MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta
chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại với nhiều nước trên thế giới. Sự vận hành của nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang đem lại sự chuyển
biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè
quốc tế đánh giá cao.
Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu ở trên, nền kinh tế thị trường
cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn
biến phức tạp. Các vụ án giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em,
lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham nhũng, buôn lậu, các tội phạm về ma túy...
xảy ra nhiều, với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Tình hình trên
không những xâm hại tính mạng, sức khỏe của người dân, lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước, mà còn thực sự
đe dọa phá vỡ chính sách kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối
với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, gây ra những hậu
quả nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thậm chí tình hình tội
phạm còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tình báo nước ngoài lợi
dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu thập tình báo, phá hoại sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trước tình hình trên, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã áp dụng các
biện pháp có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý kịp thời,
nghiêm minh mọi hành vi phạm tội và người phạm tội. Tòa án các cấp đã xử
phạt tử hình nhiều người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có tác dụng răn đe,
phòng ngừa tội phạm, phục vụ yêu cầu chính trị chung. Việc thi hành hình
1
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về thi
hành hình phạt tử hình, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống về chế định hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình
sự, cũng như thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận
văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thống
những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình, phân tích, đánh giá đúng
thực trạng những quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng
hình sự hiện hành, thực tiễn thi hành hình phạt tử hình, xác định những vướng
mắc trong thực tiễn thi hành hình phạt tử hình, để trên cơ sở đó, đề xuất hệ
thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tử hình, các hình thức thi
hành hình phạt tử hình.
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt
tử hình của một số nước trên thế giới.
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình
phạt tử hình ở nước ta.
3
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt
Nam, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam. Có thể xem
những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận văn:
1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tử hình.
2. Phân tích làm rõ thực trạng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng ở nước
ta.
3. Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
của Việt Nam về thi hành hình phạt tử hình với những quy định tương ứng
trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những
giá trị hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
4. Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, thi hành hình
phạt tử hình nói riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất, tác giả
mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của kho tàng
lý luận luật tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên cứu thực tiễn thi hành hình
phạt tử hình ở Việt Nam. Với việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình
phạt tử hình, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc
đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ các cơ quan có trách nhiệm trong việc
Nhà nước đối với người phạm tội, bởi lẽ nó tước đi quyền sống của người bị
kết án, loại bỏ sự tồn tại của người phạm tội khỏi đời sống cộng đồng. Hiện
nay, trên thế giới, có hai loại quan điểm trái ngược nhau về hình phạt tử hình:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm an ninh xã hội, công bằng
và công lý, cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng; đối với những kẻ khủng bố quốc tế, giết người hàng loạt,
thì không thể có biện pháp giáo dục nào có tác dụng, ngoài việc tước đi sự tồn
tại của chúng [48, tr. 54].
Quan điểm thứ hai cho rằng, cần phải bỏ hình phạt tử hình, vì sự sống
của con người là thiêng liêng nhất mà tạo hóa đã dành cho họ; việc áp dụng
hình phạt này là tàn khốc, vô nhân tính, không thể chấp nhận được trong xã
hội văn minh. Mặt khác, các cơ quan tố tụng có thể sai lầm khi áp dụng hình
phạt này và khi phát hiện ra sai lầm, thì lại không thể khắc phục được, bởi lẽ
người đã chết, thì không thể có biện pháp nào có thể khắc phục để họ sống trở
lại [48, tr. 54].
7
Thể hiện hai quan điểm trên, theo số liệu chính thức của Ủy ban về
quyền con người của Liên hợp quốc, hiện có 71 quốc gia vẫn duy trì hình phạt
tử hình, 15 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các tội thông thường,
nhưng vẫn duy trì hình phạt tử hình đối với tội giết người; 77 quốc gia hoàn
toàn xóa bỏ hình phạt tử hình, 33 quốc gia tuy còn quy định hình phạt tử hình,
nhưng không thi hành hình phạt tử hình trên thực tế. Như vậy, 110 quốc gia
đã xóa bỏ hình phạt tử hình hoặc không thi hành hình phạt tử hình trên thực
tế, chỉ còn 86 quốc gia vẫn duy trì loại hình phạt này. Đáng chú ý, một số
quốc gia lớn và đông dân như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Ấn
Độ, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Nhật Bản, Cộng hòa Inđônêxia...
vẫn còn duy trì hình phạt này.
tối cao, thời hạn quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định
không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; thủ tục xin ân giảm trình lên
Chủ tịch nước... Đây là những thủ tục mà đối với việc thi hành các hình phạt,
biện pháp tư pháp khác, pháp luật tố tụng hình sự không quy định.
Đặc điểm thứ hai, khác với việc thi hành các hình phạt, biện pháp tư
pháp khác, nếu việc thi hành hình phạt tử hình có sai lầm, thì không thể khắc
phục được hậu quả. Đặc điểm này bắt nguồn từ bản chất của hình phạt tử hình
là tước đi quyền sống của người bị kết án, vì vậy, nếu như thi hành hình phạt tử
hình không đúng đối tượng bị kết án, thì sai lầm này không thể khắc phục được.
Đặc điểm thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tước đi
sự sống của người bị kết án, mà còn gây ra nỗi đau thương, mất mát lâu dài
cho người thân của họ, đồng thời có những tác động tâm lý tiêu cực nhất định
lên những cá nhân trực tiếp thực hiện việc thi hành hình phạt tử hình. Đây là
đặc điểm chúng ta cần lưu ý khi thực hiện công tác chính trị, tư tưởng đối với
người thân của người bị kết án, cũng như đối với số cán bộ, chiến sĩ trực tiếp
làm nhiệm vụ tước đi mạng sống của người bị kết án.
1.1.2. Các hình thức thi hành hình phạt tử hình
11
Hình thức thi hành hình phạt tử hình là cách thức tước bỏ sự sống của
người bị kết án tử hình do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền thực
hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài người đã áp dụng rất nhiều
hình thức thi hành hình phạt tử hình. Việc lựa chọn hình thức thi hành hình
phạt tử hình nào cho phù hợp, phụ thuộc vào các điều kiện chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, cũng như chính sách hình sự của mỗi quốc gia. GS.TS người
Nga A.Ph. Kixthiacốpxki đã dày công nghiên cứu về những hình thức thi
hợp, người bị kết án có thể được bố trí đối diện người thi hành án; riêng ở
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, người bị kết án được bố trí quay lưng về phía
đội thi hành án, vì theo phong tục của nước này, người bị kết án không được
nhìn về phía người bắn để hồn ma không thể về trả thù được.
Hình thức thứ hai: treo cổ.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình bị Ủy ban Ân xá quốc tế
cho là dã man và cần phải bãi bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn có 70 nước trên thế giới
áp dụng hình thức này như: Cộng hòa Singpore, Cộng hòa Ấn Độ, Nhật Bản...
Ở Nhật Bản, việc thi hành hình phạt tử hình được giữ bí mật tuyệt đối, người
bị kết án bị tròng vào cổ chiếc dây được xát xà phòng trơn, đầu bị trùm một
tấm vải kín và được đứng trên một chiếc ghế đẩu. Khi được lệnh, người thi
hành án hất đổ chiếc ghế và việc thi hành án được coi như đã hoàn tất.
Hình thức thứ ba: chém đầu.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình được 6 quốc gia trên thế
giới áp dụng. Cách thức chém đầu có hai cách: dùng máy chém hoặc dùng
kiếm. Hiện nay, Vương quốc Ảrập Xêút (Saudi Arabia) là quốc gia thường áp
dụng hình thức này.
Hình thức thứ tư: ném đá đến chết.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình vô nhân đạo nhất hiện nay,
trong đó người bị kết án bị chôn, chỉ để hở đầu lên khỏi mặt đất, sau đó bị
13
ném đá cho đến chết. Điều 119 Bộ luật hình sự hồi giáo nước Cộng hòa Iran
còn quy định rõ: "Các viên đá không được có kích thước lớn, để người bị kết
án không bị chết ngay sau khi ném một, hai viên; đồng thời chúng cũng
không được có kích thước nhỏ quá" [60, tr. 142]. Hình thức thi hành hình phạt
tử hình này còn được áp dụng ở Cộng hòa Xu Đăng và ở một số nước khu
vực Trung Cận Đông.
độc bốc thành khói, làm ngạt thở người bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng
đập. Hình thức thi hành phạt tử hình này bị coi là phức tạp và khá tốn kém.
Hình thức thứ bảy: tiêm thuốc độc.
Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó người bị kết án
bị buộc chặt vào một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bị tiêm thuốc
độc vào bắp thịt. Hình thức thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được áp
dụng tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào năm 1977. Khi bị tiêm thuốc độc mạnh
vào mạch máu, thì người bị kết án sẽ bị chết trong khoảng thời gian từ 32 giây
đến 1 phút. Tuy nhiên, cũng đã xảy ra một số trường hợp người bị kết án
không chết ngay do dụng cụ truyền chất độc trượt khỏi mạch máu hoặc thuốc
độc không đủ mạnh khi pha chế.
Hình thức thi hành hình phạt tử hình này được dư luận coi là "nhân đạo",
tiết kiệm hơn cả, được 34 bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa và nhiều nước khác trên thế giới áp dụng. Ngày 30-01-2001,
Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã phê chuẩn đề nghị thi hành hình phạt tử
hình bằng tiêm thuốc độc thay vì xử bắn.
1.1.3. Ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam
15
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước
ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về
kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta.
Trong chế định thi hành hình phạt tử hình, khái niệm thi hành hình
phạt tử hình là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định các
quy phạm khác của chế định thi hành hình phạt tử hình như hình thức thi hành
hình phạt tử hình, trình tự, thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi
tụng hình sự, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp tố tụng hình sự, còn có ý nghĩa
nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp
luật nói riêng về sự cần thiết phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật
tố tụng hình sự trong lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình. Mặt khác, việc quy
định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình còn giúp các cơ
quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó áp dụng
đúng đắn chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm, động viên quần chúng nhân dân tham gia tích vào cuộc đấu
tranh này.
Ngoài ra, chế định thi hành hình phạt tử hình, còn có ý nghĩa là cơ sở
pháp lý cho một số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ với khoa
học luật tố tụng hình sự như tội phạm học, tâm lý học tư pháp, khoa học kỹ
thuật hình sự... Đối với tội phạm học, chế định thi hành hình phạt tử hình
trong luật tố tụng hình sự là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu về nhân
thân người bị kết án tử hình, từ đó tìm ra quy luật phạm tội của những người
này. Đối với tâm lý học tư pháp, chế định thi hành hình phạt tử hình có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người bị kết án
tử hình ở giai đoạn xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành, cũng
như ở giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, nhất là ở thời điểm trước khi thi
hành án. Kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm lý của những người bị kết án tử
hình trong hoạt động thi hành hình phạt tử hình, sẽ là tài liệu quan trọng phục
vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử những người phạm tội đặc biệt
17
nghiêm trọng và góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Đối với khoa học kỹ thuật hình sự, việc quy định trình tự, thủ tục thi
hành hình phạt tử hình là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, đề xuất các
hình thức thi hành hình phạt tử hình tiết kiệm, dễ áp dụng, "nhân đạo" nhất
thành văn đầu tiên của nước ta nhưng hiện nay không còn nên chúng ta không
biết rõ nội dung các điều luật.
Dưới thời nhà Trần, hình phạt tử hình đối với những người bị ghép tội
phản nghịch được thi hành bằng cách: cho voi dầy, lăng trì (cắt từng miếng
thịt cho đến chết), chôn sống, bêu đầu (sau khi chém người phạm tội bị chôn
xuống đất, chỉ để lộ ra cái đầu, rồi buộc đầu vào một cây tre uốn cong xuống
đất để bên cạnh. Khi xử tử, người ta lấy dao sắc chém đầu, đầu người tử tội sẽ
bị treo trên cành tre). Việc áp dụng các hình thức thi hành hình phạt tử hình
như trên là nhằm bảo vệ chế độ phong kiến khỏi sự xâm hại của những kẻ
phản nghịch.
Dưới thời nhà Lê (1428 – 1788), Quốc triều hình luật (Bộ Luật Hồng
Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng nhất, đã đề cập đến thi hành hình
phạt tử hình tại mục 5 Điều 1 chương danh lệ:
Tử hình có ba bậc: từ tội thắt cổ (giảo), chém, đến tội lăng
trì, chia làm ba bậc thắt cổ, chém là một bậc, chém bêu đầu (khiêu)
là một bậc, lăng trì là một bậc, tùy theo tội mà tăng giảm.
1. Thắt cổ, chém.
2. Chém bêu đầu.
3. Lăng trì [36, tr. 219].
Điều 680 chương đoán ngục quy định:
Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai, thì phải
để sinh đẻ sau 100 ngày, mới đem hành hình, nếu chưa sinh mà
đem hành hình, thì ngục quan bị xử biếm hai tư, ngục lại bị tội đồ
19
làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi nhưng chưa đủ một trăm ngày mà
hành hình, thì ngục quan và ngục lại đều bị tội nhẹ hơn tội trên hai
bậc. Nếu đã đủ một trăm ngày mà không đem hành hình, thì ngục
kiêm chức nam án thủ hiến định.
Tử hình nếu không do quan toàn quyền xét ý kiến quan
trưởng lý mà phê chuẩn, thì không được thi hành.
Phàm đàn bà con gái bị xử tử hình, mà tự xưng rằng có thai
hễ xét ra quả thật thì đợi đến khi sinh đẻ rồi mới thụ hình. Người
nào vì tội giết cha mẹ mà bị tử hình, thì chỉ cho mặc một cái áo lót
mình, đi chơn không, đầu bịt vải trắng, rồi giải đến chỗ hình trường.
Đem người phạm để chỗ hình trường rồi người thừa phát
lại đem án ra đọc trước công chúng. Khi đọc xong, thi hành ngay.
Cái xác người bị tử hình, nếu có người thân tộc đứng xin,
sẽ cho nhận lấy mà mai táng, nhưng mà không cho phô trương.
Phàm gặp ngày kỷ niệm nước đại Pháp và những ngày lễ mà
luật đại Pháp đã nhận, ngày chủ nhật, và theo như lịch An Nam, đầu
năm từ mồng một đến mồng bảy, rằm tháng bảy, rằm tháng tám, ba
ngày cuối cùng tháng chạp ngày vạn thọ nước Nam thì không được
hành hình [32, tr. 5].
Trong Hoàng Việt hình luật được ban hành năm 1933, có hiệu lực ở
Trung kỳ, Điều 6, 7, 8 chương 2 - Những tội danh đại hình, quy định:
Người bị tử hình sẽ bị bắn hoặc chém ở trước công chúng.
Còn chỗ hành hình nếu hội đồng thượng thơ không chỉ định, thời
quan tỉnh sở tại sẽ định một chỗ ở trong tỉnh mà tội nhân đã phạm
pháp. Nếu đàn bà bị tử hình xưng rằng có thai, mà xét ra quả thiệt,
thời sau khi sanh đẻ rồi một trăm ngày mới phải thụ hình.
Tội tử hình không đem ra hành hình trong những ngày quốc
khánh (đại Pháp) và những ngày lễ mà luật nước đại Pháp Việt
21
Nam đã công nhận, ngày chủ nhựt (cùng ngày lễ vạn thọ, ba ngày
24
- Một đại diện của Tòa án nhân dân (Chánh án, Phó chánh
án hoặc Ủy viên thẩm phán).
- Một bác sĩ pháp y (do Hội đồng giám định pháp y ở địa
phương chỉ định).
- Một đại diện của trại giam (Chánh hoặc Phó giám thị).
Người chứng kiến việc thi hành án là một đại diện của Ủy
ban hành chính cơ sở nơi bố trí pháp trường. Người này có nhiệm
vụ lập giấy khai tử cho kẻ bị áp dụng hình phạt tử hình sau khi bắn.
Trước khi đưa phạm nhân ra pháp trường, cán bộ căn cước
của Sở, Ty Công an phải đến trại giam, lập danh chỉ bản mới, đem
đối chiếu với danh chỉ bản cũ và các tài liệu khác đầy đủ, chính xác
và xác định phạm nhân đó đúng là phạm nhân bị kết án tử hình và
đúng là kẻ sắp bị thi hành án trong kế hoạch đã định [45, tr. 256].
Về trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, Chỉ thị quy định:
4. Sau khi trói tay phạm nhân vào cọc đã trông sẵn, thì đại
diện Tòa án nhân dân công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân và
đọc phần kết luận trong bản quyết định duyệt án tử hình hoặc quyết
định bác đơn xin ân giảm của phạm nhân.
5. Bịt mắt phạm nhân bằng một vải băng đen.
6. Hội đồng thi hành án ra lệnh thì cán bộ chỉ huy lực lượng
thi hành án hô đội viên (5 đội viên bắn giỏi được lựa chọn) bắn một
loạt súng trường nhằm thẳng vào tim phạm nhân. Để kết thúc việc
thi hành án tử hình, cán bộ chỉ huy bắn thêm một phát súng ngắn
vào thái dương của phạm nhân.
7. Bác sĩ pháp y khám nghiệm, xác định là phạm nhân đã
chết hẳn.