Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN SAO MAI

vÊn ®Ò ®×nh chØ, t¹m ®×nh chØ vô ¸n
trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN SAO MAI

vÊn ®Ò ®×nh chØ, t¹m ®×nh chØ vô ¸n
trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS ĐỖ NGỌC QUANG

HÀ NỘI - 2016



1.1.3. Ý nghĩa và hậu quả pháp lý của quy định đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án ................................................................................................... 14
1.2.

Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án từ năm 1945 đến
trước ngày 01/7/2004 ........................................................................ 16

1.2.1. Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến trước năm 1988.............................................. 16
1.2.2. Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự từ
năm 1988 đến trước ngày 01/7/2004.................................................. 17
1.3.

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ,
tạm đình chỉ vụ án ............................................................................ 20

1.3.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra ............................................... 21
1.3.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố ................................................ 25


1.3.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử ................................................. 51
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH
CHỈ, TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN ....... Error! Bookmark not defined.
2.1.




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS:

Bộ luật hình sự

CQĐT:

Cơ quan điều tra

CQTHTT:

Cơ quan tiến hành tố tụng


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Tổng số bị can, bị cáo đình chỉ trên phạm vi toàn
Error!

defined.
Bảng 2.6. Tổng số vụ án, bị can, bị cáo CQTHTT tạm đình chỉ
Error!
(giai đoạn 2011 - 2015)
Bookmark
not


defined.
Bảng 2.7. Số vụ án, bị can, bị cáo CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa
Error!
án tạm đình chỉ (giai đoạn 2011 - 2015)
Bookmark
not
defined.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày
26/11/2003 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 thay thế Bộ luật tố tụng
hình sự năm 1988. Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả trong đấu tranh phòng và
chống tội phạm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ thành quả của
cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nước…
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước, trong đó việc đổi
mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tiến hành cải cách hành
chính, cải cách tư pháp theo đường lối đổi mới của Đảng, Bộ luật tố tụng hình

Luật tố tụng hình sự” (Tạp chí Luật học số 3/1999) của tác giả Vũ Gia Lâm;
“Thẩm quyền và căn cứ đình chỉ vụ án hình sự theo Điều 88 Bộ luật tố tụng
hình sự” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2001) của tác giả Nguyễn Sơn; “Tòa
án tạm đình chỉ vụ án khi bị can, bị cáo trốn tránh” (Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật số 3/2002) của tác giả Đặng Văn Dùng; “Vấn đề đình chỉ vụ án khi người
bị hại rút yêu cầu khởi tố” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2003) của tác
giả Hồ Thị Hạnh; “Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 17/2006) của tác
giả Đinh Văn Quế; “Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các chế định đình chỉ,
tạm đình chỉ vụ án và phục hồi điều tra trong Bộ luật Tố tụng Hình sự” (Tạp
chí Kiểm sát số 5/2008) của tác giả Huỳnh Quốc Hùng; “Đình chỉ điều tra và
đình chỉ vụ án hình sự đối với trường hợp không có sự việc phạm tội và hành
vi không cấu thành tội phạm” (Tạp chí Kiểm sát số 5/2008) của tác giả Mai

2


Văn Lư; “Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định truy tố, đình
chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án theo yêu cầu cải cách tư pháp” (Tạp chí Kiểm sát
số 3/2009) của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh; “Quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” (Tạp
chí Luật học số 3/2013) của tác giả Vũ Gia Lâm…
Bên cạnh đó, vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án còn được đề cập trong
các cuốn giáo trình, bình luận như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội; Bình luận khoa học Bộ luật tố
tụng hình sự Việt Nam năm 2003 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia do
PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh và đồng nghiệp chủ biên…
Trên cơ sở khảo sát nêu trên, có thể thấy, ở nước ta đã có một số công
trình nghiên cứu về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, những

hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bao gồm: căn cứ, thẩm quyền, trình tự,
thủ tục…;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án, đồng thời phân tích, làm rõ những nguyên nhân làm phát sinh những tồn
tại trong việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh quy
định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam,
kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp
luật về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án nhân dân các cấp. Những tồn tại, vướng mắc của quy định pháp
luật cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này, kiến nghị những giải
pháp nhằm hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định này trong thực tiễn.
4


4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu
tranh phòng, chống tội phạm, cũng như thành tựu của các ngành khoa học
như triết học, xã hội học, lịch sử, lý luận về nhà nước và pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, tội phạm học, những luận điểm khoa học trong các
công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của
một số nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả luận văn đã sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật tố tụng hình sự, như: lịch sử, so

Việt Nam hiện hành về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án và những giải
pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ,
tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu nghiên cứu tham khảo cần thiết
và bổ ích dành cho các nhà nghiên cứu lập pháp cũng như cho các nhà nghiên
cứu, cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh
viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án trong quá trình đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
VỀ ĐÌNH CHỈ, TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN
1.1. Khái niệm đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
1.1.1. Khái niệm đình chỉ vụ án
Quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc
việc giải quyết vụ án là một quá trình phức tạp, gồm nhiều hoạt động tố tụng
được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau. Sau khi có quyết định khởi tố,
các hoạt động điều tra được tiến hành để thu thập các tài liệu, chứng cứ nhằm

Như vậy, nếu trong giai đoạn điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
sau đó có căn cứ đình chỉ điều tra đối với vụ án hoặc với từng bị can trong vụ
án đó (đối với vụ án đồng phạm) thì ra quyết định “đình chỉ điều tra vụ án
hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can”, nếu vụ án đã chuyển sang giai đoạn
truy tố hoặc xét xử mà phát hiện có căn cứ đình chỉ hoạt động tố tụng hình sự
đối với vụ án hoặc với từng bị can trong vụ án đó (đối với vụ án đồng phạm)
thì phải ra quyết định “đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị
cáo”. Việc quy định như vậy nhằm làm rõ thẩm quyền của cơ quan ra quyết
định cũng như hình thức văn bản tố tụng sử dụng để ra quyết định [28, tr. 7].
Trong BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định căn cứ, thẩm quyền ra
quyết định đình chỉ vụ án trong từng giai đoạn tố tụng chứ chưa đưa ra khái
niệm thế nào là đình chỉ vụ án. Vì vậy, trên cả hai phương diện lý luận và
thực tiễn thi hành còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đình chỉ có nghĩa là “ngừng lại hoặc làm
cho phải ngừng lại trong một thời gian vĩnh viễn” [55, tr. 236].
Theo Từ điển Bách khoa “Đình chỉ vụ án là việc CQTHTT quyết định
kết thúc vụ án khi có những căn cứ luật định” [47, tr. 281].

8


Theo tác giả Đinh Văn Quế “Đình chỉ điều tra là quyết định của CQĐT
chấm dứt một giai đoạn tố tụng hình sự (giai đoạn điều tra) đối với vụ án
hoặc đối với một hoặc một số bị can trong vụ án” [30, tr. 28].
Theo tác giả Mai Bộ “Đình chỉ vụ án là chấm dứt hoạt động tố tụng
hình sự đối với vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can, bị cáo trong vụ
án” [8, tr. 25].
Tác giả Ngô Quang Chính cho rằng “Đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ
án đều là một trong những biện pháp của tố tụng hình sự do CQTHTT áp
dụng khi có đủ căn cứ theo luật định” [10, tr. 13].

các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nếu vụ án bị
đình chỉ ở giai đoạn điều tra thì sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ điều tra
của CQĐT; nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn truy tố, xét xử thì sẽ kết thúc
bằng quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát hoặc Tòa án.
Thứ tư: Về phạm vi hiệu lực của việc đình chỉ vụ án, khi các CQTHTT
ra quyết định đình chỉ vụ án, quyết định này có hiệu lực đối với từng bị can,
bị cáo hoặc với tất cả các bị can, bị cáo trong vụ án (nếu vụ án có đồng phạm
và căn cứ đình chỉ vụ án liên quan đến tất cả các bị can, bị cáo). Nếu trong vụ
án có đồng phạm và có căn cứ để đình chỉ vụ án nhưng căn cứ đó không liên
quan đến tất cả các bị can, bị cáo thì chỉ được chấm dứt tiến hành tố tụng đối
với từng bị can, bị cáo, còn với các bị can, bị cáo khác thì vẫn tiến hành các
hoạt động tố tụng bình thường. Trong trường hợp này, việc đình chỉ vụ án chỉ
thực hiện đối với từng bị can, bị cáo.
Như vậy, bản chất pháp lý của việc đình chỉ vụ án là chấm dứt việc tiến
hành tố tụng trong một giai đoạn tố tụng nhất định. Trong giai đoạn điều tra là
chấm dứt các hoạt động điều tra, trong giai đoạn truy tố là chấm dứt các hoạt
động thực hành quyền công tố, trong giai đoạn xét xử là chấm dứt các hoạt
động xét xử [12, tr. 9].
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về đình chỉ vụ

10


án như sau “Đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự là việc cơ quan tiến hành tố
tụng ra quyết định chấm dứt hoạt động tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc
đối với bị can, bị cáo khi có những căn cứ theo luật định”.
1.1.2. Khái niệm tạm đình chỉ vụ án
Sau khi có quyết định khởi tố thì các hoạt động điều tra được tiến hành.
Để đảm bảo cho hoạt động điều tra được nhanh chóng, kịp thời, CQĐT tiến
hành các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS và các biện pháp

của BLTTHS hiện hành thì tạm đình chỉ vụ án (hoặc tạm đình chỉ điều tra) có
cả ở ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử). Về mặt pháp lý tạm đình chỉ điều
tra hay tạm đình chỉ vụ án đều là việc tạm dừng hoạt động tố tụng đối với vụ
án hoặc từng bị can, bị cáo trong vụ án. Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà
BLTTHS quy định “tạm đình chỉ điều tra” hay “tạm đình chỉ vụ án”. Nếu vụ
án đang ở giai đoạn điều tra mà bị tạm đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ điều
tra vụ án”, nếu đã kết thúc giai đoạn điều tra và đã chuyển sang giai đoạn truy
tố hoặc xét xử mà vụ án bị tạm đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ vụ án”. Việc
quy định như vậy nhằm làm rõ thẩm quyền của cơ quan ra quyết định cũng
như hình thức văn bản tố tụng sử dụng để ra quyết định.
Hiện nay trong BLTTHS chỉ quy định căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ
tục tạm đình chỉ vụ án chứ chưa đưa ra khái niệm thế nào là tạm đình chỉ.
Trong Đại từ điển Tiếng Việt thì từ “tạm” có nghĩa là “chỉ trong một
thời hạn ngắn và sẽ còn thay đổi” [55, tr. 456]. Theo Từ điển Bách khoa “Tạm
đình chỉ điều tra là việc CQĐT ra quyết định ngừng việc điều tra đối với một
hoặc một số bị can” [47, tr. 526].
Theo Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
thì “Quyết định tạm đình chỉ vụ án là việc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
quyết định tạm dùng tiến trình tố tụng hình sự đối với vụ án hoặc đối với bị
can, bị cáo khi có căn cứ theo quy định của pháp luật” [1, tr. 404].
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Học viện An ninh

12


nhân dân “Tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng các hoạt động điều
tra đối với toàn bộ hoặc một phần vụ án khi có những căn cứ do BLTTHS quy
định” [30, tr. 265].
Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật
Hà Nội thì “Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với

1.1.3. Ý nghĩa và hậu quả pháp lý của quy định đình chỉ, tạm đình
chỉ vụ án
Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án mặc dù là một nội dung nhỏ được
quy định trong BLTTHS, tuy nhiên nó có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị,
xã hội và thực tiễn, góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết vụ án đảm
bảo khách quan, chính xác, thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng,
Nhà nước ta, cụ thể như sau:
Ý nghĩa chính trị, xã hội: Việc quy định quyền đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án trong các giai đoạn tiến hành tố tụng góp phần đáp ứng các yêu cầu của
Nhà nước pháp quyền Việt Nam, trước tiên và quan trọng nhất chính là bảo
đảm tính thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực tư pháp hình sự. Thượng tôn pháp luật được coi là nguyên tắc
cao nhất, có tính ràng buộc đối với mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ
chức xã hội và công dân. Nguyên tắc này được thể hiện thông qua yêu cầu
bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng hình sự và trở thành nguyên tắc cơ
bản của tố tụng hình sự. Trong đó, đặt ra yêu cầu khách quan đối với
CQTHTT, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chủ
động, tích cực và thận trọng nhằm rà soát lại các hoạt động tố tụng đã diễn ra,
qua đó khắc phục những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình nhận thức của
CQTHTT, người tiến hành tố tụng, để đảm bảo vụ án được xử lý khách quan,
chính xác, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Việc quy định
đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong BLTTHS đảm bảo công bằng, bình đẳng
trong xã hội, bảo đảm không ai bị xử lý hình sự khi không có căn cứ, đồng

14


thời còn thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta tạm
thời không xử lý hình sự đối với trường hợp bị can, bị cáo đang bị bệnh hiểm
nghèo hoặc đang bị mất năng lực trách nhiệm hình sự, không còn khả năng

01/7/2004
1.2.1. Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 1988
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Trong thời gian này, việc tiến hành các
hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện trên cơ sở những quy định của các
văn bản pháp luật đơn hành. Các văn bản này chủ yếu chỉ hướng tới việc xây
dựng một hệ thống Tòa án độc lập như Sắc lệnh số 33/C về thiết lập các Tòa
án quân sự ngày 13/09/1945; Sắc lệnh 40 đặt một Tòa án Quân sự ở Nha
Trang ngày 29/9/1945; Sắc lệnh 77 về đặt một Tòa án Quân sự ở Phan Thiết,
Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định việc thành lập Tòa án thường với sự
tham gia của phụ thẩm nhân dân; Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đổi tên Tòa
án thường thành Tòa án nhân dân...
Bên cạnh đó, trong thời kỳ này đất nước ta vẫn còn chiến tranh, đời
sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy Hiến pháp và các văn bản
ban hành nhằm xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, duy trì trật tự xã
hội, chăm lo đời sống nhân dân. Mọi hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà
nước ta quan tâm đặc biệt đến việc tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động
của bộ máy Nhà nước, xây dựng và củng cố quốc phòng, bảo vệ chế độ. Do
đó, trong khoảng thời gian trước năm 1988, các quy định về đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án chưa được chú trọng điều chỉnh.
Một trong những văn bản có nhắc đến vấn đề đình chỉ vụ án là Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 với cụm từ “đình cứu”. Tại Điều 15
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 có quy định khi kiểm sát việc
điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có quyền “Truy tố hoặc miễn tố can phạm;
đình cứu các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật”.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status