp cho
khách 1 hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ,
không giới hạn doanh số.
(Ví dụ: Vay hạn mức 50tr 1 tháng,
bạn có thể vay tối đa 50tr, nếu trả 20tr
trong tháng có thể vay tiếp 30tr,có thể
giải ngân làm nhiều lần theo nhu cầu vay
vốn của mình miễn sao số dư cuối tháng
không vượt quá hạn mức 50tr.) -Người vay sẽ phải làm hồ sơ vay
vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn
trả tiền và số tiền vay xác định.
(Ví dụ: Giả sử 1/1/09 bạn có nhu
cầu mua NVL bạn lập hồ sơ vay 300tr
trong thời hạn 4 tháng .Tới tháng sau
12/2/09 bạn cần mua một thiết bị và bạn
lại lập một hồ sơ mới xin vay 150tr trong
thời hạn 2 tháng chẳng hạn. Nếu NH đồng
ý cho bạn vay thì họ sẽ giải ngân cũng
như theo dõi hai khoản nợ này riêng,tính
lãi riêng và thu nợ riêng.) Ưu
điểm
vốn không định kì.
Phạm vi áp
dụng
-Chỉ áp dụng cho các khách hàng
vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên,
mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có tín
nhiệm với Ngân hàng ( có khả năng tài
chính, sản xuất kinh doanh ổn định, có
lãi, trong thời gian một năm trước đó
không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín
dụng).
Không phù hợp với các doanh
nghiệp có nhiều mặt hàng kinh doanh,
nhu cầu vốn đến từ nhiều phương án
khác nhau, phát sinh liên tục Kỳ hạn vay
- Không định kỳ hạn nợ cụ thể cho
từng lần giải ngân nhưng kiểm soát chặt
-Vay vốn từng lần được xác định như sau:
Nhu cầu
= NC vay VLĐ - Vốn CSH & Vốn HĐ khác
vay vốn
-Chi phí sản xuất: Là số tiền mà một nhà sản xuất hay doanh nghiệp phải chi để mua các yếu tố đầu
vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi nhuận.
-Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp.(số vốn này sẽ
chu chuyển quay vòng thường xuyên trong QTSX)
-Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là vốn đầu tư của chủ sở hữu, là phần tài sản còn lại sau khi lấy
tổng tài sản trừ đi các khoản nợ phải trả.
-Vốn HĐ khác:Phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng, cho thuê tài chính, thanh lí tài sản,…
Trước khi đi vào chi tiết, tôi xin trình bày tóm tắt một số nội dung cơ bản trong hoạt động xét cấp
HMTD tại các ngân hàng hiện nay, như sau:
nghiệp hiện nay.
giữa các ngân hàng, hay nói
cách khác là luôn có sự khác nhau giữa các ngân hàng, tuỳ theo đối tượng khách hàng, phương án,
lĩnh vực, xu hướng ngành nghề khác nhau.
đang áp dụng thông thường dựa trên 2 cách
: (a) Dựa vào chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn; (b) Dựa vào lưu chuyển tiền tệ.
quan hệ tín dụng có uy tín với ngân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh đi
vào ổn định, có nguồn thông tin khá đầy đủ chính xác.
cần thiết góp phần quan trọng trong tiêu chí : “không quá khắt khe khiến không đáp ứng nhu cầu vốn
cho doanh nghiệp, cũng như tránh tình trạng cho vay quá mức cần thiết làm tổn hại đến khả năng thu
hồi nợ”.
diễn ra liên tục; có thể không có thời hạn vay và kỳ hạn trả nợ cụ thể chỉ có thời hạn hiệu lực của hợp
đồng tín dụng hạn mức; doanh số cho vay có khi lớn hơn HMTD trong thời gian duy trì HMTD.
Kỹ thuật xác định HMTD trong thực tế tại một số ngân hàng hiện nay
1. Dựa vào chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn :
Trong cách tiếp cận này, ngoài ngân hàng ICB ra, thì một số ngân hàng khác như ngân hàng đầu tư
phát triển, nông nghiệp nông thôn về cơ bản cũng có cách làm tương tự nhau.
2. Dựa vào lưu chuyển tiền tệ:
a. Cở sở xác định HMTD: Thông qua các Báo cáo tài chính, Bảng kế hoạch nhận từ khách hàng, ta
dự toán các nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp dưới dạng thành tiền để lập bảng lưu chuyển tiền
tệ.
b. Trình tự xác định HMTD thông qua lưu chuyển tiền tệ.
Việc xác định lưu chuyển tiền tệ như chúng ta đã được biết trong tài chính doanh nghiệp và thẩm định
dự án. Thông thường hiện nay có hai phương pháp cách xác định lưu chuyển tiền tệ : Trực tiếp và
gián tiếp. Trong hai phương pháp này, mặc dù cách tiếp cận khác nhau nhưng đều đi đến kết quả cuối
cùng đó là dòng tiền ròng phải như nhau. Nếu như cách tiếp cận trực tiếp cho ta biết được các dòng
tiền vào, dòng tiền ra đi đâu, về đâu như thế nào, thì trong cách tiếp cận gián tiếp cho ta biết được
một doanh nghiệp có lợi nhuận nhưng chưa chắc là có tiền. Ở đây, tôi xin chia sẽ đến các bạn cách
xác định HMTD thông qua lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp ( còn kỹ thuật lập báo cáo
ngân lưu như thế nào sẽ được trình bày trong phần khác ).
Câu 10: Trình bày các phương thức huy động vốn của NHTM ? Trong các phương thức đó loại
nào được sử dụng phổ biến ở Việt Nam? Giải thích tại sao?
Trả lời:
1. Các phương thức huy động vốn của NHTM:
a . Nghiệp vụ nhận tiền gửi:
Tài khoản tiền gửi không kì hạn
- Tk được mở nhằm mục đích thanh toán(còn gọi là TK thanh toán) hoặc bảo đảm an toàn về tài sản.
- TK phải có số dư có
- Khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng
- Là tài khoản duy nhất mà chủ tài khoản được quyền thực hiện các công cụ thanh toán như: séc, ủy
nhiệm chi, lệnh chi tiền, chuyển khoản
Các ngân hàng có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng.
Vay của NHNN: NHNN cho các NHTM vay thông qua nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu thương
phiếu và các GTCG hoặc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình.
Phát hành GTCG: là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận
nghĩa vụ trả nợ một khoảng tiền trong một khoảng thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện
cam kết khác giữa khách hàng và ngân hàng. Thời hạn phát hành: không quá 60 ngày. Bao gồm GTCG
ngắn hạn (có thời hạn dưới 12 tháng gồm: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu) và CTCG
dài hạn (thời hạn 12 tháng trở lên gồm: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn). NHTM phát hành GTCG
theo từng đợt, phục vụ nhu cầu vốn theo mục tiêu của ngân hàng, ổn định hơn so với huy động vốn
thông qua các hình thức tiền gửi.
Phát hành trái phiếu chuyển đổi-trái phiếu kèm chứng quyền: đảm bảo tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài và quy định về việc góp vốn mua cổ phần của các TCTD khi đến thời hạn mua cổ phiếu
hoặc chuyển đổi thành cổ phiếu.
Phát triển các tài khoản hỗn hợp: là dạng tài khoản tiền gửi hoặc phi tiền gửi cho phép kết hợp thực
hiện các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, môi giới đầu tư, tín dụng. Chủ tài khoản ủy thác dịch vụ trọn gói
cho chuyên viên quản lý tài khoản dịch vụ tại ngân hàng.
Vay ngắn hạn thông qua các hợp đồng mua lại: là hợp đồng được kí kết giữa ngân hàng và khách hàng
có TK tại NH. Là thỏa thuận tạm thời bán chứng khoán chất lượng có tính thanh khoản cao (cổ phiếu ưu
đãi, trái phiếu chính phủ sắp đến hạn thanh toán…) kèm theo thỏa thuận sẽ mua lại các CK này vào một
thời điểm trong tương lai với mức giá xác định trong hợp đồng.
Vốn chiếm dụng: NH sử dụng các loại tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong quá trình tổ chức thanh
toán không dùng tiền mặt (các khoản tiền ký quỹ bảo chi séc, mở thư tín dụng, bảo lãnh NH…) để tạm
thời đáp ứng nhu cầu vốn của NH.
2. Phương thức huy động vốn ở Việt Nam: chủ yếu bằng nghiệp vụ nhận tiền gửi như là tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi có kì hạn và tiền gửi không kì hạn. Nguyên nhân là do: (1) đối với các hình thức này thủ
tục được thực hiện một cách đơn giản và phổ biến và mang lại nguồn vốn tương đối lớn cho các ngân
hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. (2) hệ thống ngân hàng nước ta còn đơn điệu và chất lượng
chưa cao, hiện tại các sản phẩm dịch vụ vẫn còn nặng về các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống (3) thói
quen tiết kiệm của dân chúng vẫn ưa chuộng các hình thức gửi tiền hơn như là một kênh đầu tư an toàn
trong việc cất giữ giá trị và tích lũy nguồn vốn nhàn rỗi của mình. Câu 12: So sánh các loại tiền gửi:
So sánh các loại tiền gửi theo từng nhóm: tiền gửi thanh toán & tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiền
gửi có kì hạn & tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm có kì hạn & tiết kiệm không kì hạn.
Câu 13: Chứng minh Sec là một mệnh lệnh thanh toán vô điều kiện?
Trả lời:
- Đối với những người sử dụng sản phẩm thanh toán Sec thì ngân hàng sẽ cấp cho người này một quyển
Sec và cứ mỗi lần có nhu cầu rút tiền thì khách hàng chỉ việc lập một tờ sec và đến ngân hàng lĩnh tiền.
- Nói Sec là một mệnh lệnh thanh toán vô điều kiện bởi vì khi nhận được lệnh những người liên quan sẽ
phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà không được đưa ra bất kì lí do hay điều kiện nào. Tức là,
khi ngân hàng nhận được Sec , NH phải chấp hành lệnh trả tiền vô điều kiện, trích từ tài khoản của chủ tài
khoản để trả cho người có tên trong tờ Sec, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc
một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay chuyển khoản, ngoại trừ trường hợp tài khoản Sec không còn đủ
số tiền để thanh toán hoặc tờ Sec không có đầy đủ tính chất pháp lý.
Câu 14: Các tiêu chí để một tờ Sec được thanh toán?
Trả lời:
Có 4 tiêu chí để một tờ Sec được chấp nhận thanh toán:
- Hình thức: Kích thước sec và việc bố trí các nội dung trên sec do tổ chức cung ứng sec
thiết kế và thực hiện, riêng sec thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ thì kích thước và vị trí các nội
dung trên sec do trung tâm này qui định. Sec thường được in sẵn theo mẫu có những dòng để trống để
người phát hành Sec điền vào, không dùng các loại viết có mực dễ phai màu để ghi vào sec như bút chì,
bút đỏ
- Nội dung: theo luật các công cụ chuyển nhượng, mặt trước Sec có các nội dung sau
đây:
+ Từ “Séc” được in phía trên Sec
cũng chưa thật sự phát triển mạnh các sản phẩm liên quan đến thanh toán bằng sec.
Do tâm lí của người bán nhận Sec thường lo ngại là trên tài khoản của người mua không còn tiền, Sec
giả… dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối thanh toán Sec. Phần lớn các giao dịch mua bán hiện
nay sử dụng phương thức thanh toán ủy nhiệm chi là chính.
Thói quen tiêu dùng của đại bộ phận dân cư vẫn là tiền mặt.
Câu 16: So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa SEC và UNC?
Trả lời:
Khái niệm: Sec là một mệnh lệnh thanh toán do người ký phát ra lệnh cho ngân hàng để trả cho người
được chỉ định trên tờ sec hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm sec.
UNC: là lệnh chi do chủ tài khoản lập (bên mua) theo mẫu in sẵn của ngân hàng phục vụ
mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để chi trả cho người thụ
hưởng.
1. Giống nhau:
-Cùng là những phương tiện thanh toán, có thể thanh toán cùng hệ thống hoặc khác hệ thống.
-Đơn giản thuận tiện trong việc thanh toán phi tiền mặt. Từ đó giảm được chi phí in, đổi, hủy tiền.
-Do người mua lập để trả tiền mua hàng hóa hoặc dịch vụ cho người bán.
-Trên SEC và UNC đều có ghi tên người bán hay người thụ hưởng và được in theo 1 mẫu sẵn của NH qui
định.
-Chỉ thực hiện được việc thanh toán nếu như số dư trên tài khoản người mua lớn hơn hoặc bằng số tiền ghi
trên UNC hoặc SEC.
-Nếu số dư không đủ NH sẽ đợi cho đến khi nào đủ mới thanh toán. Do đó quyền lợi của người thụ hưởng
chưa được thỏa đáng do tốc độ chuyển tiền chậm đồng thời bị phụ thuộc vào người kí phát.
2. Khác nhau
SEC
UNC
Có thể thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Không bắt buộc người thụ hưởng phải có tài khoản
tại ngân hàng
Chỉ thanh toán bằng chuyển khoản nên bắt buộc
Chi tiêu theo hạn mức tín dụng do ngân
hàng cấp.
Chi tiêu theo trực tiếp trên tài khoản tiền
gửi tại ngân hàng. Trong giới hạn số tiền
thực tế còn trên thẻ
Điều kiện mở thẻ
Chủ thẻ cần phải tín chấp, thế chấp hoặc
kí quỹ với ngân hàng
Thủ tục phát hành thẻ đơn giản và
nhanh chóng.
Đối tượng sử
dụng
Đây là loại thẻ dành cho những người có
thu nhập ổn định
Là loại thẻ dành cho mọi đối tượng có
nhu cầu.
Hình thức sử
dụng
Xài tiền trước, trả tiền sau vào cuối kì
Nộp tiền vào tài khoản trước và xài sau.
Vấn đề quản lí tài
khoản
Dễ dàng rơi vào rủi ro vay nợ tín
dụng. Có thể gặp rắc rối trong quản
lí chi tiêu
Không vướng vào rủi ro vay nợ tín dụng.
Dễ dàng quản lí chi tiêu
Rủi ro trong trường
hợp bị đánh cắp
thông tin
Hệ thống NH nước ta có 6 NHTMNN, 38 NHTMCP, 42 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên
doanh, & 13 công ty cho thuê tài chính , 926 tổ chức tín dụng nhân dân & 54 văn phòng đại diện của
các NH nước ngoài, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 17 Công ty tài chính. Khi thực hiện các cam kết với
tổ chức TWO cấu trúc của hệ thống NHVN có những
thay đổi ; nhìu văn bản luật đã được ban hành một cách đồng bộ, cơ chế chính sách về hoạt động NH
đã một ngày hoàn chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế cơ chế ngày càng thông thoáng & minh bạch
hơn. những phân biệt đối sử giữa loại hình tổ chức tín dụg . trong nước & nc ngoài từng bước đc loại
bỏ ; chức năg cho vay tín dụng chính sàch & cho vay tín dụng thương mại đã được tách bạch; các
NHTM, các tổ chức tín dụng đã được tự chủ và tự chịu trách nhiệm tính cạnh tranh được nâng cao.
Chính sách tiền tệ được đổi mới và điều hành theo nguyên tắc thị trường & phù hợp với thông lệ quốc
tế . Chính sách lãi suất & tỷ giá hối đoái đã đc áp dụng linh hoạt hơn theo cơ chế thị trường .
Hệ thống NH đã đc cơ cấu lại tài chính tăng vốn điều lệ cho các NHTMNN , xử lý nợ xấu , đào tạo
cán bộ & nâng cấp hệ thống trên cơ sở công nghệ hiện đại , nối mạng & thanh toán điện tử
Câu 20 Nêu và phân tích những nhựơc điểm của hệ thống NHTM cổ phần VN hiện nay?
TL:
Những nhược điểm of hệ thống NHTM cổ phần VN hiện nay : Hệ thống dịch vụ NH còn đơn điệu ,
chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng.
Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng giảm chưa chắc chắn , cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối
,hiệu quả sử dụng nguồn vốn huy động đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ còn chưa cao chưa chuyển đc
nhiều thành vốn tín dụng pục vụ cho SXKD. Phần lớn vốn of các NHTMVN đều thấp nên khả năng
thanh khoản & tính bền vững of hệ thống chưa đc cao.Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém , năng
lực quản lý điều hành còn hạn chế so với yêu cầu of NH hiện đại , bộ máy quản lý cồng kềnh ko hiệu
quả. Các NH chưa mỏ rộng & thay đổi phương thức KD năng lực thẩm định dự án thấp , Hệ thống NH
chưa tạo dựng đc 1 hệ thống thông tin có thể đáp ứng kịp thời có hiệu quả cho phân tích dự báo tình
hình tiền tệ ,tín dụng lãi suất…nhiều tổ chức còn còn chưa xây dựng đc quy trình & thực hiện quản lý
tập trung đối với rủi ro thanh khoản thông qua việc xây dựng PT kỳ hạn & chưa xây dựng được quy
trính đối với rủi ro tỷ giá.& thiếu sự liên kết giữa các NHTM với nhau.
Câu 21 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách lãi suất của NHTM?cho VD minh họa để
phân tích trường hợp bán chéo sản phẩm ?
TL :
- Quyền sở hữu tài sản đc thể hiện ngay trên hợp
đồng.
- Chỉ có công ty cho thuê tài chính mới đc thuê.
- Thời hạn thuê : Ngắn
- Chiếm tỷ trọng nhỏ so với TS.
- Mức hủy ngang hợp đồng; Hủy hợp đồng ko thuê
ko fải trả tiền.
- Trách nhiệm bảo hiểm bảo dưỡng tài sản ; nếu tài
sản hư ko phải sửa chữa.
- Quyền sở hữu tài sản ; chưa đc quyền chuyển sở
hữu khi chua góp đủ tiền.
- Tổ chức tài trợ ; cá nhân or tổ chức. Nội dung
Cho thuê tài chính
Cho vay trung dài hạn
Thời gian thuê Mức thu hồi vốn of HĐ Mức hủy ngang HĐ Trách nhiện bảo hiểm TS Trách nhiện về rủi ro