MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện Việt Nam đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực từ những năm 90 đến nay, bên cạnh những mặt tích cực, tình
hình tội phạm có tính quốc tế (hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội
phạm có yếu tố nước ngoài) diễn biến phức tạp. Tình trạng người Việt
Nam phạm tội ở nước ngoài, người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam,
người Việt Nam phạm tội ở trong nước bỏ trốn ra nước ngoài, người nước
ngoài phạm tội ở nước ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm
ở trong nước cấu kết với các tổ chức tội phạm nước ngoài mua bán phụ nữ,
trẻ em, làm hộ chiếu giả, làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, các
giấy tờ có giá giả khác, buôn lậu vũ khí, sản xuất, buôn bán hàng giả, sản
xuất, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy... có xu hướng gia tăng cả
về mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội. Tình hình này không những
xâm hại tính mạng, sức khỏe của người dân, lợi ích hợp pháp của Nhà
nước, tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước, mà còn thực sự đe
dọa phá vỡ chính sách kinh tế, xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối
với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, gây ra những
hậu quả nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thậm chí tình
hình tội phạm có tính quốc tế còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan
tình báo nước ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu thập
tình báo, phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính quốc tế đạt hiệu quả
cao, thì hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này trở thành vấn đề mang tính tất
yếu, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đáp ứng yêu cầu này, Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, thông qua tại kỳ họp thứ tư, ngày 26-11-2003, đã dành
riêng Phần thứ tám quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Tuy
hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp
hình sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và
có hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự, cũng
như thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của
luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu
quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm hợp tác quốc tế, các hình thức hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự.
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế
của một số nước trên thế giới.
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
hợp tác quốc tế và thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở nước
ta.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
3
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
đóng góp mới của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự.
- Phân tích làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về hợp tác quốc tế và thực tiễn áp dụng ở nước ta.
- Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
của nước ta về hợp tác quốc tế với những quy định tương ứng trong pháp
luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị
hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
- Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp được đề xuất trong luận văn
có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng. Thông qua hệ thống
các giải pháp, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự
phát triển của kho tàng lý luận pháp lý tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên
cứu thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam. Đồng thời,
tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa học cho việc đổi mới
tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ các cơ quan tư pháp hình sự, góp phần vào
công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công
tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố
tụng hình sự nói riêng, cũng như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên
trách về hợp tác quốc tế thuộc các ngành Tư pháp, Tòa án, Viện Kiểm sát,
Công an.
5
cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh. Các mâu thuẫn
cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau
vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn. Thế giới đang đứng trước
nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải
quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như chống tội phạm quốc tế, tội
7
phạm có tính quốc tế (hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có
yếu tố nước ngoài), bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, đẩy lùi
những dịch bệnh hiểm nghèo... Những vấn nạn này đã có từ lâu, nhưng
chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn, nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự
phát triển của các quốc gia, tương lai loài người tùy thuộc một phần quan
trọng vào việc giải quyết những vấn đề này. Vì vậy, hợp tác quốc tế ngày
nay đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng lớn, nội dung sâu sắc, hình
thức sinh động phong phú. Không một quốc gia nào tồn tại biệt lập lại có
thể phát triển được. Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập quốc tế và
khu vực, đến nay đã tạo dựng được cho mình một vị trí mới trên thế giới.
Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, nếu như vào các
thập kỷ trước, tội phạm mới chỉ dừng lại ở phạm vi hoạt động giữa các
quốc gia láng giềng, thì ngày nay tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc
tế đã mở rộng địa bàn hoạt động ra khắp nơi trên thế giới, tức là mang tính
toàn cầu, phương thức, thủ đoạn phạm tội càng ngày càng tinh vi, xảo
quyệt, lợi dụng tối đa các thành tựu của khoa học, công nghệ để hoạt động.
Hậu quả do tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế gây ra là vô cùng to
lớn đối với từng quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế. Vì vậy, đấu
tranh phòng, chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế không còn
trong phạm vi mỗi quốc gia, mà phải tiến hành đấu tranh trên phạm vi toàn
cầu. Để cuộc đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này có hiệu quả,
a) Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, kiểm sát
viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm,
Thư ký Tòa án [9].
Đối với nước ngoài, chủ thể của quan hệ quốc tế trong tố tụng hình
sự là các cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền tương ứng.
9
Điều 341 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta quy định:
"Khi thực hiện tương trợ tư pháp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng những quy định
của điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của Bộ luật này" [9].
Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng của nước ta tham gia hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự, thì theo các Hiệp định tương trợ tư pháp
mà nước ta đã ký kết với một số nước trên thế giới, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao là cơ quan làm đầu mối trung ương. Ở các nước ký Hiệp định tương
trợ tư pháp với ta cũng có các cơ quan tương tự, trong quá trình thực hiện
tương trợ pháp lý về hình sự, các cơ quan này có thể liên hệ qua cơ quan
đầu mối trung ương hoặc có thể liên hệ trực tiếp với nhau [36, tr. 22].
Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải
bảo đảm các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định:
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự giữa các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền tương
ứng của nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc
chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến chủ thể trong nước, còn có quy
định và điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến tổ chức, cá nhân nước
ngoài. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng tương ứng của nước ngoài trong việc thực hiện mối quan
hệ hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự với các cơ quan tiến hành tố tụng của
nước ta. Vì vậy, những quy định này tạo ra niềm tin, là cơ sở để mở rộng
mối quan hệ hữu nghị với các quốc gia, dân tộc.
Thứ tư, các hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự rất đa
dạng như dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự, từ chối dẫn độ, chuyển
11
giao hồ sơ, vật chứng của vụ án; việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ
vật, tiền liên quan đến vụ án.
1.1.2. Ý nghĩa của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chế định hợp tác quốc tế lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn,
đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta.
Trong chế định hợp tác quốc tế, khái niệm hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định
các quy phạm khác của chế định như thực hiện tương trợ tư pháp, từ chối
thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình
sự, từ chối dẫn độ... Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định hợp tác
quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự trong thực tiễn là bảo đảm quan
trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh
vực cực kỳ nhạy cảm này.
Xuất phát từ việc đánh giá đúng vai trò của hợp tác quốc tế, trong
trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung, hợp tác quốc tế về lĩnh vực này
nói riêng.
Việc quy định trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế trong luật tố tụng
hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa
nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ
pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của
pháp luật trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Mặt khác, việc quy định cụ thể,
chi tiết trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp
luật dễ nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó áp dụng đúng đắn chế
định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm ở nước ta.
13
Thứ hai, góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục... hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa,
ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý
công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,
không làm oan người vô tội.
Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm [9].
Hiện nay, xu thế quốc tế hóa tình trạng phạm tội đang diễn biến
phức tạp đã và đang ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có
đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh về tương trợ tư pháp nói chung và
về tương trợ trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng.
Trong thời kỳ này, chúng ta chủ yếu thực hiện chính sách ngoại
giao tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước, các dân tộc tiến bộ trên thế
giới cho sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Một số điều ước quốc tế mà Nhà nước ta gia nhập
trong thời kỳ này cũng chủ yếu về việc đối xử nhân đạo với thường dân,
hàng binh, tù binh trong chiến tranh.
Cũng trong thời kỳ này, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan, chúng ta chưa chú trọng quản lý xã hội bằng pháp luật cho nên pháp
luật về tương trợ tư pháp còn rất sơ khai. Ngoài một số văn bản hướng
dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đối với các vụ án có yếu tố nước ngoài
như Thông tư số 11/TATC ngày 12-07-1974 hướng dẫn một số vấn đề
nguyên tắc và thủ tục giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, trong
đó có quy định về ủy thác tư pháp..., chưa có văn bản pháp luật để điều
17
chỉnh vấn đề tương trợ pháp lý về hình sự. Đối với các vụ án hình sự có
yếu tố nước ngoài, các cơ quan tiến hành tố tụng nước ta chủ động giải
quyết trên cơ sở pháp luật Việt Nam, nếu cần thiết phải hợp tác với các cơ
quan tiến hành tố tụng của nước bạn thì yêu cầu cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự thực hiện thông qua con đường ngoại giao. Giữa
Việt Nam và các nước chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp, do đó
chưa hình thành cơ sở pháp lý để điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế trong
hoạt động tố tụng hình sự.
1.2.2. Những quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1992
Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Cu Ba ký ngày 30-11-1984, gồm 79 điều, hiện đang có
hiệu lực.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước
Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ri ký ngày 18-01-1985, gồm 98 điều, hiện
đang có hiệu lực.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước
Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ri ký ngày 18-01-1985, gồm 98 điều, hiện đang
có hiệu lực.
Qua việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp nói trên, có thể rút
ra hai vấn đề đáng lưu ý như sau:
Thứ nhất, các hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết vào đầu
những năm 80, khi quan hệ hợp tác về kinh tế, lao động, văn hóa... giữa
19
nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa phát triển ở mức độ tương đối cao.
Các hiệp định này được ký kết giữa các nước có cùng chế độ chính trị,
kinh tế, xã hội thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa. Các hoạt động tương trợ tư
pháp nói chung, tương trợ pháp lý về hình sự nói riêng đều được thực hiện
trên cơ sở nguyên tắc quốc tế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, các hiệp định tương trợ tư pháp có nội dung cơ bản tương
đối giống nhau. Các hiệp định này đều điều chỉnh một cách tổng thể hai
mảng quan hệ, đó là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước
ký kết và các quy tắc chọn pháp luật áp dụng giải quyết xung đột pháp luật,
quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các
vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự.
pháp luật của cả hai nước ký kết là tội phạm bị phạt tù trên một
năm hoặc bị hình phạt nặng hơn. Việc dẫn độ để thi hành bản án
đã có hiệu lực pháp luật được áp dụng đối với những người phạm
tội trên bị phạt không dưới sáu tháng tù hoặc bị hình phạt nặng hơn.
Từ chối dẫn độ đều được quy định cụ thể trong các Hiệp định nói
trên. Điều 59 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự,
gia đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nước Cộng hòa Cu Ba ký ngày 30-11-1984 quy định:
Sẽ không tiến hành dẫn độ, nếu:
1. Người bị dẫn độ là công dân của nước ký kết được yêu
cầu dẫn độ.
2. Tội phạm đã hoàn thành trên lãnh thổ của nước ký kết
được yêu cầu dẫn độ.
3. Theo pháp luật của nước ký kết được yêu cầu dẫn độ
thì không thể tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi
hành bản án vì lý do thời hiệu hoặc vì các lý do khác.
21
4. Người bị dẫn độ đã bị thi hành một bản án đã có hiệu
lực pháp luật trên lãnh thổ của nước ký kết được yêu cầu về cùng
tội phạm, hoặc việc tố tụng hình sự đã được đình chỉ.
5. Theo pháp luật của một hoặc hai nước ký kết, tội phạm
chỉ bị truy cứu trong phạm vi một nước ký kết.
Điều 61 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân
sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
nước Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ri ký ngày 18-01-1985 đã quy định cụ
thể về văn bản yêu cầu dẫn độ:
1. Văn bản yêu cầu dẫn độ chỉ rõ họ tên, quốc tịch, nơi
2. Văn bản yêu cầu kèm theo bản mô tả các tình tiết thực
tế của tội phạm và tất cả những chứng cứ về tội phạm đó. Nước
ký kết được yêu cầu có thể đề nghị bổ sung chứng cứ và nước ký
kết yêu cầu phải cung cấp những chứng cứ bổ sung.
3. Nước ký kết đã tiến hành tố tụng hình sự trên lãnh thổ
của nước mình sẽ thông báo cho nước ký kết về kết quả của việc
tố tụng hình sự đó. Trong trường hợp đã tuyên xử và bản án đã
có hiệu lực pháp luật thì sẽ gửi cho nhau bản sao của bản án đó.
Thứ ba, về những vấn đề khác thuộc tương trợ pháp lý về hình sự.
Các hiệp định đều có quy định về những vấn đề khác thuộc tương
trợ pháp lý về hình sự như chuyển giao đồ vật liên quan đến vụ án, thông
báo các bản án và án tích, cách thức liên hệ.
Điều 72 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình
và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết quy định về việc chuyển giao đồ vật
liên quan đến vụ án như sau:
23
1. Các nước ký kết cam kết, thể theo yêu cầu của nhau,
chuyển giao cho nhau những đồ vật sau đây:
a) Những đồ vật hoặc trị giá của những đồ vật do phạm
tội mà có;
b) Những đồ vật có thể có ý nghĩa chứng cứ trong tố tụng
hình sự nếu việc dẫn độ không thực hiện được vì người phạm tội
chết, chạy trốn hoặc vì nguyên nhân khác thì những đồ vật đó
vẫn phải được chuyển giao.
2. Nếu những đồ vật phải chuyển giao lại cần thiết làm
chứng cứ cho tố tụng hình sự ở nước được yêu cầu, thì nước này
hình sự năm 1988 càng củng cố thêm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các
hoạt động tương trợ này.
Để thực hiện sự hợp tác và tương trợ theo chủ trương mà Nhà nước
ta đã ký kết, ngày 12-3-1984, liên ngành Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Bộ Tư pháp, Bộ
ngoại giao đã ban hành Thông tư liên ngành số 139/TTLB về việc thi hành
Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và
hình sự đã ký kết giữa nước ta với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Thông tư đã quy định cụ thể về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) trong lĩnh
vực hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã được quy định cụ
thể trong Thông tư như sau:
Bộ Nội vụ: 1. Thực hiện các ủy thác điều tra về hình sự
theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, như lập hồ sơ về
bắt giữ, thu giữ các tang chứng, vật chứng, khám xét, tạm giữ, tạm
25