Trờng THCS Đông Ngũ
Tổ xã hội
Chuyên đề:
Tìm hiểu một số biện pháp nghệ thuật trong
văn bản tự sự hiện đại Việt Nam
Báo cáo lí thuyết: Nguyễn Khánh
Thực hành: Nguyễn Hơng Nhài
I./ í do chọn chuyên đề:
1.Cơ sở lí luận
- Môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong trờng phổ thông, có y nghĩa
trong việc hình thành, phát triển, định hớng nhân cách cho học sinh. Học văn là học làm ng-
ời, học các phép tắc ứng xử trong cuộc sống. Mặt khác, đây là một môn học nghệ thuật, kích
thích trí tởng tợng bay bổng, sức sáng tạo của ngời học. Nên để dạy và học tốt môn NV, ngời
dạy và ngời học phải không ngừng trau dồi vốn kiến thức ngôn ngữ, từ vựng, các kiến thức
liên quan về các hình thức nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ,các câu ca dao tục ngữ, lấy đó
làm vốn sống, vốn kinh nghiệm cho bản thân.
- Nghị quyết hội nghị lần II BCH TW Đảng khóa VIII nêu rõ: Đổi mới phơng pháp
GDĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều,rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo của ngời học;
Phơng pháp GD phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, t duy sáng tạo của ngời học,
bồi dỡng lòng say mê học tập và y chí vơn lên
- Trong một TPVH có giá trị thì các hình thức nghệ thuật luôn thống nhất với nội
dung. Bêlinxki-Nhà phê bình lí luận VH Nga viết rằng: trong TPNT, nội dung và các hình
thức nghệ thuật phải luôn hòa hợp với nhau một cách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác. Nếu
hủy diệt hình thức nghệ thuật thì cũng là hủy diệt nội dung t tởng của TP và ngợc lại cũng
vậy.
- Hêghen viết: TPVH mà thiếu đi hình thức nghệ thuật thích đáng thì không phải là 1
TPVH thực sự. Và đối với ngời nghệ sĩ khi đó sẽ là một biểu hiện tồi nếu nh ngời ta nói rằng
về ND thì TP anh tốt, nhng nó thiếu đi các hình thức nghệ thuật thích đáng. Chỉ có những
TPVH mà ND và hình thức thống nhất với nhau mới là những TPVH đích thực.
-Trong môn NV, ngời học chỉ chú trọng vào việc tìm hiểu về nội dung mà quên đi
những hình thức nghệ thuật của TP thì lúc đó việc dạy và học chắc chắn sẽ không đạt hiệu
90 phút nghiên cứu trên lớp, HS rất khó có thể khai thác hết đợc toàn bộ các giá trị tác phẩm.
Về phía GV:
- Tình hình thực tế hiện nay là còn nhiều GV trẻ, nên việc làm thế nào để truyền đạt
hết nội dung kiến thức cả về nội dung và nghệ thuật của VB là tơng đối khó khăn. Thao tác
xử lí bài giảng còn hạn chế. Nhiều GV chỉ đi sâu khai thác nội dung, cha chú trọng khai thác
nghệ thuật VB.
- GV còn lúng túng khi đa ra hệ thống câu hỏi khai thác nghệ thuật
- Khả năng kết hợp từ nghệ thuật để làm nổi bật nội dung còn yếu.
- Tích hợp kém, không để tích hợp học. Nhiều VB mới đa vào cũng gây không ít khó
khăn khi tìm hiểu và truyền thụ kiến thức..
- Kiến thức lí luận văn học còn yếu.
Chính vì những lí do trên mà tổ xã hội chúng tôi đã chọn chuyên đề này để nghiên cứu
thc hiện, hi vọng sẽ làm tăng chất lợng dạy và học, gây hứng thứ với GVvà HS.
II./ Ph ơng pháp nghiên cứu .
- Nghiên cứu tài liệu.
- Điều tra thực tế, Phiếu thăm dò.
- Dạy thực nghiệm.
III./Mục đích nghiên cứu
- Giúp HS hiểu thêm về các biện pháp nghệ thuật trong VBTSHDVN.
- Biết cách phân tích và đa ra tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong mối liên
hệ với nội dung tác phẩm.
- Biết vận dụng các hiểu biết để phân tích các TPTS nói chung và TPTSHDVN nói
riêng.
2
- GV có thể áp dụng vào các bài dạy, biết cách khai thác và truyền thụ tốt hơn tới HS
các hình thức nghệ thuật.
IV./ Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn ở đối tợng HS khối 9 trờng THCS Đông Ngũ.
- Phạm vi là các văn bản tự sự hiện đại VN sau CMT8 (trong 2 cuộc kháng chiến của
dân tộc va giai đoạn sau 1975).
+Nhân vật loại hình: thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một laọi ng-
ời nhất định của xã hội (Anh thanh niên-LLSP).
+ Nhân vật tính cách: là nhân vật có diễn biến nội tâm phức tạp, không đồng nhất, th-
ờng có một quá trình phát triển với nhiều cung bậc, tâm trạng khác nhau. (Thu-Chiếc lợc ngà,
ông Hai- Làng, Phơng Định-NNSXX) có diễn biến phức tạp, đa dạng, nhiều chiều.
3
+ Nhân vật t tởng: Nhân vật này cũng thể hiện một cá tính, một nhân cách nhng cái
chính là một hiện tợng t tởng, một thức diễn ra trong đời sống. (nhân vật tôi trong truyện
ngắn bức tranh, nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến Quê của Nguyễn Mnh Châu).
- Cốt truyện: Là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện. Bất cứ truyện lớn, truyện
nhỏ cốt truyện nói chung cũng bao gồm các thành phần chính là thắt nút phát triển cao
trào mở nút. Có cốt truyện thì đơn giản( nh truyện Lặng lẽ sapa- cốt truyện chỉ xoay
quanh một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già,cô kĩ s trẻ với anh thanh niên làm
công tác ở trạm khí tợng trên đỉnh Yên Sơn- nhân vật chính chỉ hiện ra trong chốc lát nhng để
lại cho các nhân vật khác nhiều tình cảm tốt đẹp), có cốt truyện thì phức tạp. Mục đích của
cốt truyện là giúp ngời đọc nhận ra một điều gì đó.
- Kết cấu: Đây là một phơng tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Trên một phơng
diện lớn có thể nói sáng tác tức là kết cấu, đó là việc xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt
truyện, xây dựng tính cách. Là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trng nghệ thuật và
nhiệm vụ cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội
dung cuộc sống và nội dung t tởng trong tác phẩm văn học.
- Trần thuật: là yếu tố quan trọng trong văn bản tự sự. Trần thuật là sự trình bày liên
tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một
cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định. Đây là sự thể hiện của hình t-
ợng văn học, truyền đạt nó tới ngời thởng thức.
2. Đặc điểm của văn bản tự sự hiện đại VN.
- Nằm trong chơng trình ngữ văn lớp 9, chia làm 5 tác phẩm (nh tôi đã nói ở trên) sáng
tác theo 3 giai đoạn chính:+ Kháng chiến chống Pháp.( Làng-KL)
+ Kháng chiến chống Mĩ (Chiếc lợc ngà, lặng lẽ sapa, những ngôi sao xa xôi).
+Sau 1975-giai đoạn đất nớc thống nhất. (Bến quê).
Ngời ta nói tới 3 loại điểm nhìn trong 1 VBTS:
+ Điểm nhìn bên trong (điểm nhìn thông qua đôi mắt của một nhân vật trong truyện)
+ Điểm nhìn bên ngoài: một ngời quan sát bên ngoài, khách quan, trung tính, không đi
sâu vào tâm lí nhân vật.
+ Điểm nhìn thấu suốt: ngời kể chuyện có mặt ở khắp mọi nơi, thấy tất cả mọi hành
động, t tởng, tình cảm của nhân vật và đa ra nhận xét đánh giá về họ.
- Khi nghiên cứu và phân tích tác phẩm, GV không nên đánh đồng ngời kể chuyện với
tác giả ngay cả khi ngời kê chuyện xng tôi. Trong các tác phẩm truyện ngắn HĐ VN, vấn
đề ngời kể chuyện và việc thay đổi các điểm nhìn khác nhau rất có nghĩa. Nó giúp tác giả
bộc lộ t tởng, tình cảm và suy nghĩ của mình một cách sinh động. Khi thì trực tiếp, khi thì
gián tiếp, khi thì đi sâu vào tâm lí từng nhân vật, khi miêu tả thì rất lạnh lùng, khách quan,
tạo ra cái nhìn nhiều chiều và tránh đợc sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
- VD
- GV có thể đặt câu hỏi để khai thác nghệ thuật này nh sau: Truyện đ ợc kể theo ngôi
thứ mấy, ngôi kể này có tác dụng gì trong việc miêu tả tâm lí nhân vật?
Qua ngôi kể này, giúp cho ngời kể dễ đi sâu vào tâm t, tình cảm, miêu tả đợc nhiều
diễn biến tâm lí tinh vi, phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật tôi, ở đây là Phơng
Định. Qua đây, Lê Minh Khuê đã tạo đợc thuận lợi để biểu hiện đời sống nội tâm với nhiều
hình thức cảm xúc ấn tợng, hồi tởng của Phơng Định, làm nổi bật rõ vẻ đẹp trong sáng và hồn
nhiên của PĐ. Qua ngôi kể này ta có thể thấy đợc tâm lí phức tạp qua 1 lần phá bom, hay trớc
cơn ma đá bất chợt, điều mà ngôi kể khác không làm đợc. Tuy nhiên lu y/ rằng ngôi kể này
cũng có hạn chế trong việc miêu tả bao quát cảu đối tợng khách quan sinh động, khó tạo ra
cái nhìn nhiều chiều. Bằng chứng là ta ít biết về những rung động trong tâm lí nhân vật Nho,
Thao. Họ chỉ xuất hiện qua cái nhìn của ngời kể chuyện.
- Ngoài hình thức kể trên, còn thờng xuất hiện hình thức kể chuyện theo ngôi thứ 3,
qua đó ngời kể giấu mình nhng có mặt ở khắp mọi nơi trong TP. Ngời kể chuyện này dờng
nh biết hết mọi việc, mọi hành động, tâm t, tình cảm, của các nhân vật. Ngời kể chuyện có
vai trò dẫn dắt ngời đọc đi vào câu chuyện giới thiệu nhân vật và tình huống truyện, tả ngời
và tả cảnh vật, đa ra các nhận xét và đánh giá về điều đợc kể. Trong tác phẩm lặng lẽ sapa,
ngời kể chuyện dờng nh biết hết mọi thay đổi tâm lí tình cảm của anh thanh niên, cô kĩ s hay