Luận văn thạc sĩ giải pháp liên kết với các địa phương vùng duyên hải miền trung trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của tỉnh quảng ngãi - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN VI AN

GIẢI PHÁP LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG
VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HIỆP

Đà Nẵng – Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Vi An


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các chữ

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

IMF

Quỹ Tiền tệ quốc tế

KCN

Khu công nghiệp

KKT

Khu kinh tế

LGI

Sáng kiến chính quyền địa phương của Hiệp hội mở

M&A


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 3
5. Kết cấu của đề tài ................................................................................... 3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu................................................................. 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT TRONG THU HÚT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI....................................................... 14
1.1. TỔNG QUAN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI. 14
1.1.1. Một số khái niệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài............... 14
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI............................................ 17
1.2. TỔNG QUAN VỀ LIÊN KẾT THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI. ........................................................................................................... 21
1.2.1. Khái niệm về liên kết giữa các địa phương .................................... 21
1.2.2. Tổng quan về liên kết giữa các địa phương trong thu hút FDI....... 22
1.2.3. Nội dung liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một
địa phương ................................................................................................ 30
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT TRONG THU HÚT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA ĐỊA PHƯƠNG ...................... 36
1.3.1. Các nhân tố bên ngoài địa phương: ................................................ 36
1.3.2. Các nhân tố bên trong địa phương:................................................. 39


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG
VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI CỦA
TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG THỜI GIAN QUA .................................. 40
2.1. KHÁI QUÁT BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
LIÊN KẾT TRONG THU HÚT FDI CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI VÀ CÁC
TỈNH TRONG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG................................... 40

3.1.3. Nhu cầu liên kết Vùng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Vùng duyên hải miền Trung .................................................................... 91
3.1.4. Vị thế và năng lực liên kết của tỉnh Quảng Ngãi............................ 92
3.2. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT VỚI CÁC ĐỊA
PHƯƠNG VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG TRONG THU HÚT FDI
CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI ........................................................................... 94
3.2.1. Giải pháp liên kết trong hoạch định tổ chức thu hút đầu tư .......... 94
3.2.2. Giải pháp liên kết trong lãnh đạo thực thi thu hút đầu tư............. 101
3.2.3. Giải pháp liên kết trong hỗ trợ và quản lý tiền dự án và dự án
đầu tư ...................................................................................................... 104
3.2.4. Giải pháp liên kết trong dịch vụ hỗ trợ đầu tư.............................. 106
3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO
NĂNG LỰC LIÊN KẾT TRONG THU HÚT FDI ...................................... 109
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức liên kết thu hút FDI......... 109
3.3.2. Giải pháp nâng cao năng lực liên kết trong thu hút FDI .............. 110
3.3.3. Giải pháp liên kết hỗ trợ quản lý liên kết Vùng trong thu
hút FDI .................................................................................................. 112
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO


QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng


89


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) chiếm một phần ba chiều dài bờ
biển của nước ta, với vị trí là “mặt tiền” của đất nước hướng ra biển Đông; có
tiềm năng kinh tế biển to lớn. Trong thời gian gần đây, mỗi địa phương trong
Vùng đều có những nỗ lực mạnh mẽ, chủ động khai thác lợi thế về điều kiện
tự nhiên, thu hút đầu tư, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương nhằm đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Bên cạnh đó, Vùng
duyên hải miền Trung cũng đã hình thành một hệ thống đô thị phân bố khá
đều theo lãnh thổ. Đây là những yếu tố có tác động lớn đến việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của vùng
trong tương lai.
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, là một
trung tâm kinh tế và an ninh quốc phòng lớn của Vùng. Nhận thức được
những lợi thế đặt biệt, riêng có, trong thời gian qua tỉnh Quảng Ngãi đã tăng
cường công tác thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp tư nước ngoài vào Quảng
Ngãi góp phần làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà. Tuy nhiên, cơ cấu
đầu tư FDI vào tỉnh còn bất hợp lý dẫn đến mất cân đối trong việc phát triển
giữa các ngành kinh tế làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng CNH-HĐH của tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời, những lĩnh vực
đầu tư FDI vào Quảng Ngãi còn mang nặng tính lắp ráp, gia công. Vì vậy,
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thực sự tạo ra động lực phát
triển ngành công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung tại tỉnh.
Qua quá trình thu hút FDI của mỗi địa phương Vùng duyên hải miền

liên kết với các địa phương khác trong Vùng duyên hải miền Trung trong thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Quảng Ngãi, các giải pháp được đề
xuất tăng cường khả năng liên kết thu hút FDI.
- Về không gian: Vùng duyên hải miền Trung được giới hạn trong 09


3

tỉnh là Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi , Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Về thời gian: Thực trạng của đối tượng nghiên cứu được giới hạn trong
phạm vi đến nữa đầu năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống hoá: Phương pháp này được sử dụng trong
phần tìm hiểu cơ sở lý luận, nghiên cứu vấn đề, tiếp cận những nội dung
người đi trước đã làm nhằm nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện
hơn, từ đó, xác định được nội dung cần tập trung nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Tiến hành thu thập dữ liệu từ các nguồn là
các báo cáo, tổng hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước về thu hút FDI và các
tài liệu được công bố của các cơ quan thống kê và tổ chức có liên quan. Ngoài
ra, một số thông tin dữ liệu sơ cấp được thu nhập thừ điều tra phỏng vấn.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng
nhằm làm rõ các khái niệm trung tâm của vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh,... được sử dụng trong các lập luận quy nạp và suy diễn nhằm
xác định cụ thể những thành công và hạn chế của việc liên kết đến thu hút
FDI của tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về liên kết trong thu hút đầu tư trực tiếp nước

cao và các ngành có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên, nếu chính phủ các
nước không có định hướng tốt dễ gây mất cân đối về ngành kinh tế. Mặc dù
đầu tư trực tiếp nước ngoài được cho là có cả tác động tích cực lẫn tác động
tiêu cực đến quốc gia đầu tư cũng như quốc gia nhận đầu tư, nhưng vốn FDI
vẫn là nguồn vốn quan trọng cho tất cả các quốc gia trên thế giới và vì thế đầu
tư trực tiếp nước ngoài vẫn luôn diễn ra mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu


5

hoá ngày nay.
- Có nhiều cách tiếp cận trong lý thuyết về thu hút vốn FDI, tiêu biểu là
hai trường phái của Loewendahl (2001)[24], được dẫn trong Bartels and de
Crombrugghe (2009)[16], tiếp cận thu hút đầu tư theo quá trình ra quyết định
đầu tư của chủ đầu tư. Theo cách tiếp cận này, thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài được hiểu là một quá trình marketing quốc tế trong đầu tư và chính sách
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách xúc tiến và hỗ trợ đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI promotion and facilitation). Thường đây là nỗ lực
của các chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương. Cụ thể, khung
chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được chia thành 4 nhóm
nội dung, gồm: hoạch định và tổ chức thu hút đầu tư; lãnh đạo thực thi thu hút
đầu tư; hỗ trợ thực thi thu hút đầu tư và hỗ trợ, giám sát hoạt động thu hút đầu
tư. Cũng theo nghiên cứu này, các công cụ được sử dụng trong thu hút được
chia thành 2 nhóm là nhóm công cụ thể chế (regulatory measures) và nhóm
công cụ khuyến khích (incentive measures). Cách tiếp cận thứ hai về thu hút
FDI là cách tiếp cận của marketing địa phương trong thu hút đầu tư (place
marketing in investment attraction) của Kotler và cộng sự (1993). Khác với
quan điểm cho rằng địa phương là nơi cần vốn đầu tư và thu hút đầu tư, đó là
việc nỗ lực thu hút đầu tư của các cấp chính quyền. Quan điểm này xem địa
phương là một sản phẩm mang cơ hội đầu tư đối với khách hàng là các nhà

hoạt động kinh tế ở những khu vực năng động nhất tạo nên “cực tăng trưởng”
của vùng. Các cực tăng trưởng này có sức lan tỏa, sức hút dòng hàng hóa
nguyên liệu và lao động trong các khu vực khác trong và ngoài vùng, thúc
đẩy hình thành không gian liên kết kinh tế và mạng lưới buôn bán, hình thành
các liên kết kinh tế giữa cực tăng trưởng với các vùng xung quanh. Mỗi cực
tăng trưởng có một vai trò nhất định, dần dần sẽ phát triển và lan tỏa kéo theo
sự phát triển của các khu vực khác trong vùng. Ông cho rằng, tăng trưởng và


7

phát triển không thể xuất hiện đồng đều ở mọi nơi với một nguồn lực tới hạn
mà trước hết tập trung ở một số điểm có lợi thế phát triển hơn, sau đó lan tỏa
qua các kênh khác nhau với những hiệu ứng khác nhau đối với nền kinh tế.
John Friedmann (1966), trong tác phẩm Regional development policy: A
case study of Venezuela; Cambridge, Mass: MIT Press4 đã đưa ra một cách
tiếp cận về liên kết không gian trong phát triển vùng là mô hình trung tâm ngoại vi. Quan điểm của ông nhấn mạnh về tổ chức không gian vùng với các
liên kết sản xuất và thương mại trong một trung tâm có nguồn lực dồi dào,
trong đó nguồn lực con người có chất lượng tay nghề cao. Ở những trung tâm
này có sự phát triển và đổi mới liên tục sẽ thu hút sự phát triển ở các vùng
ngoại vi. Các vùng ngoại vi có nhiều lao động trình độ thấp hơn và sự phát
triển lại phụ thuộc vùng trung tâm. Với cách tiếp cận nghiên cứu về đầu vào đầu ra, Trong tác phẩm The strategy of economic development , Hirschman
(1958) khi đề cập đến liên kết kinh tế vùng ông đã sử dụng khái niệm liên kết
ngược (backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward
linkages, downstream linkages) để nghiên cứu các mối quan hệ ngành và liên
ngành. Ông cho rằng các hiệu ứng liên kết ngược nảy sinh từ nhu cầu cung
ứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết
xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các
ngành khác đi theo. Nói cách khác bất kỳ một ngành nào mới được thiết lập
cũng kéo theo các hoạt động sản xuất khác nhằm cung cấp đầu vào cho nó; và

trực tiếp nước ngoài là sự liên minh, kết hợp các nỗ lực chính sách nhằm tác
động, khuyến khích và lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào địa
phương mình nói riêng và vào cả vùng nói chung theo định hướng và các mục
tiêu chung của vùng, có lợi cho tất cả các địa phương. Về mặt lý thuyết, liên
kết trong thu hút đầu tư được cho là do có sự tồn tại của “thất bại thị trường”.
Để vốn được đầu tư sử dụng ở một nơi đem lại hiệu quả cao nhất thì sự điều


9

phối của cơ chế thị trường tự do là hợp lý nhất, tức cho phép cạnh tranh tự do
trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo trong thu hút đầu tư. Ngược lại, nếu có
“thất bại thị trường” thì vai trò của nhà nước trong can thiệp với một mức độ
nào đó đến các luồng đầu tư là cần thiết, trong đó có phối hợp chính sách giữa
các địa phương. Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào
nghiên cứu liên kết giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, các nghiên cứu liên địa phương trong một quốc gia còn rất hạn chế.
Các lý thuyết trong lĩnh vực này thường nghiên cứu cạnh tranh giữa các quốc
gia trong thu hút trong khuôn khổ lý thuyết trò chơi và đánh giá tác động của
hoạt động hợp tác của các đối thủ cạnh tranh. Điển hình một nghiên cứu của
Glass và Saggi (2000) [20] nghiên cứu về mặt lý thuyết khả năng hợp tác
trong điều kiện cạnh tranh bằng các công cụ thuế trong thu hút đầu tư, hay
UNCTAD (2005a) [29] nghiên cứu về hợp tác giữa các nước đang phát triển
trong các thỏa thuận đầu tư quốc tế. Trong thực tiễn, nghiên cứu liên kết hợp
tác giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư thường dưới dạng nghiên cứu các
hiệp định song và đa phương giữa các quốc gia liên quan đến tạo lập môi
trường thu hút đầu tư công bằng và thực trạng triển khai các hiệp định quốc tế
này. Trong các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn này, cơ sở của hợp tác giữa
các quốc gia/địa phương trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân
tích khá tổng quát. Cụ thể, hợp tác có thể là giải pháp tốt bởi nó có thể giúp

governments) và cơ quan trung ương điều phối khu vực (centralized regional
authorities). UNCTAD (2005b) [30] cho rằng có hai loại là liên kết khu vực
theo chiều ngang và liên kết khu vực theo chiều dọc.
Theo Bartels and de Crombrugghe (2009) [16], quyết định chọn địa điểm
đầu tư của nhà đầu tư thường qua hai giai đoạn, đầu tiên là chọn một khu vực
địa lý nhất định trước, sau đó mới chọn một nơi cụ thể trong khu vực địa lý đó
để đầu tư. Với đặc trưng này, các địa phương trong vùng có thể có hai dạng
hợp tác: hợp tác nhằm hạn chế bất lợi khi cạnh tranh thu hút nhà đầu tư về


11

đầu tư tại địa phương mình và hợp tác để cùng lôi kéo nhà đầu tư quan tâm
lựa chọn khu vực mình để đầu tư. Việc kết hợp mục đích của hai hình thức
này trong một mối liên hệ liên kết không phải lúc nào cũng dễ dàng do bản
chất vừa hợp tác vừa cạnh tranh của nó.
Trong nước
Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên nhiều khía cạnh về thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài và vấn đề liên kết kinh kế, liên kết vùng. Tuy nhiên, trong
phạm vi đề tài này tập trung đi sâu phân tích, nghiên cứu các vấn đề về thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề liên kết với các địa phương để thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) của Tỉnh Quảng Ngãi. Dưới đây là nghiên cứu của một
số tác giả liên quan đến nội dung thực hiện của đề tài này.
Hiện nay, các nghiên cứu thu hút đầu tư có liên quan đến tỉnh Quảng
Ngãi, chủ yếu có các báo cáo hàng năm của tỉnh cùng với các đề xuất, giải
pháp. Tuy nhiên, các nghiên cứu về liên kết thu hút FDI giữa tỉnh Quảng Ngãi
và các địa phương vùng DHMT lại chưa được tỉnh đề cập đến nhiều
Liên quan đến liên kết vùng kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung, đáng chú ý là các bài viết có liên quan đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
liên kết kinh tế trên địa bàn miền Trung – Tây Nguyên do Trường Đại học

nội dung được xây dựng trong đề tài.
- PGS.TS.Mai Ngọc Cường (2000), Với thực tiễn đã đúc kết được,
bằng phương pháp tổng hợp, nghiên cứu các cơ chế chính sách hiện hành
cũng như những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách cần
bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, tác giả đã đưa ra một số giải
pháp mà trong quá trình hoàn thiện đề tài này có thể tham khảo, vận dụng.
- Liên quan đến nội dung phần thực trạng tình hình thu hút FDI của tỉnh
Quảng Ngãi và sự liên kết với các tỉnh vùng duyên hải miền Trung, đề tài thu
thập số liệu tình hình thu hút các dự án FDI của tỉnh Quảng Ngãi từ trước đến
năm 2014 từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi, và tình hình liên kết


13

giữa Quảng Ngãi với các tỉnh trong Vùng duyên hải miền Trung cho đến nay.
- Bên cạnh cơ sở lý luận và việc phân tích thực trạng cụ thể, tìm ra
những nguyên nhân, hạn chế trong vấn đề liên kết của Tỉnh Quảng Ngãi với
các địa phương Vùng duyên hải miền Trung trong thu hút FDI và để đảm bảo
các giải pháp đưa ra đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và có tính ứng dụng cao,
tác giả đã tham khảo một số thêm một số tài liệu và luận văn khác có liên
quan đến đề tài này.
- Đề tài luận văn thạc sỹ Kinh tế phát triển “Giải pháp liên kết với các
địa phương vùng duyên hải miền Trung trong thu hút FDI của tỉnh Bình
Định”, Phan Văn Toàn, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2014.
- Đề tài luận văn thạc sỹ Kinh tế phát triển “ Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Quảng Ngãi”, Trần Thị Diễm Hương, Đại học Đà Nẵng,
Đà Nẵng, 2011.
Ngoài ra đề còn kế thừa, vận dụng một số tài liệu như: sách, giáo trình, các
tài liệu có liên quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài, liên kết vùng, liên kết kinh tế
vùng, các nghiên cứu thực tế tại địa phương về tình hình hoạt động của các doanh

Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và có tham gia quản lý hoạt động kinh
doanh. Ở đây hoạt động FDI có khác với các hình thức đầu tư nước ngoài
khác là có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy FDI được hiểu là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay của
công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh
doanh và có tham gia hoạt động quản lý nó. FDI cũng chính là một loại hình
di chuyển vốn giữa các quốc gia.
Đầu tư trực tiếp có thể là hợp tác kinh doanh hoặc thành lập công ty với
100% vốn nước ngoài. Hợp tác kinh doanh có nghĩa là việc một hay nhiều
nhà đầu tư nước ngoài cùng góp vốn với một hoặc nhiều đối tác Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập một công ty liên doanh. Theo đó các chủ


15

đầu tư phải đóng góp một phần vốn vào vốn pháp định của công ty liên doanh
đó. Các thành viên tham gia góp vốn gọi là các sáng lập viên và đều có quyền
tham gia quản lý doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ
đóng góp vốn. Lợi nhuận của các nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh
doanh và được phân phối chia theo tỷ lệ vốn đóng góp.
- FDI có các đặc điểm sau:
+ FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp
nhập các doanh nghiệp với nhau.
+ FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển
giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị
trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.
+ FDI ngày nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty đa
quốc gia (Multinational Corporations - MNCs)
- Với các đặc điểm trên FDI có vai trò quan trọng trong việc phát triển

dụng nhằm tác động, lôi kéo và khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài đầu tư vốn vào quốc gia/địa phương mình theo các mục tiêu và định
hướng đã định.
Cách tiếp cận thứ hai về thu hút FDI là cách tiếp cận của marketing địa
phương trong thu hút đầu tư (place marketing in investment attraction) của
Kotler và cộng sự (1993). Khác với quan điểm cho rằng quốc gia/địa phương
là nơi cần vốn đầu tư và thu hút đầu tư, đó là việc nỗ lực thu hút đầu tư, nỗ
lực của các cấp chính quyền, quan điểm này xem quốc gia/địa phương là một
sản phẩm mang cơ hội đầu tư đối với khách hàng là các nhà đầu tư và thu hút
đầu tư không chỉ gói gọn trong các nỗ lực của chính quyền mà là của một tập
thể gồm chính quyền, các tổ chức và cá nhân của quốc gia/địa phương đó.
Như vậy, chiến lược marketing hỗn hợp mà các tổ chức chính quyền nổ
lực để thu hút “khách hàng” phải hướng tới chiến lượt “sản phẩm” và “xúc


17

tiến”. “Sản phẩm” ở đây được hiểu là những gì chính quyền địa phương có
thể cung cấp được cho các nhà đầu tư tài nguyên, nguồn nhân lực, hệ thống
các quy định chính sách về đầu tư, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ hỗ trợ đầu tư...
“Sản phẩm” hấp dẫn chỉ là một phần trong chiến lượt marketing đầu tư, “xúc
tiến” sẽ là chiến lượt cần thiết để đưa thông tin và hình ảnh về “sản phẩm” tới
các nhà đầu tư nước ngoài.
Thu hút FDI có thể được xem là một chức năng cần thiết của các cấp
chính quyền tại các nước đang phát triển, nơi mà FDI có thể là một lời giải
cho yêu cầu về vốn và công nghệ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hội nhập
với các nước trên thế giới.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
a. Sự ổn định của môi trường vĩ mô
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Điều này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status