Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý cá nhân trong quá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại học - Pdf 26

Mục lục
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Khách thể - đối tượng nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Giới hạn đề tài nghiên cứu 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
Chương I. Một số vấn đề về trở ngại tâm lý.
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
2. Trở ngại tâm lý 11
3. Đặc điểm khách thể khảo sát 20
4. Trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến quá trình học tập
của sinh viên năm cuối 25
5. Những đóng góp của đề tài 26
Chương II. Thực trạng một số trở ngại tâm lý của sinh viên
năm cuối ở các trường đại học.
1. Nhận thức của sinh viên về trở ngại tâm lý 27
2. Một số biểu hiện trở ngại tâm lý của sinh viên năm cuối 32
3. Hành vi khắc phục trở ngại tâm lý của sinh viên qua một số tình huống 56
4. Một số ý kiến về vấn đề khắc phục những trở ngại tâm lý
ở sinh viên năm cuối 65

Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
1.1 Cơ sở lý luận.

1.2 Cơ sở thực tiễn.
Thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên hiện nay đang đặt ra những vấn
đề vô cùng nan giải.
Trước hết đó là vấn đề bản thân quá trình học tập đang phải đối mặt với
nhiều khó khăn như: về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học còn
nhiều bất cập, hệ thống tri thức còn nghèo nàn lạc hậu Vấn đề ra trường, công
ăn việc làm; quan hệ tình cảm cũng có những tác động không nhỏ đến ý chí
học tập, rèn luyện phấn đấu của sinh viên vv Đối mặt với những khó khăn đó,
ở mỗi sinh viên đều có những phản ứng khác nhau. Chẳng hạn, có những sinh
viên biết trước sẽ khó khăn trong quá trình tìm việc làm sau khi ra trường nên
đã tích cực nỗ lực học tập để trang bị cho mình một hành trang tri thức đầy đủ
vững chắc, tin cậy cho tương lai; nhưng trái lại, có những sinh viên lại tỏ ra bất
cần từ đó dẫn đến thái độ thờ ơ, coi thường học tập rèn luyện nghề. Có trường
hợp sinh viên vì lo lắng, gặp khó khăn trong vấn đề tình cảm mà trở nên bỏ bê,
trễ nải việc học tập; mặt khác, ngay chính kết quả học tập của các kỳ trước cũng
có những tác động nhất định đến kết quả học tập của sinh viên năm cuối
Như vậy chúng ta có thể thấy, có rất nhiều trở ngại tâm lý đã, đang, và sẽ
còn gây ảnh hưởng không tốt tới kết quả học tập của sinh viên năm cuối. Việc
nghiên cứu, làm rõ và tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời những trở ngại tâm lý
đó sẽ tạo điều kiện nâng cao kết quả học tập rèn luyện của sinh viên nói chung
và sinh viên năm cuối nói riêng, lên một bước.
Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề khắc phục những trở ngại
tâm lý nảy sinh và ảnh hưởng tới kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt là sinh
viên năm cuối, là vô cùng quan trọng, cấp thiết. Với những lý do nêu trên, chúng
tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý
cá nhân trong quá trình học tập của sinh viên năm cuối các trường Đại
học”.
3
2. Mục đích nghiên cứu:
Việc tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi nhằm một số mục đích sau:

5.2 Tìm hiểu một số trở ngại tâm lý ảnh hưởng đến quá trình học tập của
sinh viên năm cuối, trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và ĐH
Kinh tế quốc dân.
6. Giới hạn đề tài nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trong phạm vi sau:
* Về đối tượng: đó là một số trở ngại tâm lý cơ bản ảnh hưởng nhiều nhất
đến học tập của sinh viên năm cuối.
* Về khách thể điều tra, gồm:
- 138 sinh viên của các trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà
Nội; ĐH Kinh tế quốc dân, thuộc nhiều khoa, ngành khác nhau.
- 15 giảng viên thuộc khoa Tâm lý giáo dục học – trường ĐH Sư phạm Hà
Nội và trường ĐH Kinh tế quốc dân.
* Về địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu trên phạm vi sinh viên năm cuối của
các trường ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội; ĐH Kinh tế quốc dân.
Phạm vi nghiên cứu kể trên của đề tài còn nhiều hạn chế, do tính cấp thiết
và ý nghĩa thiết thực của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi rất mong đề tài sẽ được
phát triển trên quy mô rộng hơn nữa để kết quả thu được có độ tin cậy cao hơn,
đồng thời bổ xung những thiếu xót mà đề tài chưa giải quyết được.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Nhóm phương phương pháp nghiên cứu lý luận.
Các phương pháp trên được sử dụng một cách triệt để, phát huy tối đa ưu
điểm của phương pháp, đó là khai thác một khối lượng lớn tri thức lý luận nhằm
cung cấp cơ sở lý luận và xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
5
7.2.1 Phương pháp điều tra viết.
Đây là một trong các phương pháp chính, sử dụng xuyên suốt quá trình
nghiên cứu đề tài. Phương pháp điều tra viết trước hết được sử dụng với mục
đích thu thập thông tin, những vấn đề ít nhiều có liên quan đến đề tài nghiên
cứu. Mặt khác những thông tin thu được trong quá trình điều tra khách thể hầu

Qua đây, tác giả nêu lên một số nguyên nhân làm nảy sinh những trở ngại tâm lý
trong quá trình giao tiếp.
Hai tác giả H. Hipsơ và M. Phorvec đồng tác giả cuốn sách lý luận
ỎNhập môn tâm lý học xã hộiÕ, đã lý giải chức năng của giao tiếp , đồng thời
nêu ra các yếu tố gây khó khăn cho giao tiếp.Ử3Ứ
Bên cạnh đó, vào năm 1987 tác giả E.V. Sukanova viết cuốn sách có tựa
đề ỎNhững khó khăn của giao tiếp liên nhân cách Õ, trong đó đề cập sâu sắc
đến những vấn đề điển hình như vị trí, đặc điểm hay nhân cách của hiện tượng
giao tiếp và chủ thể giao tiếp.
Nhìn chung, nghiên cứu của E.V. Sukanova thiên về phân tích những trở
ngại trong giao tiếp liên nhân cách, chưa đề cập đến yếu tố cá nhân có sự chi
phối và ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp với nhau, trong quá trình cùng tham
gia hoạt động với người khác.
Ngoài ra có tác giả V.A. Cancalie, năm 1987 nghiên cứu nhu cầu giao tiếp
sư phạm của giáo viên Ử6Ứ đã nêu ra một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của
7
sinh viên sư phạm. Điển hình như: không biết cách giàn xếp, tổ chức một cuộc
tiếp xúc; không hiểu đặc điểm của đối tượng giao tiếp; có tâm trạng lo lắng, sợ
hãi
V.A. Cancalie đã phân tích khá tỉ mỉ những trở ngại tâm lý trong giao tiếp
của sinh viên sư phạm, đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên nhân của những
trở ngại này.
Như vậy qua việc điểm qua một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu
của các tác giả nước ngoài, nghiên cứu về vấn đề Ỏtrở ngại tâm lýÕ, chúng ta có
thể thấy rằng hầu hết các nghiên cứu chỉ trú ý làm rõ những trở ngại tâm lý trong
hoạt động giao tiếp mà chưa chú ý đúng mức đến các lĩnh vực hoạt dộng khác
của con người. Mặt khác, một lần nữa cho thấy, việc nghiên cứu, làm rõ những
trở ngại tâm lý trong các hoạt động khác về lý luận cũng như thực tiễn biểu hiện
và cách khắc phục là hết sức quan trong và cần thiết.
1.2 Một số nghiên cứu được tiến hành trong nước.

Giáo sư Phạm Ngọc Viễn với cuốn ỎTâm lý học thể thaoÕ tập chung
phân tích biện pháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các vận
động viên , qua đó nêu ra các khó khăn tâm lý thể hiện dưới dạng các cảm giác
sợ hãi, không tin tưởng, do dự trong quyết định v.v Những khó khăn tâm lý
này thường xuất hiện trong điều kiện thi đấu, bị chi phối bởi các yếu tố như:
khởi động không thành công, đối phương của mình có thành tích cao, trọng tài
đánh giá thiếu khách quan. Các khó khăn tâm lý rất đa dạng về nội dung, song
có thể chia thành 3 mặt như sau: Những khó khăn về nhận thức; Những khó
khăn về cảm xúc và Những khó khăn về đạo đức.
Năm 1998, tác giả Nguyễn Thanh Sơn với nghiên cứu ỎNhững khó khăn
của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt NamÕ, đăng trong
tạp chí ỎNghiên cứu giáo dục Õ- số 4. Tác giả đã nêu lên một số khó khăn của
học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam đồng thời chỉ ra
những nguyên nhân của chúng.
9
Cùng năm 1998, nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Chiên với đền tài:
ỎKhắc phục các khó khăn của sinh viên khi sử dụng ngôn ngữ hoá họcÕ, đăng
trong tạp chí ỎNghiên cứu giáo dụcÕ – số 7; đã chỉ ra một số khó khăn của sinh
viên dân tộc khoa hoá học trường ĐHSP. Chẳng hạn: Chưa hiểu hết ý nghĩa của
một số thuật ngữ , khái niệm trong hoá học; Chưa nắm chắc cách gọi tên hợp
chất vô cơ v.v đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân của các khó
khăn này.
Đề tài ỎNghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong xử lý tình huống sư
phạm của sinh viên trường CĐSP Thái BìnhÕ của tác giả Lê Sĩ Khôi Ử4Ứ đã
nghiên cứu một cách khá hệ thống, sâu sắc và toàn diện về trở ngại tâm lý của
sinh viên sư phạm trong giao tiếp. Tác giả Lê Sĩ Khôi đi từ góc độ lý luận đến
thực tiễn, chỉ ra khái niệm cũng như bản chất của trở ngại tâm lý trong giao tiếp
đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và phương cách khắc phục chúng.
Tác giả Nguyễn Minh Hải tiến hành nghiên cứu đề tài ỎNhững khó khăn
tâm lý trong quá trình giải toán của học sinh tiểu họcÕ, đăng trên tạp chí

hãm kết quả mà mình mong muốn đạt tới. Người ta thường nói, do nguyên nhân
này hay nguyên nhân khác làm cản trở hoạt động của mình. Nói khác đi, đó là
những khó khăn hay trở ngại ( gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan) đã tác
động đến quá trình hoạt động của con người. Vì vậy có thể coi trở ngại là những
rào cản, những vướng mắc, những khó khăn khiến cho con người không thể dễ
dàng thực hiện được nhiệm vụ hay hoạt động, hành động của mình, nhiều khi nó
khiến cho con người không thể đạt được kết quả mong muốn cuối cùng.
Trở ngại trong cuộc sống hoạt động của con người có nghĩa bao hàm rất
rộng. Hoạt động của con người đa dạng và phong phú bao nhiêu, thì những trở
ngại thể hiện trong cuộc sống cũng phong phú và đa dạng bấy nhiêu.
Về mặt ngôn ngữ, trong cuốn Từ điển Tiếng Việt – nhà xuất bản Đà Nẵng
giải thích như sau: ỎTrở ngại là gây khó khăn, làm cho không tiến hành được dễ
11
dàng, suôn sẻÕ Ử10 – trang 1045Ứ. Như vậy, trên bình diện lý luận, trở ngại
trong cuộc sống cũng được nhìn nhận bao gồm tất cả những yếu tố nào gây cho
chủ thể những khó khăn, những sự cản trở khi tiến hành một hoạt động nào đó.
Vậy trở ngại tâm lý là gì ? Có phải đó là những khó khăn, trở ngại xảy ra
trong tâm lý, ý thức của con người hay không ? Tiếp theo dưới đây chúng tôi sẽ
làm sáng tỏ vấn đề này.
Như trên đã nói, trong bất kỳ hoạt động nào, con người luôn luôn gặp
những khó khăn trở ngại, làm cho con người không tiến hành được hoạt động,
hoặc làm cho hoạt động không đạt được kết quả như mong muốn. Những khó
khăn đó do những yếu tố chủ quan hoặc khách quan tạo ra; trong đó:
- Những yếu tố khách quan, hay nói cách khác đó là những yếu tố bên
ngoài, chúng bao gồm môi trường sống; môi trường công tác, làm việc, học
tập Con người tồn tại và hoạt động trong những môi trường đó, lại trực tiếp
hoặc gián tiếp chịu các tác động của nền văn hoá, các yếu tố địa lí (đất đai, khí
hậu ), điều kiện, phương tiện làm việc v.v Những yếu tố này tồn tại xung
quanh con người, bên ngoài con người, không chịu sự tác động của con người
do đó được coi là những nhân tố khách quan.

ngầm như các quá trình, các thuộc tính , các trạng thái của con người nói chung,
bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con người Ử7Ứ.
Đồng hành với ý kiến trên, tác giả Phạm Ngọc Viễn khi phân tích các biện
pháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các vận động viên thể
thao, đã đồng thời nêu ra các khó khăn, trở ngại về nhận thức xuất hiện khi họ
(các vận động viên thể thao) phản ánh không đúng về bản thân và tình huống cụ
thể; trở ngại về cảm xúc phụ thuộc vào trạng thái của vận động viên với nhiệm
vụ được giao; tương tự như vậy, trở ngại về đạo đức nẩy sinh khi nhận thức và
rung cảm về những yêu cầu của xã hội Ử9Ứ.
 Nhóm ý kiến thứ ba, gồm những ý kiến nhận định, Ỏtrở ngại tâm lýÕ là
sự thiếu thích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt động
và trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ tức thời, khiến cho chủ thể
13
không kịp thời huy động được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp với
yêu cầu, nội dung, đối tượng và hoàn cảnh công việc.
V.Ph. Galưgin cho rằng: hàng rào tâm lý - đó là trướng ngại có tính chất tâm
lý làm cản trở quá trình thích ứng của cá nhân đối với các yếu tố mới của ngoại
cảnh, do các đặc điểm của hoàn cảnh , đặc điểm của cá nhân Ử7Ứ.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng ba nhóm ý kiến trên đã khái quát khá
rõ nét về bản chất và biểu hiện của hiện tượng Ỏtrở ngại tâm lýÕ trong hoạt
động của con người, trong đó các ý kiến đề cập đến trên mọi phương diện, từ
các trạng thái tâm lý, cảm xúc; cho đến tổ hợp các thuộc tính, các đặc điểm nhân
cách; đến sự thích ứng của chủ thể với môi trường, hoàn cảnh khách quan v.v
Ngoài ra có thể kể tới một số nhà nghiên cứu khác, sau khi xem xét các nhận
định trên, họ đã đưa ra ý kiến của mình trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể
như sau:
- Tác giả Nguyễn Thanh Bình Ử5Ứ : Trở ngại tâm lý trong giao tiếp là
toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp
với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp. Bản chất của trở ngại tâm lý
trong giao tiếp - tác giả khẳng định, là sự không phù hợp giữa những đặc điểm

mà chủ thể tiến hành. Những đặc điểm tâm lý không phù hợp đó đã làm kìm
hãm, cản trở, gây khó khăn cho việc tiến hành hoạt động của chủ thể không
được thuận lợi hoặc không được như ý.
Với cách hiểu như trên, chúng tôi cho rằng, trở ngại tâm lý vừa có tính ổn
định vừa có tính cơ động. Bởi lẽ, với những chủ thể có những đặc điểm tâm lý
trong hệ thống cấu trúc nhân cách (như xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực)
không phù hợp với một loại hình hoạt động nào đó, thì chắc chắn khi tiến hành
hoạt động này, cá nhân đó sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với các cá nhân khác.
Nhưng sự không phù hợp này chỉ có tính chất tương đối, vì, khi cá nhân đó biết
cách khắc phục những đặc điểm tâm lý không phù hợp (ví dụ: sự nhút nhát trong
giao tiếp; sự thiếu hụt kiến thức trong giải quyết tình huống ) thì khi đó những
trở ngại tâm lý, hay nói đúng hơn là những đặc điểm tâm lý không phù hợp với
hoạt động đó sẽ bị loại bỏ, từ đó giúp cho hoạt động của mình tiến hành được dễ
dàng thuận lợi hơn và đạt kết quả tốt nhất. Đây cũng chính là một trong những
15
lý do để chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài này. Mặt khác, như
nhiều nhà nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng, trở ngại tâm lý bao gồm cả sự thiếu
thích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt động và trong việc
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ tức thời, khiến cho chủ thể không kịp thời huy
động được những đặc điểm cá nhân cho phù hợp với yêu cầu, nội dung, đối
tượng và hoàn cảnh công việc (trên đã dẫn). Như vậy điều này có nghĩa là, trong
những tình huống cụ thể, đối với người này có thể là tâm lý gặp khó khăn,
nhưng với người khác thì không. Hoặc ở thời điểm này, chủ thể thể gặp khó
khăn đối với tình huống ấy, nhưng ở thời điểm khác thì không (nhất là khi tình
huống khó khăn đã lặp lại nhiều lần). Chính vì vậy điều này cũng cho thấy tính
cơ động, không bất biến của những trở ngại tâm lý.
2.3 Phân loại trở ngại tâm lý.
2.3.1 Căn cứ trên hình thức biểu hiện của trở ngại tâm lý, tác giả Lê
Sĩ Khôi Ử4Ứ phân loại như sau:
*Trở ngại tâm lý về mặt nhận thức.

với người khác, trở ngại tâm lý A gây ảnh hưởng rất ít và tồn tại trong khoảng
thời gian ngắn là mất đi.
2.4 Trở ngại tâm lý cá nhân.
2.4.1 Khái niệm cá nhân và trở ngại tâm lý cá nhân.
2.4.1.1 Cá nhân.
Khái niệm Ỏcá nhânÕ bắt đầu được hình thành ngay từ thời cổ đại. Lúc
đầu, thuật ngữ ỎpersonaÕ dùng để chỉ cái mặt nạ mà diễn viên của sân khấu cổ
đại đeo vào khi trình diễn, sau đó nó dùng để chỉ bản thân người diễn viên và cái
vai mà người đó đóng. Dĩ nhiên thuật ngữ Ỏcá nhânÕ đã được khái quát hoá và
sau đó dùng để chỉ vai trò thực sự của con người trong đời sống xã hội.
A.G.Côvaliov cho rằng: cá nhân là một cá thể có ý thức, có một vị trí nhất
định và thực hiện một chức năng nhất định trong xã hội Ử1; trang 16Ứ.
17
Trong các xã hội phong kiến và xã hội tư bản đều quan niệm một cách
phản động về cá nhân. Bởi lẽ họ cho rằng, chỉ những kẻ có Ỏdòng dõi quý tộcÕ,
hoặc những kẻ giàu có, chiếm hữu nhiều tài sản mới được coi là một cá nhân,
một nhân vật trong xã hội. Ngoài ra, trong xã hội tư bản còn truyền bá nhiều
quan điểm tâm sinh lý học, điển hình như học thuyết Freud. Theo thuyết này, thì
cá nhân là một cá tính sinh vật học đóng khung trong bản thân nó, tuy sống
trong xã hội và chịu tác động của xã hội nhưng lại đối lập với xã hội. Như vậy
quan điểm của S.Freud là biểu hiện nổi bật của chủ nghĩa cá nhân sinh vật học
về nhân cách. Sau này, những người theo thuyết Freud mới (Hoocni ; Frôm ) đã
tìm cách làm dịu bớt quan niệm sinh vật học dung tục về nhân cách do Freud
đưa ra. Họ cố đổi mới thuyết này bằng cách giảm bớt vai trò của tính dục trong
cuộc sống của con người, thừa nhận vai trò tích cực của văn hóa và của hoàn
cảnh xã hội nói chung. Tuy nhiên học thuyết Freud kể cả cũ và mới là một quan
điểm phản khoa học, phản động về nhân cách, nó biện hộ cho chế độ tư bản hiện
hành, cho tình cảnh khổ cực của các cá nhân trong chế độ đó. Thuyết Freud làm
cho con người lãng quên việc giải quyết những vấn đề xã hội và đắm chìm vào
thế giới những hiện tượng tâm lý bí hiểm và những xung đột trong tâm hồn.

giống ai, phản ánh quá trình sinh sống và phát triển cụ thể của cá nhân đó. Mỗi
người đều có một lịch sử phát triển riêng. Song, cần nhớ rằng, cái chung, cái đặc
thù và cái cá biệt trong bộ mặt tinh thần của một người không phải nằm cạnh
nhau mà thống nhất với nhau và thâm nhập vào nhau. V.I.Lênin khẳng định rằng
cái chung biểu hiện trong cái cá biệt và thông qua cái cá biệt.
Như vậy việc nghiên cứu về cá nhân nói chung, trong đó nghiên cứu về
những trở ngại tâm lý của cá nhân nói riêng cần phải chú ý đến những thuộc tính
bản chất riêng biệt, độc đáo ở cá nhân cũng nhưng những đặc điển tâm lý chung
của một nhóm, tập thể mà cá nhân đó có mối quan hệ, liên quan trực tiếp hay
gián tiếp.
Trong nghiên cứu về một số trở ngại tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến quá
trình học tập của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu trên cơ sở những lý luận khoa học về cá nhân, nghiên cứu trở ngại
tâm lý cá nhân trong sự thống nhất và có mối quan hệ qua lại với tập thể, nhóm
19
khách thể nghiên cứu nói riêng và sự ảnh hưởng, tác động của môi trường, xã
hội nói chung.
2.4.2 Biểu hiện của trở ngại tâm lý cá nhân.
Trở ngại tâm lý cá nhân được thể hiện trên ba mặt, đó là mặt nhận thức,
thái độ và hành vi của chủ thể.
* Thứ nhất, về mặt nhận thức: Nhận thức là thành tố đầu tiên quan trọng
trong đời sống tâm lý con người. Trên cơ sở mà mỗi cá nhân bày tỏ thái độ và
hành vi ứng xử tương ứng. Người có trở ngại trong nhận thức thường có hiểu
biết không đầy đủ về đối tượng của mình. Vấn đề hiểu biết đầy đủ về đối tượng
là cơ sở quan trọng giúp chủ thể thành công trong hoạt động. Nhờ có những hiểu
biết này, mà chủ thể chủ động lựa chọn nội dung cách thức hoạt động phù hợp
đối tượng.
* Thứ hai, về mặt thái độ: Trở ngại tâm lý của cá nhân ở mặt thái độ, được
biểu hiện thông qua cách nhìn nhận, quan điểm, đánh giá, xúc cảm, tình cảm
của cá nhân đó với đối tượng. Thường là những biểu hiện như:

tạo, ưa thích hoạt động, chính vì thế họ thường có mối quan hệ rất quảng giao,
luôn hoà đồng với xung quanh, dễ thích nghi và dễ thay đổi.
Những đặc điểm nhân cách đang và đã hình thành nêu trên ở sinh viên
cũng làm nảy sinh một số mặt tiêu cực nhất định. Có thể thấy rất rõ ràng, đó là
tính bốc đồng, dễ bị lôi kéo, nhất thời có những suy nghĩ và hành động sai sót.
Bên cạnh những tấm gương sáng về sinh viên miệt mài nghiên cứu học tập, rèn
luyện bản thân để ngày mai lập nghiệp, chúng ta cũng thấy nhiều hiện tượng
sinh viên sa ngã vào các tệ nạn xã hội, hay đó đây vẫn thấy hiện tượng sinh viên
tỏ ra chán nản, thất vọng với cuộc sống. Đa số sinh viên là có ước mơ cao đẹp,
phấn đấu vì lý tưởng, mong muốn có một cuộc sống ổn định và thành đạt, nhưng
vẫn còn đó những sinh viên có suy nghĩ nông cạn, hời hợt quá coi trọng lối sống
vật chất, sống không có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội. Không
21
phải ngẫu nhiên mà khi nói về sinh viên, người ta luôn phải đề cập đến mặt tốt
và mặt xấu, mặt được và chưa được ở họ:ỎSV VN vốn Ỗýợc coi lỔ nóng nổ,
nhanh nhẹn, cần cự nhýng khụng ớt bạn chỉ biết cú ngồi nghe, chộp vỔ ngủ!
Chuyện ỎSV thụ Ỗộng hay khụngÕ vốn khụng cũn lỔ chuyện riờng SV mỔ
cũn lỔ cả nguồn lực trớ thức xõy dựng, phỏt triển Ỗất nýớc hụm nay vỔ ngỔy
maiÕ.́(Báo điện tử – Trang web: – Tuổi trẻ online;
thứ sáu ngày 28/01/2005).
Sinh viên trong thời kỳ đổi mới có điều kiện nền kinh tế – xã hội phát
triển không ngừng, nền tri thức nhân loại tăng lên theo từng giây, đang có rất
nhiều những cơ hội, những tiềm năng phát triển, song cũng vì vậy mà có không
ít những khó khăn, thử thách.
Họ được chăm sóc tốt về mặt thể chất sức khoẻ, được quan tâm giáo dục
cả về tri thức, kỹ năng và những phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt đẹp. Được
trang bị, cũng như tiếp cận những tri thức, khoa học công nghệ tiên tiến của thế
giới. Có nhiều cơ hội nhận thức và khẳng định mình trong những cuộc thi lớn
như ỎTrí tuệ Việt NamÕ (cuộc thi sáng tạo phần mềm công nghệ thông tin);
ỎRôbôconÕ (cuộc thi chế tạo rô-bốt), hay ỎKhởi nghiệpÕ – một cuộc thi nhằm

đối mặt nhiều nhất với những khó khăn.
Đây là thời kỳ mà sinh viên cần phải cố gắng nhất, nỗ lực nhất nếu muốn
hoàn thiện mình, nếu muốn phấn đấu để những dự định, hoài bão có thể trở
thành hiện thực.
Sinh viên phải bận rộn hơn với những công việc, lo toan. Họ bị chi phối
nhiều hơn bởi các mối quan hệ. Bị chi phối nhiều hơn bởi kết quả học tập. Nếu
như ở các năm trước, nỗi lo về công ăn việc làm chỉ gợn lên trong lòng họ
những suy nghĩ băn khoăn, trăn trở thì giờ đây họ phải trực tiếp đối mặt với thực
tế khó khăn khi tìm việc phù hợp với năng lực và nguyện vọng, lại bị chi phối
bởi điều kiện thực tế của mình. Họ trực tiếp chịu sự chi phối, tác động hoặc tích
cực, hoặc tiêu cực của vấn đề việc làm sau khi ra trường. Trong thực tiễn chúng
tôi ghi nhận được, câu hỏi thường thấy ở các sinh viên năm cuối đó là dự định sẽ
xin việc ở đâu, xin việc như thế nào ? Mà đó là những câu hỏi không dễ gì tìm ra
lời giải đáp, không chỉ đối với sinh viên mà đối với cả xã hội hiện nay.
23
Những khó khăn, tác động bên ngoài đó, vô hình chung đã đẩy sinh viên
vào những khó khăn tâm lý nhất định. ở mỗi sinh viên khác nhau, mỗi ngành
nghề khác nhau, vấn đề khó khăn không giống nhau, mặt khác, mức độ cũng rất
khác, song, dù ít, dù nhiều, không ai dám khẳng định rằng mình không gặp khó
khăn nào trong tâm lý khi phải đối mặt với thực tiễn hiện nay.
3.2 Về khách thể nghiên cứu.
Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên 138 sinh viên năm cuối của 3 trường ĐH
có uy tín cao ở Hà Nội, đó là: ĐH Sư phạm Hà Nội; ĐH Quốc Gia Hà Nội và
ĐH Kinh tế quốc dân. Trong đó:
+ Tỉ lệ Nam – Nữ là tương đương (69 sinh viên nam và 69 sinh viên nữ)
+ Tỉ lệ sinh viên của mỗi trường là cân bằng nhau:
• ĐH Sư phạm Hà Nội 46 sinh viên. Gồm : 23 sinh viên nam và 23 sinh
viên nữ.
• ĐH Quốc Gia Hà Nội 46 sinh viên. Gồm : 23 sinh viên nam và 23 sinh
viên nữ.

mẽ. Vấn đề mà sinh viên ĐH Quốc Gia Hà Nội thường quan tâm sau khi ra
trường, không phải là tìm cho mình một công việc ổn định, mà quan trọng hơn,
công việc đó phải tương sứng với năng lực của họ, bên cạnh đó còn là sự cạnh
tranh trong công việc.
3.2.3 Sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân.
Chúng tôi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên 46 sinh viên của trường ĐH
Kinh tế quốc dân, thuộc nhiều khoa khác nhau (tỉ lệ nam – nữ tương đương).
Chuyên ngành đào tạo của sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân thuộc khối
khoa học tự nhiên với chương trình đào tạo 4 năm.
Sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân có nhiều nét tương đồng với sinh
viên ĐH Quốc Gia Hà Nội do đặc thù của chuyên ngành đào tạo. Họ cũng có sự
năng động nhất định trong mọi hoạt động. Mỗi sinh viên đều ý thức rất rõ được
sự cạnh tranh sau khi ra trường để có được một công việc phù hợp với nhu cầu
và năng lực của mình. Cũng giống như sinh viên khoa Kinh tế trường ĐH Quốc
Gia Hà Nội, ngay từ trước khi bắt đầu kỳ thực tập họ đã tự mình đi liên hệ cơ sở
25

Trích đoạn Mụ̣t sụ́ biờ̉u hiợ̀n trở ngại tõm lý của sinh viờn năm cuụ́i
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status