BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
LÊ THỊ NGỌC THÙY
“HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT
NAM - CHI NHÁNH KEANG NAM”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
LÊ THỊ NGỌC THÙY
“HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH KEANG NAM”
Chuyên ngành
: Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 14BM0201074
còn nhận được sự động, viên khuyến khích và giúp đỡ hết sức tận tình từ phía
gia đình, nhà trường, cơ quan và bạn bè, đã giúp em hoàn thành tốt bài luận văn
này. Vì vậy, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được báy tỏ lời cảm
ơn chân thành tới:
Nhà trường, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu trường cùng toàn thể
các thầy cô trong trường Đại học Thương Mại, các thầy cô trong khoa Tài ChínhNgân Hàng sau đại học đã truyền đạt những kiến thức quy báu cho em trong suốt
quá trình học tập. Đặc biệt, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến TS.
Nguyễn Thu Thủy, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình viết
bài luận văn này.
Đơn vị làm việc, em xin được gửi lời cảm ơn đến ban giám đốc và toàn thể
cán bộ nhân viên Techcombank KeangNam đã truyền đạt những kinh nhiệm quý
báu và hướng dẫn, chỉ dạy em nhiệt tình để em có cái nhìn xác thực hơn, rõ nét hơn
về vấn đề nghiên cứu, giúp em hoàn thành sản phẩm nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
STT
Chữ viết tắt
6
TCDC
Tổ chức dân cư
7
TCTD
Tổ chức tín dụng
8
SXKD
Sản xuất kinh doanh
9
VNĐ
Việt Nam đồng
10
USD
Đô la Mỹ
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Nguồn nhân lực của Techcombank KeangNam................................................................42
Bảng số 2.1. Quy mô vốn huy động tại Techcombank KeangNam giai đoạn 2012-6/2016..............44
Biểu đồ số 2.1. Quy mô vốn huy động giai đoạn 2012-6/2016........................................................45
Bảng số 2.2 :Tổng dư nợ Techcombank KeangNam giai đoạn 2012-6/2016....................................47
Biểu đồ số 2.2.Tổng dư nợ Techcombank Keangnam giai đoạn 2012-6/2016..................................48
Bảng số 2.3. Kết quả kinh doanh của Techcombank KeangNam giai đoạn 2012-6/2016.................50
Bảng số 2.4: Quy mô vốn huy động của Techcombank KeangNam giai đoạn 2012-6/2016.............56
Bảng số 2.5 Vốn tiền gửi theo thành phần kinh tế của Techcombank KeangNam 2012- 6/2016.....58
Bảng 2.6 Vốn tiền gửi theo loại tiền của Techcombank KeangNam từ 2012- 6/2016......................63
Bảng số 2.6. Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2012- 6/2016.........................................66
Sơ đồ2.1. Cơ cấu tổ chức của Techcombank KeangNam.................................................................38
Hình 2.2: Bảng lãi suất tiết kiệm trả lãi cuối kỳ bằng VNĐ của một số ngân hàng năm 2015...........71
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh
được diễn ra thường xuyên và liên tục thì cần phải có tư liệu sản xuất. Ngân hàng
thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu
chính trong việc tạo ra sản phẩm. Ngân hàng, là một thứ nguyên liệu độc tôn không
thể thay thế. Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của ngân hàng là hoạt động huy
động vốn. Nên tình hình hoạt động của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào tình hình
huy động vốn của chính Ngân hàng đó. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong ngân hàng. Nó là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
Là một học viên chuyên ngành tài chính ngân hàng, bằng những vốn kiến thức
đã được tiếp thu ở trường cộng với sự hiểu biết có hạn từ thực tế và quá trình làm
việc tại Techcombank chi nhánh Keangnam, em đã chọn đề tài : “ Huy động vốn
tiền gửi của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh
Keang Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài:
Huy động vốn tiền gửi đóng vai trò quan trọng quyết định đến quy mô hoạt
động, quyết định đến khả năng thanh khoản và đảm bảo uy tín của ngân hàng trong
nền kinh tế; đồng thời là vấn đề then chốt trong hoạt động huy động vốn của NHTM
hiện nay nên nó là đề tài được khá nhiều đối tượng tham gia tìm hiểu. Đã có nhiều
tác giả nghiên cứu về vấn đề này và các công trình nghiên cứu cũng đã phản ánh
được phần nào thực trạng công tác quản lý hoạt động huy động vốn tiền gửi tại các
NHTM. Các tác giả đã đưa ra được một số giải pháp có tính khả thi và đạt được
những kết quả nhất định. Sau đây là một số công trình tiêu biểu:
“Quản lý hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam- Chi nhánh Hà Tĩnh” (2014) của tác giả Từ Thị Thu Hiền, Luận văn Thạc Sĩ
– Đại học quốc gia Hà Nội. Đề tài đi sâu phân tích thực trạng, chỉ ra những kết
quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc quản lý hoạt động
huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Hà Tĩnh,
từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tại
Vietinbank Hà Tĩnh.
3
“Huy động vốn từ khách hàng cá nhân qua tài khoản tiền gửi thanh toán của
NHTM CP Hàng Hải chi nhánh Bắc Ninh” (2013) của Thạc sỹ Dương Thị Ngọc
Quỳnh. Luận văn đó đi sâu vào nghiên cứu nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng. Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện huy động vốn tiền gửi
thanh toán, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM CP Hàng Hải.
những nguyên nhân và các mặt hạn chế, tích cực của công tác huy động vốn từ hộ
gia đình và doanh nghiệp sau đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm tăng cường
hoạt động thu hút vốn và nâng cao năng lực hoạt động của Techcombank.
Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu khác nhau, và đặc thù riêng của từng ngân
hàng mà các nghiên cứu trên chỉ tập trung phân tích, đánh giá và đưa ra các kiến
nghị, đề xuất cho từng ngân hàng cụ thể và gần như không thể áp dụng các giải
pháp đó cho các tổ chức khác. Các đề tài trên đã nghiên cứu về hoạt động huy động
vốn nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu huy động vốn tiền gửi liên quan
đến tăng cường huy động vốn tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam-CN
KeangNam. Đây là điểm mới và khác biệt so với các đề tài trước.
3. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động huy động vốn tiền
gửi của ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam-CN KeangNam. Để thực hiện mục
đích này luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về huy động vốn tiền gửi của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam.
Hai là, phân tích, đánh giá tình hình thực tế công tác huy động vốn tiền gửi tại
Techcombank -Chi nhánh Keang Nam.
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tiền gửi tại
Techcombank – Chi nhánh Keang Nam đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân
hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Keang Nam dựa trên
các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chi phí vốn tiền gửi với khả năng đáp ứng nhu cầu sử
dụng vốn tiền gửi .
5
Phạm vi nghiên cứu:
6
Phương pháp tiếp cận:
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia kết hợp với ứng dụng công nghệ thông
tin và thống kê toán học được áp dụng để thử nghiệm và phát triển các phương pháp
tiếp cận về xã hội, kỹ thuật trong tiến trình nghiên cứu huy động vốn tiền gửi dựa
vào cộng đồng. Các phương pháp này được sử dụng phối hợp với nhau nhằm mục
đích củng cố và phát triển hệ thống giải pháp kỹ thuật và tiếp cận thích hợp để ứng
dụng trong điều kiện mọi tầng lớp cộng đồng dân cư có mức thu nhập khác nhau.
6. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn tiền gửi của ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Techcombank -Chi nhánh
Keang Nam
Chương III: Định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn
tiền gửi tại Techcombank -Chi nhánh Keang Nam.
7
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nguồn vốn của NHTM:
1.1.1.Khái niệm NHTM:
Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với
nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV
đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các
chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh
Theo Luật Ngân hàng nhà nước: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và
sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.Như vậy ngân
hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất
trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn
nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay
phát triển kinh tế.”
Từ những định nghĩa trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài
chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn
cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ
của xã hội.
1.1.2.Nguồn vốn của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm nguồn vốn NHTM:
Các NHTM đã tập trung và huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bằng
nhiều phương thức khác nhau để tạo lập nguồn vốn hoạt động cho mình, theo đó
thì: “Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy
động được dùng cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác” được
Peter Ross viết trong Sách Quản trị ngân hàng thương mại, trang 557. Bản chất,
nguồn vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong
quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào
NH để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền
sử dụng vốn tiền tệ cho NH để rồi NH phải trả lại cho họ một khoản thu nhập. Ngân
9
hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các
nhà đầu tư có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó
thúc đẩy nền kinh tế phát triển
quyết định năng lực phát triển của NHTM. Khi đánh giá về qui mô của một NHTM
thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng đó.
Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy thuộc tính chất sở hữu, năng
lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở
hữu của ngân hàng gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ.
-Vốn điều lệ: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ
của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTM được thành lập. Gọi là vốn điều
lệ vì vốn được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thề
được điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng, vốn điều lệ có
thể do nhà nước cấp nếu đó là NHTM Nhà Nước, có thể là vốn đóng góp của cổ
đông nếu là NHTM cố phần. Trên thế giới, vốn của hầu hết các NHTM dưới dạng
vốn cổ phần do các cổ đông đóng góp. vốn điều lệ được sử dụng chủ yếu vào mục
đích lâu dài như mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt
động của ngân hàng, góp vốn liên doanh.
-Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và
quỹ dự trữ bù đắp rủi ro tín dụng. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng
năm (lợi nhuận sau khi đã trừ thuế) của ngân hàng. Việc hình thành các quỹ này
nhằm làm tăng vốn tự có của ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh
doanh cho ngân hàng.
b. Vốn huy động:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ công
chúng thông qua việc bán các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Vốn huy động của
NHTM gồm:
- Vốn tiền gửi:
Là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các
khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của tài
khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau,
Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán… nhưng
không có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc
cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các giấy tờ có giá. Khi cần tiền, các ngân hàng
thương mại mang những thương phiếu hoặc các 1 giấy tờ có giá khác đến ngân
hàng trung ương xin tái chiết khấu.
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng, đến việc thực hiện chính
sách tiền tệ của ngân hàng trung ương nên ngân hàng trung ương kiểm soát rất chặt
12
chẽ, các ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát
nhất định. Thông thường ngân hàng trung ương chỉ tái chiết khấu và nhận cầm cố
các giấy tờ có giá có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và
việc cho vay này phải phù họp với mục tiêu của ngân hàng trung ương trong từng
thời kỳ.
Hai là, vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là khoản tiền vay để đáp ứng nhu
cầu dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp khoản tiền vay các TCTD
khác bổ sung hoặc thay thế cho khoản tiền vay từ ngân hàng trung ương.
Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương mại đang có dự trữ vượt
yêu cầu do có dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay có
thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại,
một số ngân hàng lại đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay tức thời để đảm bảo
thanh khoản. Các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ sẽ tìm đến các ngân hàng đang
thừa dự trữ để vay. Quá trình vay rất đơn giản. Ngân hàng vay chi cần liên hệ trực
tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc ngân hàng trung
ương). Khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các giấy tờ
có giá của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân
hàng đi vay tăng lên.
Ngoài ra, các NHTM có thể vay từ một số nguồn khác như: vay của các tổ
chức tài chính khác trong nước, vay các tổ chức tài chính nước ngoài...
d. Vốn khác:
Ở các nước phát triển người ta định nghĩa tiền gửi trong một văn bản luật:
“Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới
danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt
động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghĩa vụ ngân quỹ cho người ký
gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được. Tất cả những lệnh phải trả
tiền của người gửi tiền bằng séc, lệnh chuyển khoản, L/C…hay bất cứ cách nào
khác cũng thâm nhập vào khoản tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho
người gửi.”
Theo luật các TCTD nước ta năm 2004 khoản 4 điều 9 có quy định: “Tiền gửi
là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có
hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền
14
gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi
và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.”
Đặc điểm của nguồn vốn tiền gửi:
+ Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này không thuộc sở hữu của ngân hàng
thương mại.
+ Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn và là cơ sở tạo ra lợi
nhuận cho NHTM.
+ Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường
cao hơn lãi trả cho tiền gửi.
+ Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động
về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kì chỉ tiêu và nhiều nhân tố.
+ Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định
+ Quy mô và cấu trúc của tiền gửi chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: lãi suất,
địa điểm NH, các loại hình huy động, dịch vụ, thu nhập của dân cư.
1.2.1.2. Yêu cầu đặt ra trong công tác huy động vốn tiền gửi của NHTM:
định số 2173/QĐ-NHNN ngày 28/10/2014, Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày
17/12/2015; không áp dụng các biện pháp kỹ thuật để lách, vượt trần lãi suất huy
động; cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn.
Nghiêm chỉnh chấp hành quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn bằng
hình thức nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại ở các khía cạnh chủ thể tham gia
quan hệ huy động vốn này, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể… Thực hiện các
chương trình khuyến mại trong huy động vốn, cho vay đúng quy định của pháp luật
và tiết giảm tối đa các chi phí quảng cáo, khuyến mại, chăm sóc khách hàng để đảm
bảo kinh doanh hiệu quả.
Ba là, Giữ bí mật thông tin khách hàng:
Xã hội ngày càng phát triển, các yêu cầu được đảm bảo bí mật thông tin của
con người ngày càng được coi trọng, đặc biệt trong các hoạt động kinh tế nói chung
và hoạt động ngân hàng nói riêng.
Có thể thấy rằng các thông tin liên quan đến khách hàng mà các tổ chức hoạt
động ngân hàng thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình nắm giữ rất đa dạng và là
những thông tin rất quan trọng, một khi bị các chủ thể không có quyền tiếp cận và
các đối thủ cạnh tranh khai thác, sử dụng sẽ gây nhiều bất lợi, những tổn thất về
kinh tế cho khách hàng, quấy rối hoạt động kinh doanh bình thường của khách
16
hàng… Bên cạnh đó, nếu những thông tin về phương án sản xuất kinh doanh, tình
hình tài chính, mối quan hệ giữa các đối tác của khách hàng bị các đối thủ cạnh
tranh khai thác sẽ dẫn đến một môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Chính vì
vậy, các tổ chức hoạt động ngân hàng bên cạnh việc tăng cường cung ứng các dịch
vụ đa dạng, tiện lợi, ngân hàng còn phải có nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin
khách hàng. Một tổ chức hoạt động ngân hàng không giữ bí mật thông tin khách
hàng thường sẽ mất lòng tin của khách hàng nói riêng và của công chúng nói chung,
từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình. Đối với các tổ chức hoạt
có nhiều rủi ro, nhất là khi thị trường biến động. Hoạt động dịch vụ có thể mang lại
khoản thu nhập đáng kể với rủi ro có thể kiểm soát được. Đây là điểm mạnh của
dịch vụ ngân hàng cần được khai thác, đặc biệt đối với thị trường có dân số cao
như Việt Nam. Có thể nhận thấy khi hoạt động tín dụng gặp khó khăn, không thể
tiếp tục phát triển, cơ cấu thu nhập của ngân hàng trong trường hợp này sẽ bị thay
đổi theo hướng tiêu cực. Khi đó, đối với ngân hàng có mảng hoạt động dịch vụ chưa
được đầu tư và phát triển đáng kể, nền tảng dịch vụ yếu sẽ không đủ sức để có thể
đảm bảo cân bằng tình hình tài chính của ngân hàng. Do đó, tất yếu đòi hỏi ngân
hàng cần có tầm nhìn xa hơn trong việc định hướng nghiên cứu và phát triển mạnh
hoạt động dịch vụ. Mỗi sản phẩm ra đời dựa trên sự phát triển của dịch vụ truyền
thống và kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ mới. Dịch vụ ngân hàng
phát triển giúp cho hoạt động huy động vốn và đầu tư cũng phát triển theo.
Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mại đến khách hàng về các dịch vụ như:
Lãi suất tiền gửi, tiền vay, tỷ giá, phí dịch vụ; hệ thống thanh toán nội địa, chất
lượng thanh toán xuất-nhập khẩu, các loại hình sản phẩm dịch vụ, khả năng cung
ứng tín dụng và ngoại tệ. Ngoài ra, phải chú trọng đến các hoạt động hướng về cộng
đồng nhằm tạo sự nhận diện và ủng hộ của xã hội.
1.2.2.Các hình thức huy động vốn tiền gửi của NHTM
1.2.2.1. Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền:
Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo kỳ hạn để có thể
quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng chiến lược dự
trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá trình hoạt động
kinh doanh.
Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định,
người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó lãi suất
của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định.
18