ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BÌNH
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG ĐỒNG PHẠM
NGUYỄN THỊ BÌNH
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG ĐỒNG PHẠM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số
: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Hải
HÀ NỘI - 2010
HÀ NỘI - 2010
50
Trang
1.1.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình phạt
Các căn cứ quyết định hình phạt
47
MỞ ĐẦU
1
2.3.3. Nhân thân người phạm tội
53
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỒNG PHẠM
7
2.3.4. Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
55
Khái niệm, các đặc trưng cơ bản và ý nghĩa của đồng phạm
66
1.2.1. Người thực hành
18
3.2.
Thực tiễn quyết định hình phạt trong đồng phạm
74
1.2.2. Người tổ chức
21
3.3.
Hoàn thiện chế định quyết định hình phạt trong đồng phạm
86
1.2.3. Người xúi giục
23
KẾT LUẬN
91
32
32
2.1.2
Ý nghĩa của quyết định hình phạt
37
2.2.
Các nguyên tắc quyết định hình phạt
39
2.2.1.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình
40
3.1.
Nguyên tắc và các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm
58
MỞ ĐẦU
75
hình sự mà các tòa án phải thụ lý, giải quyết tăng hơn, trong đó có nhiều vụ
án lớn và ngày càng phức tạp, nghiêm trọng. Thực tiễn cho thấy, tội phạm
được thực hiện thông qua hình thức đồng phạm đang có xu hướng gia tăng.
Tính chất nguy hiểm, phức tạp và hậu quả của nó gây ra cho xã hội ngày càng
cao. Việc Bộ luật hình sự năm 1999 tiếp tục ghi nhận chế định đồng phạm
trong đó có các quy định cụ thể về đồng phạm đánh dấu một bước phát triển
về chất trong hoạt động lập pháp hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, qua thực tiễn
áp dụng chế định đồng phạm trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động
xét xử nói riêng thì thấy còn có nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt là vấn đề quyết
định hình phạt trong đồng phạm. Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa
chọn một hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Khi quyết định
hình phạt trong đồng phạm, nhiều Tòa án đã gặp không ít khó khăn do một số
quy định về quyết định hình phạt còn mang tính khái quát cao, chưa chặt chẽ,
một số quy định khác còn chưa theo kịp tiến trình phát triển của đời sống kinh
tế xã hội... Chính những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng
cao hiệu quả của hình phạt. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống đề tài "Quyết định hình phạt trong đồng phạm", làm rõ hơn về mặt lý
luận nhằm góp phần vào việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật hình sự Việt
Nam là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế, đặc
biệt khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
phạm, chế định quyết định hình phạt một cách riêng lẻ. Có một số công trình
hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm. Trong luận văn này, tác giả đã
Luận văn nghiên cứu quyết định hình phạt trong đồng phạm dưới góc
giải quyết về mặt lý luận những vấn đề sau:
độ luật hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
chế định như: (1) Một số vấn đề chung về đồng phạm bao gồm: khái niệm,
4.1. Cơ sở lý luận
đặc trưng cơ bản và ý nghĩa của đồng phạm; những loại người đồng phạm;
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
các hình thức đồng phạm. (2) Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt;
các nguyên tắc của quyết định hình phạt; các căn cứ quyết định hình phạt.
phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu
- Nguyên tắc và các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm;
của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về nhà
quả nghiên cứu trong các tạp chí khoa học pháp lý, kết quả nghiên cứu của
một số nhà khoa học pháp lý.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỒNG PHẠM
6.2 .Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần vào việc quyết định hình phạt trong đồng phạm
của cơ quan Tòa án, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm
1.1. KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỒNG PHẠM
của chế định quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm trong
1.1.1. Khái niệm đồng phạm
lĩnh vực lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn; góp phần cá
Nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm cho
thể hóa hình phạt và cá thể hóa tội phạm. Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu
thấy một tội phạm có thể do một hoặc nhiều người thực hiện. Được coi là
tham khảo trong lĩnh vực pháp luật, cũng như phục vụ cho công tác lập pháp
đồng phạm khi những người phạm tội có chung hành động và cùng cố ý thực
và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng
phạm
(Điều 2 Chương 23).
7. Kết cấu của luận văn
Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: "Khi xét xử từng người đồng
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về đồng phạm.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt.
Chương 3: Quyết định hình phạt trong đồng phạm, thực tiễn áp dụng.
phạm phải căn cứ vào việc người đó tham gia thực hiện tội phạm do cố ý hay
vô ý" {Điều 4 (Chương 23)}. Như vậy, luật hình sự một số nước quan niệm
đồng phạm có cả trong những tội phạm thực hiện do lỗi vô ý.
Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định về khái niệm người đồng phạm
bao gồm người "đồng chính phạm" và "người xúi giục, người giúp sức". Theo
đó, hai hoặc nhiều người cùng thực hiện một tội phạm đều là những chính
phạm (Điều 60). Người xúi giục người khác hoặc xui người xúi giục sẽ bị xử
lý như người chính phạm (Điều 61). Người giúp đỡ chính phạm và người xui
người giúp đỡ chính phạm là người giúp sức (Điều 62). Hình phạt đối với
6
7
người giúp sức được giảm nhẹ hơn so với hình phạt đối với chính phạm (Điều
được rõ ràng thì kẻ hạ thủ sau cùng xử nặng tội. Nếu đánh loạn xạ
phạm của một trọng tội hoặc khinh tội. Người dùng tặng vật, hứa hẹn, đe dọa,
không biết ai đánh trước sau, nhiều ít thì kẻ chủ mưu nặng tội nhất,
dùng mệnh lệnh, lạm dụng chức vụ hoặc quyền hạn để xúi giục hoặc có các
còn kẻ khác đều xử giảm tội một bậc [28, tr. 170-171].
chỉ dẫn để cho người khác thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm (Điều
121.7). Người đồng phạm bị phạt như chính phạm (Điều 121.6).
Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, lý luận và thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự nước ta đã sử dụng thuật ngữ "cộng phạm" để nói về khái
Về các loại người đồng phạm và trách nhiệm hình sự của những người
niệm đồng phạm. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của ngành Tòa
đồng phạm, Điều 133 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định:
án, "coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành
"các loại người đồng phạm gồm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục
động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp
và người giúp sức". Bộ luật hình sự Liên bang Nga, giống như Bộ luật hình sự
định về khái niệm đồng phạm mà chỉ quy định về những người đồng phạm,
phạm cũng bị xử lý như chính phạm" [16].
bao gồm: thủ phạm, kẻ chủ mưu, kẻ tòng phạm (người xúi giục, người giúp
Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 quy định: "Người phạm tội đưa
sức), đồng thời đã có những quy định phân hóa trách nhiệm hình sự của
hối lộ và nhận hối lộ có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là 3/4 tài sản. Những
những người đồng phạm. Ví dụ, Điều 53 Quốc triều hình luật quy định:
người đồng phạm khác cũng bị xử phạt như trên".
8
9
Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 đã quy
Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 thì chưa có
định về các loại người đồng phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự khá rõ đối
một căn bản pháp luật hình sự nào quy định thống nhất về khái niệm cộng
10
11
người khác phạm một tội cụ thể, sau đó lại đi báo với cơ quan cơ thẩm quyền
sức người khác thực hiện tội phạm, nhưng không đồng phạm để giải quyết
bắt giữ người đó hoặc một người giúp sức cho người khác thực hiện tội phạm
vấn đề trách nhiệm hình sự hay quyết định hình phạt của người đó cần được
nhưng người được giúp sức (người trực tiếp thực hiện tội phạm) lại không
cân nhắc thêm.
nhận biết được sự giúp sức đó. Trong những trường hợp này, theo lý luận luật
hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta thì không có quan hệ
1.1.2. Đặc trƣng cơ bản của đồng phạm
đồng phạm vì không có sự cùng cố ý giữa người xúi giục hoặc giúp sức với
Theo nội dung khái niệm về đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật
người trực tiếp thực hiện tội phạm. Vậy thì người xúi giục và người giúp sức
hình sự năm 1999, tội phạm được coi là đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu
ý chí của một người gây ra. Chỉ khi có từ hai người trở lên tham gia thực hiện
này có thể là tập hợp từ xúi giục hoặc giúp sức với từ chỉ tên tội mà người đó
tội phạm thì mới có sự bàn bạc và cùng nhau hành động [6, tr. 218].
xúi giục hoặc giúp sức. Điều luật viện dẫn cho trường hợp này sẽ là điều luật
xác định tội mà người đó xúi giục hoặc giúp sức cùng điều luật quy định về
người xúi giục hoặc giúp sức.
Trong đồng phạm, những người tham gia thực hiện tội phạm đều phải có
đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, tức là họ phải có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự và đạt đủ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Riêng đối với
Quan điểm này có yếu tố hợp lý là phản ánh được bản chất nguy hiểm
người thực hành còn phải có thêm dấu hiệu của chủ thể đặc biệt nếu cấu thành
cho xã hội của hành vi xúi giục và hành vi giúp sức trong trường hợp những
tội phạm của tội mà cả bọn cùng tham gia thực hiện đòi hỏi. Nếu trong một vụ
hành vi này không đồng phạm và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và
án có nhiều người tham gia thực hiện nhưng chỉ có một người tham gia thỏa
chống các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội đáng kể bằng các biện pháp xử
mãn các điều kiện về chủ thể thì vụ án đó không có đồng phạm [30, tr. 16].
định đến hoạt động tội phạm chung, hậu quả phạm tội chung nhưng có hành vi
của họ chỉ có tác động nhỏ, về hình thức hành vi của người này cũng là hành vi
đồng phạm nhưng vì tác động thực tế của nó là nhỏ nhặt, tính nguy hiểm cho xã
hội không đáng kể nên không coi là hành vi đồng phạm, không là tội phạm và
được xử lý bằng các biện pháp khác (khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự).
b. Những dấu hiện chủ quan
Thứ nhất, có sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội
phạm. Nếu thiếu dấu hiện này thi mặc dù hành vi của những người phạm tội
thỏa mãn dấu hiệu khách quan ở trên cũng sẽ không có đồng phạm mà chỉ là
hình thực nhiều người cùng phạm một tội [30, tr. 23]. Trong cuốn "Những vấn
đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" tác giả Nguyễn Niên
cho rằng: "Sự cùng cố ý phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm
được thống nhất với nhau và hành động phạm tội của mỗi người đều thống nhất
trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý thực hiện một tội phạm" [19, tr. 149].
Sự cùng cố ý trong đồng phạm phải được thể hiện ở hai mặt lý trí và ý chí.
Thứ hai, có sự cùng chung hành động của người tham gia vào việc
Mỗi người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động
thực hiện một tội phạm. Cùng tham gia thực hiện tội phạm có nghĩa là trong
phạm tội của nhau; đều ý thức được rằng, bằng hành vi phạm tội của mình
đồng phạm, mỗi người phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm
cùng với những hành vi phạm tội của những người khác, mình đã phạm tội
hoặc là hành vi trực tiếp thực hiện hoặc là hành vi tổ chức hoặc là hành vi xúi
Còn hành vi của người giúp sức có thể xảy ra trước hoặc đồng thời với hành
sự quy định mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm
vi phạm tội của người thực hành nhưng không khi nào xảy ra sau khi hành vi
thì những người đồng phạm phải có mục đích phạm tội đó. Nếu không thỏa
của người thực hành đã kết thúc [6, tr. 220].
mãn dấu hiệu cùng mục đích phạm tội thì sẽ không có đồng phạm. Đối với
14
15
những tội phạm mà mục đích và động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của
thức phạm tội do nhiều người thực hiện nhưng không có đồng phạm. Việc xác
cấu thành tội phạm thì khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, những người
định đúng đắn các dấu hiệu của đồng phạm và các loại người đồng phạm có ý
đồng phạm có thể có những mục đích và động cơ khác nhau.
nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Thực tiễn áp
1.1.3. Ý nghĩa của khái niệm đồng phạm
vi liên quan đến tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự những người đồng
Trong việc thực hiện tội phạm của mình, hành vi của những người đồng
phạm. Việc nhận thức đúng đắn khái niệm đồng phạm và xác định chính xác
phạm không hoàn toàn giống nhau mà vai trò, tình chất và mức độ tham gia
đồng phạm trong thực tiễn xét xử là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện
phạm tội của họ là khác nhau.
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc xử lý
được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm xử lý đúng người,
đúng tội, không kết tội oan và không bỏ lọt tội phạm. Như vậy, khái niệm
đồng phạm có ý nghĩa thống nhất về mặt nhận thức trong nghiên cứu lý luận
cũng như trong thực tiễn xét xử.
Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự ở nước ra cũng như các nước trên
thế giới, chúng ta thấy, khái niệm người đồng phạm chưa được chú ý đúng
mức mà chỉ chú ý đến từng loại người đồng phạm cụ thể. Ví dụ: Quốc triều
hình luật không có quy phạm định nghĩa về người đồng phạm mà chỉ có quy
định về người đồng phạm là thủ phạm, chủ mưu, kẻ tòng phạm. Các văn bản
Bên cạnh những ý nghĩa nói trên, khái niệm đồng phạm còn có ý
pháp luật hình sự do Nhà nước ta ban hành từ sau Cách mạng tháng tám cho
nghĩa trong việc xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm khi
nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng lợi dụng
hoặc sử dụng người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan
gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Xét về hình thức, người bị sử dụng hay bị
lợi dụng đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội
phạm nhưng xét về bản chất thì họ không có lỗi mà hậu quả ấy do người đã sử
dụng, lợi dụng họ gây ra hoặc họ có lỗi vô ý. Vì vậy, người bị sử dụng vào
việc phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người sử dụng,
lợi dụng họ gây ra hoặc họ có lỗi vô ý. Vì vậy, người bị sử dụng vào việc
phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người sử dụng, lợi
dụng họ.
tội danh, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quyết định hình
phạt.
Khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự quy định: "Người thực hành là
người trực tiếp thực hiện tội phạm". Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự nước ta đã thừa nhận người thực hành (hoặc người thực
hiện tội phạm nói chung) không chỉ là người trực tiếp thực hiện tội phạm mà
còn là người trực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với những
người khác (có thể họ chỉ thực hiện một phần trong chuỗi hành vi thuộc mặt
khách quan của tội phạm). Người thực hành cũng có thể là người sử dụng
người khác như một phương tiện để thực hiện ý định phạm tội của mình. Ví
dụ, sử dụng người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người không có
Trong thực tiễn xét xử có thể xảy ra các trường hợp sau:
năng lực trách nhiệm hình sự, người không nhận thức được tính chất nguy
- Sử dụng người không có năng lực nhận thức, người chưa đủ tuổi
hiểm cho xã hội của hành vi của mình, người bị cưỡng bức về tinh thần đến
hoặc lợi dụng người khác để những người này thực hiện hành vi khách quan
phạm của Bộ luật hình sự, nghĩa là điều luật quy định về trách nhiệm hình sự
đó được mà chỉ có người thực hành ở dạng thứ nhất.
của người thực hiện tội phạm, đồng thời có viện dẫn quy định về người tổ
Hành vi của người thực hành giữ vị trí trung tâm trong một vụ án đồng
phạm vì khi giải quyết trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm như định
20
chức, người xúi giục hay người giúp sức thực hiện tội phạm.
1.2.2. Ngƣời tổ chức
21
Người tổ chức được đề cập đầu tiên trong Quốc triều hình luật với các
Những vai trò trên có thể do những người phạm tội khác nhau đảm
tên gọi người khởi xướng, người đứng đầu, kẻ chủ mưu, trong đó nguyên tắc
nhận, nhưng cũng thể chi do một người nắm giữ. Người tổ chức là người giữ
trừng trị người tổ chức được đặt ra là: "kẻ chủ mưu nặng tội nhất, còn kẻ khác
vai trò tổ chức thực hiện một tội phạm cụ thể hoặc thành lập băng, nhóm
người xúi giục. Bộ luật hình sự Vương quốc Nhật Bản đưa ra khái niệm về
người xúi giục như sau: "Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy
người khác thực hiện tội phạm sẽ bị xử lý như người chính phạm" [Dẫn theo
30, tr. 52].
Khoản 2 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "người xúi giục
là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm".
sẵn.
22
23
Xúi giục là hành vi tác động đến tư tưởng người khác, làm xuất hiện ý
Giữa hành vi của người xúi giục và hành vi của người bị xúi giục có
thức phạm tội và thúc đẩy thực hiện ý định đó. Người xúi giục là người nghĩ
mối quan hệ nhân quả. Hành vi xúi giục là nguyên nhân dẫn đến tội phạm do
ra việc phạm tội và thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người
người bị xúi giục thực hiện, còn hành vi phạm tội của người bị xúi giục là
khác. Người xúi giục đã có hành vi tác động đến tư tưởng và ý chí của người
mục đích và là kết quả của hành vi xúi giục. Thực tiễn xét xử cho thấy người
phụ thuộc vào bản chất của người xúi giục và mối quan hệ của người xúi giục
không có kết quả, người bị xúi giục không nghe theo thì chỉ riêng người xúi
và người bị xúi giục.
giục phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã xúi giục. Nếu một người đã giúp
Hành vi xúi giục phải trực tiếp, cụ thể. Nghĩa là người xúi giục phải
sức người khác thực hiện một tội phạm nhưng người này đã không thực hiện
trực tiếp nhằm vào một hoặc một số người cụ thể và phải nhằm gây ra việc
tội phạm đó, hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúp sức phải chịu
thực hiện một tội phạm cụ thể. Hành vi xúi giục được thực hiện bằng lỗi cố ý.
trách nhiệm hình sự về tội đã xúi giục [41, tr. 40]. Trong trường hợp này, vẫn
Người xúi giục nhận thức được hành vi xúi giục của mình là nguy hiểm cho
giữ nguyên trình tự và nội dung quy định tại khoản 1 và 2 Điều 20 Bộ luật
xã hội, nhận thức được hậu quả của hành vi ấy nhưng vẫn thực hiện vì mong
hình sự hiện hành nhưng tại khoản 2 điều luật này, sau khi quy định khái niệm
muốn người bị xúi giục thực hiện tội phạm.
Giúp sức về tinh thần: là những hành vi tạo những điều kiện thuận lợi
hình luật, Hoàng Việt luật lệ, đều chưa đưa ra khái niệm người giúp sức.
cho người thực hành thực hiện tội phạm nhưng không mang tính chất như chỉ
Hoàng Việt hình luật có khái niệm về người giúp sức nhưng nội hàm của khái
dẫn, góp ý, cung cấp thông tin liên quan đến thực hiện tội phạm; hứa hẹn
niệm này rộng bao gồm cả những hành vi liên quan đến tội phạm như che
trước sẽ che giấu người phạm tội che giấu các công cụ, phương tiện phạm tội
giấu tội phạm, không tố giác tội phạm.
hoặc tiêu thụ các vật có được bằng việc thực hiện tội phạm [30, tr. 60]
Sau Cách mạng tháng 8, những văn bản pháp luật hình sự của Nhà
Hành vi giúp sức khác hành vi xúi giục ở chỗ nó làm cho người thực
nước ta có đề cập đến người giúp sức với thuật ngữ tòng phạm song cũng
hành đã có ý định phạm tội quyết tâm thực hiện tội phạm, còn hành vi xúi
không có quy phạm định nghĩa về loại người đồng phạm này. Tuy nhiên, khái
giục tác động mạnh đến tư tưởng, ý chí của người bị xúi giục (người thực
Dựa vào những dấu hiệu khách quan, hành vi giúp sức được chia làm
hai loại: giúp sức về vật chất và giúp sức về tinh thần.
Giúp sức về vật chất: là cung cấp công cụ, phương tiện để sử dụng vào
việc thực hiện tội phạm, giúp sức về kỹ thuật, giúp đỡ bằng chân, tay, chỉ
điểm, chứa chấp, dẫn đường, che giấu người phạm tội, xóa các dấu vết, tang
vật của tội phạm hoặc tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết khác để người
thực hành thực hiện tội phạm dễ dàng, thuận lợi.
hành) làm cho người này nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện ý định đó.
Phạm vi trách nhiệm hình sự của người giúp sức được giới hạn bởi giai đoạn
phạm tội mà người thực hành đạt được [5, tr. 131].
1.3. CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM
Khoa học luật hình sự Việt Nam căn cứ vào những đặc điểm của mối
quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan để
phân loại các hình thức đồng phạm.
- Căn cứ vào dấu hiệu khách quan, hình thức đồng phạm được chia
thành hai loại: đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.
Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người
cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều có vai trò là người thực hành.
Những người đồng phạm không có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo.
Trong trường hợp này, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách
26
27
quan được mô tả trong cấu thành tội phạm của điều luật thuộc phần các tội
hành vi của những người đồng phạm ở hình thức đồng phạm đồng thực
đồng phạm tham gia hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác
hành, ta căn cứ vào điều luật tương ứng thuộc phần các tội phạm của Bộ luật
thường là vào thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc trong quá trình thực
hình sự mà không cần viện dẫn điều luật quy định đồng phạm thuộc phần
hiện tội phạm. Lý do không cho những người đồng phạm chuẩn bị những điều
chung của Bộ luật hình sự.
kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, phối hợp chặt chẽ với nhau cũng
Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò
của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của
những người đồng phạm không những khác nhau ở nội dung phạm tội và hình
như áp dụng các biện pháp che giấu, phối hợp chặt chẽ với nhau cũng như áp
dụng các biện pháp che giấu, xóa dấu vết của tội phạm như ở đồng phạm có
thông mưu trước.
thức phạm tội mà còn khác nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Phần lớn
Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm có sự thỏa
các hình thức đồng phạm có thông mưu trước, bởi vì hành vi tổ chức, hành vi
cả những người đồng phạm đều thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành
đổi, thỏa thuận giữa những người đồng phạm có thể bằng lời nói, thư từ hoặc
các tín hiệu riêng.
28
29
- Căn cứ vào những đặc điểm về mặt khách quan và chủ quan, đồng
phạm được chia thành hai loại: đồng phạm có tổ chức và đồng phạm thường.
Giống như các hình thức đồng phạm khác, phạm tội có tổ chức phải
có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia tội phạm và có sự thống nhất ý chí
Đồng phạm có tổ chức là hình thức phạm tội có sự câu kết chặt chẽ
của những người cùng thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, đặc điểm chủ yếu nhất
của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các
nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn cả của
thành viên cùng một tổ chức tội phạm [5, tr. 131].
hình thức đồng phạm này là sự cấu kết chặt chẽ thể hiện cả ở mặt khách quan
Đồng phạm thường là hình thức đồng phạm không có sự câu kết chặt
hình thành với phương thức hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững. Trong
số nước như Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Liên bang Nga, Malaysia… với
tổ chức này có mối quan hệ chỉ huy - phục tùng, có sự phân công vai trò cụ
các tên gọi và quan niệm khác nhau: băng có tổ chức, cướp có băng nhóm,
thể của từng người đồng phạm. Có thể tổ chức phạm tội không có những tên
nhóm có tổ chức [30, tr. 89-90].
chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp của những tên tội phạm chuyên nghiệp
Khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Phạm tội có tổ
chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng
thực hiện tội phạm". Tình tiết phạm tội có tổ chức không những là tình tiết
tăng nặng quy định ở Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 mà còn là tình tiết
định khung hình phạt tại nhiều điều luật. Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn quy
định những trường hợp tổ chức thực hiện tội phạm thành những tội danh riêng
biệt. Ví dụ: Điều 275 "Tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc
ở lại nước ngoài trái phép"; Điều 148 "Tổ chức tảo hôn"; Điều 248 "Tổ chức
để thống nhất cùng nhau thực hiện hoạt động phạm tội.
- Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo kế
hoạch đã thống nhất trước.
- Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã
thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, đầy đủ
mọi mặt như chuẩn bị công cụ, phương tiện hoạt động, chuẩn bị kế hoạch che
giấu tội phạm [5, tr. 75-76].
chỉnh sự đóng góp cá nhân vào hậu quả phạm tội chung. Tổ chức phạm tội
được Nhà nước giao cho tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định áp
còn có đặc trưng cơ bản nữa là luôn chịu sự điều hành của một nhóm cầm
dụng với người phạm tội, không một cơ quan nhà nước nào khác ngoài tòa án
đầu. Chính nhóm cầm đầu này đảm bảo sự phối hợp phạm tội của các thành
nhân dân có quyền áp dụng hình phạt. Tòa án lựa chọn loại hình phạt phù hợp
viên và hướng các hoạt động này vào mục đích của tổ chức phạm tội [30, tr.
với mức hình phạt cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để áp dụng cho
107-112].
người phạm tội.
Quyết định hình phạt là là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt
động xét xử. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng là tiền đề cho
việc đạt được các mục đích của hình phạt: cải tạo và giáo dục người bị kết án
trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung
(Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999). Ngược lại, quyết định một hình phạt
32
33
phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.
gây ra oán hờn và không tin tưởng đối với các cơ quan xét xử và thi hành.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Quyết định hình phạt là một giai
Một hình phạt như vậy không thể tạo ra tiền đề và điều kiện thuận lợi cho
đoạn rất quan trọng, một nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự thể
người phạm tội được cải tạo, giáo dục để hoàn lương trở thành công dân có
hiện ở việc tòa án căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án để lựa chọn loại và
ích cho xã hội. Còn một hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất,
mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật theo một thủ tục nhất định
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa
áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội.
riêng và phòng ngừa chung, đồng thời nảy sinh ở chính người phạm tội và
Ngay từ thời kỳ phong kiến, quyết định hình phạt trong đồng phạm đã
những người khác có thái độ coi thường pháp luật ; không tạo ra sự tin tưởng,
được đề cập tới. Điều 35 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Nhiều người cùng
Canh Cải quy định: "Các người tòng phạm trọng tội hay khinh tội đều bị phạt
thể hiện:
đồng hình với người chính phạm trừ khi luật quy định khác". Như vậy, Hình
Thứ nhất, đã có sự phân biệt hình thức đồng phạm khác nhau thì có
luật canh cải đã không cá thể hóa hình phạt đối với những người đồng phạm.
hình thức xử lý khác nhau (ví dụ: Nghiêm trị đồng phạm có tổ chức để phân
Hình phạt áp dụng cho những người đồng phạm có tính chất "cào bằng",
biệt với các hình thức đồng phạm khác).
không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội của từng người đồng phạm.
Thứ hai, đã có sự phân biệt giữa các vai trò khác nhau của những
người đồng phạm để từ đó đường lối xử lý cũng khác nhau (ví dụ: Nghiêm trị
Theo Bộ hình luật Trung Kỳ 1933 tại Trung Kỳ đã có sự phân hóa
bọn chủ mưu cầm đầu).
trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm nhưng còn ở mức đơn giản.
Thứ ba, đã có sự phân biệt giữa hành vi oa trữ nếu có sự hứa hẹn trước
có tác dụng giáo dục và cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa phạm tội mới và
định hình phạt trong đồng phạm là nhà làm luật đã tách khoản 4 Điều 17 Bộ
giáo dục người khác. Hình phạt được quyết định quá nhẹ so với tính chất và
luật hình sự năm 1985 ra khỏi chế định đồng phạm và quy định thành một chế
mức độ nguy hiểm của tội phạm đã được thực hiện sẽ sinh ra ở người phạm
định độc lập trong chương quyết định hình phạt (Điều 53). Quyết định hình
tội và ở những người khác thái độ xem thường pháp luật, còn hình phạt được
phạt trong đồng phạm là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt.
quyết định quá nặng sẽ gây ra ở người bị kết án sự không tin tưởng vào tính
Việc sắp xếp như vậy là rất hợp lý và theo trình tự logic chặt chẽ.
công bằng của pháp luật và sự công minh của các cơ quan tiến hành tố tụng,
2.1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt
Thứ nhất, quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về
từ đó dẫn đến hậu quả là là giảm ý nghĩa phòng ngừa riêng và phòng ngừa
chung của hình phạt.
chính trị-xã hội và pháp lý. Quyết định hình phạt góp phần củng cố và giữ
gây ra dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tới niềm tin
tiên; thứ hai, phải được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong luật hình sự;
của quần chúng nhân dân đối với pháp luật, không động viên được quần
thứ ba, phải là những tư tưởng chỉ đạo định hướng hoạt động của tòa án
chúng tham gia tích cực vào công tác đấu tranh vào phòng chống tội phạm và
trong lĩnh vực quyết định hình phạt; thứ tư, những tư tưởng đó phải phù hợp
như vậy hiệu quả của hình phạt chắc chắn sẽ không đạt được [18, tr. 10-12].
với chính sách hình sự trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước. Căn cứ
2.2. CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
Thật ngữ "nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng Latin: Principium (nguyên
lý) và có nghĩa là tư tưởng đầu tiên, tư tưởng chỉ đạo trong khoa học, hiện
vào những tiêu chuẩn trên, việc quyết định hình phạt cần phải dựa vào
những nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
tượng hoặc quá trình. Nguyên lý đó cũng được áp dụng để nghiên cứu pháp
- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa;
luật nói chung và các chế định của nó nói riêng.
quyết định hình phạt thì các nguyên tắc khác của luật hình sự mới được đảm
nguyên tắc quyết định hình phạt là một trong những nội dung quan trọng của
bảo thực hiện.
chế định quyết định hình phạt, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các nguyên tắc
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được coi là nguyên tắc cơ bản,
quyết định hình phạt tạo tiền đề thuận lợi để quyết định hình phạt đúng pháp
xuyên suốt toàn bộ các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự.
luật. Nếu nhận thức không đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ dẫn
Trong các nguyên tắc quyết định hình phạt, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
40
41
nghĩa đóng vai trò quan trọng hàng đầu, vi phạm nguyên tắc pháp chế cũng có
những quy định có tính chất làm cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó quyết
nghĩa là vi phạm các nguyên tắc khác ở các mức độ khác nhau. Tư tưởng cơ
định hình phạt cho người phạm tội được chính xác.
văn của pháp luật, tìm hiểu các quy phạm pháp luật hình sự theo quan điểm
Do vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội phải hết sức chặt chẽ.
chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, do người thực hiện
Tòa án chỉ được phép áp dụng một hình phạt đối với người bị kết án khi hình
tội phạm thường gây ra những hậu quả pháp lý nhất định và bị quần chúng nhân
phạt này được Bộ luật hình sự quy định cho chính tội phạm đó. Trong Phần
dân căm ghét, cho nên khi quyết định hình phạt đối với họ, tòa án phải cân
chung Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định cụ thể hệ thống hình phạt chính và
nhắc cả tình hình chính trị, xã hội, kinh tế ở địa phương để quyết định hình phạt
hình phạt bổ sung, điều kiện áp dụng hình phạt, quyết định hình phạt, trong Phần
cho hợp lý [15, tr. 165].
các tội phạm của Bộ luật này, cũng đã quy định các cấu thành tội phạm cụ thể
với các loại và mức hình phạt tương ứng có thể áp dụng đối với người thực hiện
2.2.2. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình phạt
Tư tưởng nhân đạo luôn được thể hiện rõ nét trong đường lối chính
tội phạm.
lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể
nhân thân người phạm tội để tuyên một hình phạt giảm nhẹ cho bị cáo [18, tr.
thống nhất biện chứng, hài hòa và hợp lý. Nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
39].
phải có thái độ đúng đắn đối với lợi ích của toàn xã hội, của Nhà nước và của
người phạm tội. Bởi lẽ, không thể nói đến nhân đạo được nếu khi quyết định
hình phạt mà quá đề cao lợi ích của Nhà nước, của xã hội, hạ thấp, xem
thường lợi ích của người phạm tội, hoặc ngược lại.
Nguyên tắc nhân đạo khi quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ luật hình
sự nước ta quy định các quy phạm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở việc hạn chế sự trừng trị. Tức là
trong một vụ án, tòa án có thể tuyên một trong những mức cho phép đối với bị
cáo: cần thiết tối thiểu, mức cao hơn cần thiết tối thiểu, mức tối đa, thì ở góc
độ của việc hạn chế sự trừng trị, tòa án nên tuyên mức hình phạt cần thiết tối
thiểu. Trong mọi trường hợp không cho phép tòa án quyết định hình phạt với
mức "dự trữ", tức là quá mức cần thiết.
đối với những người phạm tội ít nguy hiểm cho xã hội và những người phạm
tội lần đầu, những người thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc
2.2.3. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt
tội, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra. Đối với những
đối với những tội nghiêm trọng và ít nghiêm trọng là khác nhau. Người phạm
tội nghiêm trọng có thể phải chịu hình phạt tù, còn đối với người phạm tội ít
nghiêm trọng có thể áp dụng một trong những hình phạt từ cảnh cáo, phạt tiền
(với tư cách là hình phạt chính), cải tạo không giam giữ cho đến hình phạt tù.
Nội dung của cá thể hình phạt cũng được thể hiện ở các điều luật quy định các
giai đoạn phạm tội, đồng phạm, hệ thống các hình phạt và các điều kiện áp
dụng chúng, cũng như quy định việc quyết định hình phạt đối với một số
người phạm tội như người chưa thành niên, người già yếu, phụ nữ có thai.
phạm tội mà còn phản ánh khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội cũng
Do đó, cá thể hóa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng
như hoàn cảnh đặc biệt của họ. Tòa án xem xét các đặc điểm tốt thuộc về
của chế định hình phạt và là nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt. Khi
quyết định hình phạt, tòa án phải cân nhắc tất cả các tình tiết có trong vụ án
44
45