Chế định người bảo chữa trong luật tố tụng hình sự Việt Nam-lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 04 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ XUÂN THU

CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM - LÝ
LUẬN
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI
DƢƠNG
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƢỢNG


HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

1.3.

CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG MỘT SỐ MÔ HÌNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRÊN THẾ GIỚI ........................................... 26

1.3.1. Trong mô hình tố tụng tranh tụng ...................................................... 26
1.3.2. Trong mô hình tố tụng xét hỏi............................................................ 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 33
Chương 2: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO
CHỮA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH HẢI DƢƠNG ....35
2.1.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA ............. 35


2.1.1. Quyền của ngƣời bào chữa ................................................................. 35
2.1.2. Nghĩa vụ của ngƣời bào chữa............................................................. 48
2.2.

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA TẠI
TỈNH HẢI DƢƠNG........................................................................... 54

2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân ........................................... 54
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân ......................................................... 63
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 72
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA ......................... 73


: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

HĐXX

: Hội đồng xét xử

LS

: Luật sƣ

NBTG

: Ngƣời bị tạm giữ

TA

: Tòa án

4

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số lƣợng LS của tỉnh Hải Dƣơng từ tháng 10/1989
đến tháng 12/2013

55

Bảng 2.2: Số VAHS có LS tham gia bào chữa từ năm
2008-2013

57

Bảng 2.3: Số vụ án ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử từ
năm 2008 đến năm 2013 và số vụ án LS tham gia
bào chữa qua các giai đoạn TTHS

64

Bảng 2.4: Số bị can, bị cáo thuộc diện ngƣời đƣợc trợ giúp
pháp lý đƣợc bào chữa miễn phí qua các năm từ 2008
đến 2013

66




trái ngƣợc nhau. Do đó, cần thiết phải có hƣớng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với thực tiễn.
Từ việc nghiên cứu các qui định của pháp luật TTHS và các văn bản
pháp luật khác có liên quan. Qua phân tích, đánh giá một số công trình nghiên
cứu khoa học có liên quan đến chế định NBC, đặc biệt qua thực tiễn công tác
và với mong muốn góp phần nâng cao việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
TTHS Việt Nam về chế định NBC, tác giả đã lựa chọn và thực hiện nghiên
cứu ở cấp độ Thạc sĩ với đề tài: “Chế định người bào chữa trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam - Lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải
Dương” làm Luận văn nghiên cứu của mình là hết sức cần thiết và có ý nghĩa
không những về lý luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Chế định NBC là chế định hết sức quan trọng và cần thiết trong TTHS.
Bởi xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt của NBC. Trong các công
trình khoa học của các nhà nghiên cứu, nhà luật học,...đã có nhiều đề tài
nghiên cứu về chế định này ở những mức độ, khía cạnh, phƣơng diện khác
nhau nhƣ: “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của
PGS.TS. Hoàng Thị Sơn; “Bào chữa cho các nhóm dễ bị tổn thương theo
Luật TTHS Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí; “Địa vị pháp lý của
Luật sư trong hoạt động tranh tụng” và “Bảo đảm quyền bào chữa của người
bị buộc tội” của PGS.TS.LS. Phạm Hồng Hải; “Vai trò của Luật sư trong tố
tụng hình sự” của TS. Nguyễn Văn Tuân; “Hành nghề Luật sư trong vụ án
hình sự” của TS.LS. Phan Trung Hoài; “Về chế định người bào chữa” của TS.
Đinh Văn Quế; “Mô hình TTHS Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”
của TS. Dƣơng Thanh Biểu; “Vấn đề tranh tụng trong hoạt động TTHS và
việc thể chế hóa trong quá trình hoàn thiện BLTTHS Việt Nam” của TS. Lê
Hữu Thể; “Mô hình TTHS Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
PGS. TS Nguyễn Thái Phúc,…

can, bị cáo được bảo đảm”; “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo
đảm” mà BLTTHS năm 2003 và Hiến pháp 2013 đã ghi nhận.

3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về chế định NBC
nhƣ: khái niệm NBC và chế định NBC; chủ thể; đối tƣợng bào chữa; địa vị
pháp lý NBC; chế định NBC trong một số mô hình TTHS trên thế giới.
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng áp dụng chế định NBC trên địa bàn tỉnh
Hải Dƣơng, đồng thời phân tích làm rõ những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế,
tồn tại xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của hạn chế đó.
- Đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định
NBC trong luật TTHS Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này
trong thực tiễn.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chế định NBC trong Luật TTHS Việt Nam hiện hành
và trong một số mô hình TTHS trên thế giới, kết hợp với việc nghiên cứu,
đánh giá thực tiễn áp dụng chế định này trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng trong
giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là các quan điểm khoa học và
những qui định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật
khác có liên quan đến chế định NBC, những tƣ liệu thực tiễn của các
CQTHTT, Đoàn LS, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh
Hải Dƣơng. Bên cạnh đó, những văn bản pháp luật của một số nƣớc trên
thế giới có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu cũng đƣợc đề cập
nhằm làm sáng tỏ chế định NBC.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

này, nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đƣa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về chế
định NBC, đặc biệt là bổ sung thêm một số chủ thể, đối tƣợng bào chữa chƣa
đƣợc qui định trong BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này

5


trong giai đoạn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền và cải cách tƣ pháp ở Việt
Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn có những đóng góp nhất định trên phƣơng
diện lý luận về chế định NBC.
Về mặt thực tiễn: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn góp
phần nâng cao chất lƣợng bào chữa, đảm bảo thực hiện nguyên tắc “Bảo đảm
quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo”. Ngoài ra, Luận văn còn có ý
nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các sinh viên, học viên cao học
thuộc chuyên ngành tƣ pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, những nhà hoạt
động thực tiễn và những ai quan tâm đến vấn đề này. Đặc biệt, có thể là tài
liệu tham khảo trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm
2003 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến chế định NBC.
7. Bố cục của Luận văn
Bố cục của Luận văn đƣợc xây dựng phù hợp với mục đích, đối tƣợng
và phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh
mục các bảng, Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chƣơng với kết cấu nhƣ sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chế định ngƣời bào chữa
Chương 2: Qui định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về chế
định NBC và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hải Dƣơng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các qui

“NBC là người được các CQTHTT chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra

7


những tình tiết xác định NBTG, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của NBTG, bị can, bị cáo và giúp đỡ NBTG, bị can, bị cáo
về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” [58, tr.137]
Có thể nói, các quan điểm trên xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau trên
cơ sở nghiên cứu chế định NBC trong Luật TTHS Việt Nam và thực tiễn thi
hành luật. Mỗi quan điểm đều nhấn mạnh một hoặc một số đặc điểm của
NBC, chƣa đƣa ra một cách khái quát, đầy đủ khái niệm NBC. Do đó, dễ dẫn
đến cách hiểu khái niệm NBC chỉ bao gồm trách nhiệm, mục đích của NBC
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo mà
chƣa khái quát hết các qui định của pháp luật TTHS về điều kiện, tiêu chuẩn,
vị trí, vai trò tham gia tố tụng của NBC, chƣa mở rộng việc bào chữa đối với
ngƣời bị bắt, ngƣời bị kết án mặc dù việc giúp đỡ họ về mặt pháp lý và bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho họ là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Vì vậy, theo chúng tôi một khái niệm đầy đủ về NBC phải thể hiện
đƣợc các đặc điểm về NBC và phạm vi đối tƣợng bào chữa nhƣ sau:
Thứ nhất, NBC là người tham gia tố tụng. Đặc điểm này nhằm phân
biệt NBC với ngƣời THTT. Bởi ngƣời THTT là ngƣời nhân danh và sử dụng
quyền lực nhà nƣớc để giải quyết VAHS. NBC chỉ là ngƣời tham gia làm
sáng tỏ những tình tiết của vụ án, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
NBTG, bị can, bị cáo, không phải là ngƣời trực tiếp giải quyết VAHS.
Thứ hai, NBC tham gia tố tụng với mục đích đưa ra những tình tiết xác
định người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án vô tội, những tình tiết
giảm nhẹ TNHS đối với họ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm này xác định nhiệm vụ, mục đích tham
gia tố tụng của NBC đối với đối tƣợng bào chữa. Theo chúng tôi, nên mở

Nhƣ vậy, trên cơ sở phân tích các đặc điểm về NBC và sự tiếp thu
những điểm hợp lý, khắc phục những hạn chế trong các khái niệm NBC nói
trên, dƣới góc độ khoa học Luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm về
NBC trong Luật TTHS nhƣ sau: “NBC trong Luật TTHS là người đáp ứng

9


các tiêu chuẩn, điều kiện do pháp luật qui định, được CQTHTT cấp giấy
chứng nhận, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức để
chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị bắt, NBTG, bị
can, bị cáo, người bị kết án và giúp đỡ các chủ thể đó về mặt pháp lý trong
các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Từ hai khái niệm chế định pháp luật và khái niệm NBC, có thể đƣa ra
khái niệm khoa học về chế định NBC nhƣ sau: “Chế định NBC trong luật
TTHS Việt Nam là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm các quan
hệ xã hội liên quan tới NBC, trong đó có chủ thể bào chữa, đối tượng bào
chữa, quyền và nghĩa vụ của NBC”.
1.1.2. Chủ thể bào chữa
Một là, Luật sư
Luật sƣ là ngƣời có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của pháp luật,
tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức [45, Điều 2] nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo qui định của pháp luật.
Hoạt động bào chữa của LS có tính chất chuyên nghiệp [58, tr. 137]. Tiêu
chuẩn để trở thành LS phải: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc,
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân
Luật, đã đƣợc đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề LS, có sức
khỏe bảo đảm hành nghề LS [45, Điều 10]. Ngƣời có đủ tiêu chuẩn nói trên
muốn đƣợc hành nghề LS phải có Chứng chỉ hành nghề LS và gia nhập một
Đoàn LS [45, Điều 11]. LS có thể tham gia TTHS với tƣ cách NBC theo hợp

dân tối cao qui định: Đại diện hợp pháp của bị cáo chƣa thành niên là bố mẹ
hoặc ngƣời đỡ đầu của họ [54, tr.137]. Tuy nhiên, mới chỉ qui định ngƣời đại
diện hợp pháp của bị cáo mà không bao gồm ngƣời đại diện của NBTG, bị
can và chỉ qui định ngƣời đại diện đối với bị cáo chưa thành niên mà không
phải là bị can, bị cáo thuộc những trƣờng hợp khác nhƣ: ngƣời có nhƣợc điểm

11


về thể chất hoặc tâm thần. Tại Hội nghị tổng kết ngành TA năm 1991, Chánh
án TA nhân dân tối cao khẳng định:
Ngƣời thân thích của bị cáo không phải là NBC, nhƣng thực
tiễn cho thấy có những vấn đề, những tình tiết thuộc về vụ án, thuộc
về nhân thân của bị cáo thì chỉ có ngƣời thân thích mới thấu hiểu và
nắm bắt đƣợc một cách tƣờng tận và do đó họ có thể giúp cho
HĐXX cân nhắc việc xử lý đƣợc chính xác hơn, bảo đảm việc xét xử
của TA đƣợc đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, ngƣời
thân thích của bị cáo có quyền làm NBC cho bị cáo [55, tr.138].
Nội dung hƣớng dẫn trên chứa đựng sự mâu thuẫn khi khẳng định ngƣời
thân thích của bị cáo không phải là NBC nhƣng sau đó lại cho phép ngƣời thân
thích của bị cáo có quyền tham gia TTHS để bào chữa cho bị cáo. Hơn nữa,
hƣớng dẫn này không làm rõ ngƣời thân thích của bị cáo là ai [2]. Một số qui
định khác trong BLTTHS hiện hành và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
TA nhân dân tối cao có nhắc tới ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị
cáo [43, Điều 231]; [33, điểm 1 Mục I] nhƣng vẫn không qui định cụ thể hoặc
khái niệm ngƣời đại diện hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn TTHS vẫn tồn tại các quan
điểm khác nhau về ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo dẫn đến
cách áp dụng khác nhau trên thực tế. Có quan điểm cho rằng ngƣời đại diện
hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo là ngƣời đại diện theo pháp luật. Nhƣng

tránh tình trạng xét xử không vô tƣ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị
can, bị cáo: Các nhân viên Ủy ban kháng chiến khu hay tỉnh, Thẩm phán xử
án hay buộc tội, các Lục sự và Thƣ ký thuộc quản hạt TA đang xét xử, các
Trƣởng ty, Phó Trƣởng ty Công an thuộc tỉnh mà việc của đƣơng sự đang
mang ra xét xử. Trong suốt thời gian dài (từ năm 1949 đến năm 1987)
BCVND đã giữ một vai trò quan trọng trong TTHS. Tuy nhiên, từ năm 1989
đến nay, khi các Đoàn LS đƣợc khôi phục ở các địa phƣơng thì các Đoàn bào

13


chữa đã giải thể và chấm dứt hoạt động, do đó chức danh BCVND chỉ tồn tại
trên “phƣơng diện pháp lý”. Hiện nay, BLTTHS hiện hành chƣa quy định
khái niệm, điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, trình độ cũng nhƣ chức năng
của BCVND và trong thực tế hoạt động, BCVND không đƣợc tổ chức thành
một hệ thống, trong khi xã hội có nhiều ngƣời có kiến thức pháp lý và kinh
nghiệm bào chữa nhƣng chƣa đƣợc kết nạp vào Đoàn LS và họ đƣợc NBTG,
bị can, bị cáo nhờ bào chữa. Trƣờng hợp nhƣ vậy có đƣợc gọi là BCVND
không? Pháp luật TTHS chƣa qui định đối với trƣờng hợp này. Do đó, mỗi
nơi thực hiện khác nhau. Hiện nay, chƣa quy định cụ thể điều kiện để
BCVND đƣợc cấp Giấy chứng nhận NBC, thực tế có không ít BCVND không
am hiểu pháp luật, họ bào chữa cho thành viên của tổ chức mình nhƣng bản
thân cũng không hiểu việc bào chữa đó có đúng pháp luật không. Còn ngƣời
đƣợc bào chữa cũng không biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình có đƣợc
đảm bảo không nếu BCVND đứng ra bào chữa cho mình? Họ khó từ chối vì
họ là thành viên của tổ chức đó.
Căn cứ vào hƣớng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TA nhân dân tối cao
tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 về quy định tại khoản
2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 thì một ngƣời đƣợc coi là BCVND khi ngƣời
đó đƣợc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận

ích hợp pháp của mình. Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Trợ giúp viên
pháp lý tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị
can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa.
Năm là, NBTG, bị can, bị cáo
Bên cạnh bốn chủ thể bào chữa trên, theo qui định của BLTTHS năm
2003, chủ thể bào chữa còn bao gồm: NBTG, bị can, bị cáo vì tại Điều 11,
điểm d Khoản 2 Điều 48, điểm e khoản 2 Điều 49, điểm e khoản 2 Điều 50
BLTTHS năm 2003 thì NBTG, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
ngƣời khác bào chữa. So với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 mở

15


rộng hơn quyền bào chữa của bị cáo đặc biệt là quyền “trình bày ý kiến tranh
luận tại phiên tòa” đƣợc nhấn mạnh tại điểm g khoản 2 Điều 50.
Về chủ thể bào chữa là NBTG, bị can, bị cáo có ý kiến cho rằng các
chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm: NBTG, bị can, bị cáo; NBC,
bị đơn dân sự; ngƣời đại diện hợp pháp và ngƣời bảo vệ quyền lợi của họ [3].
NBTG, bị can, bị cáo là chủ thể của một bên tranh tụng, họ là ngƣời bị buộc
tội trực tiếp, họ có quyền nhƣng không buộc phải chứng minh mình vô tội
[43, Điều 10]. Khi tham gia tố tụng để bào chữa cho sự vô tội hoặc làm giảm
nhẹ TNHS cho bản thân, đồng thời những lý lẽ họ đƣa ra cũng là chứng cứ
quan trọng cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Chỉ có họ là ngƣời
đã thực hiện hoặc không thực hiện hành vi phạm tội nên mới hiểu chính xác,
đầy đủ những tình tiết có hoặc không liên quan đến vụ án. Do đó, sự tham gia
tố tụng với tƣ cách là một chủ thể bào chữa (tự bào chữa) thì họ mới thực hiện
quyền bào chữa một cách khách quan, toàn diện và chính xác nhất. Mặc dù
vậy, nhƣng đa số các chủ thể này là những ngƣời có nhận thức pháp luật hạn
chế nên việc tự bào chữa gặp nhiều khó khăn, không ít trƣờng hợp làm tăng
nặng hành vi do mình thực hiện. Do đó, cần thiết phải có ngƣời trợ giúp về

giữ ngƣời không đúng tội, không đúng pháp luật. Nhiều trƣờng hợp
CQTHTT chƣa tìm ra chứng cứ để chứng minh cho hành vi phạm tội của
ngƣời bị nghi thực hiện tội phạm nhƣng vẫn bắt giữ và hợp thức hóa hồ sơ
bằng cách xác định ngƣời đó là ngƣời phạm tội tự thú hoặc đầu thú. Kể cả
trong trƣờng hợp họ ra tự thú hoặc đầu thú cũng chƣa chắc đã phải là ngƣời
thực hiện hành vi phạm tội, bởi thực tế có rất nhiều trƣờng hợp họ nhận tội
thay ngƣời khác. Vì vậy, sự tham gia của NBC là hết sức cần thiết nhằm
giúp NBTG xác định đƣợc những chứng cứ chứng minh họ không thực hiện
tội phạm, không liên quan đến sự việc là lý do bắt giữ họ hoặc làm giảm
TNHS đối với họ. Khi đó NBTG trở thành đối tƣợng bào chữa. Đây là qui
định mới của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988 nhằm đảm bảo
quyền của NBTG trong TTHS.

17


* Bị can:
Bị can là ngƣời đã bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có
quyết định khởi tố bị can. Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và
một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm [58, tr.120]. Bị can có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa [43, Điều 49]. Trong quá trình giải quyết
VAHS đối với bị can, nếu vì lý do nào đó ngƣời THTT không vô tƣ, khách
quan hoặc do trình độ, năng lực hạn chế sẽ dẫn đến việc dùng các biện pháp
trái luật nhƣ: ép cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc bị can phải khai báo
theo ý muốn chủ quan của ngƣời THTT. Vì vậy, việc tham gia của NBC để
giúp đỡ họ về mặt pháp lý là rất cần thiết. Trong trƣờng hợp này bị can trở
thành đối tƣợng bào chữa.
* Bị cáo:
Bị cáo là ngƣời bị TA quyết định đƣa ra xét xử. Bị cáo tham gia tố tụng
từ khi có quyết định đƣa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status