luận văn thạc sĩ huy động vốn tiền gửi tại NHTM CP kỹ thƣơng việt nam chi nhánh bigc - Pdf 41

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Huy động vốn tiền gửi tại NHTM CP Kỹ Thương
Việt Nam- chi nhánh BigC” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của luận văn này.
Hà nội, ngày … tháng….năm…
NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Thị Lanh

1


2

2

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nỗ lực thực hiện, luận văn nghiên cứu "Huy động vốn tiền
gửi tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam- chi nhánh BigC" đã
cơ bản hoàn thiện. Ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân, em còn nhận được sự
động, viên khuyến khích và giúp đỡ hết sức tận tình từ phía gia đình, nhà trường,
đơn vị thực tập và bạn bè, đã giúp em hoàn thành tốt bài luận văn này. Vì vậy, với
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được báy tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Nhà trường, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu trường cùng toàn thể
các thầy cô trong trường ĐH Thương Mại, các thầy cô trong khoa Tài Chính- Ngân
Hàng sau đại học đã truyền đạt những kiến thức quy báu cho em trong suốt quá

NH
NHTM
NHNN
PGĐ
PGD
P.KHCN
P.DVKH
QHKH
TECHCOMBANK
TG
TK
TGTK
TGTK KKH
TGTK CKH
TGTT
TG CKH
TG KKH
TM CP

DIỄN GIẢI
Giám đốc chi nhánh
Giao dịch viên
Ngân hàng
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng nhà nước
Phó giám đốc
Phòng giao dịch
Phòng Khách hàng cá nhân
Phòng dịch vụ Khách hàng
Quan hệ khách hàng

giữa khó khăn và thuận lợi, nguy cơ và thời cơ. Để tiến hành CNH, HĐH đất nước
cần phải đẩy mạnh cách mạng công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực mà
quan trọng nhất là vốn.
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, có nước đã sử dụng nguồn vốn bên
ngoài làm chủ lực, nguồn vốn trong nước làm bổ trợ cho sự phát triển, tận dụng
lợi thế chuyển giao công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời gian bắt kịp với các nước
phát triển. Có nước lại lựa chọn nguồn vốn nội địa làm chủ đạo, bằng cách này
tốc độ phát triển thường chậm, nhưng hạn chế được sự phụ thuộc vào bên ngoài,
tạo thế chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược, đảm bảo sự phát
triển vững chắc của nền kinh tế trong lâu dài.
Nằm trên vòng cung kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới, Châu
á Thái Bình Dương, trong công cuộc đổi mới, Việt Nam còn vấp phải nhiều khó
khăn trở ngại. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, lạc hậu, trình độ đội ngũ
cán bộ lao động còn nhiều hạn chế, nền tảng cho mọi hoạt động kinh doanh còn
thiếu rất nhiều. Đứng trước xu thế mở cửa hợp tác, để vững bước trên con đường
phát triển CNXH theo định hướng của Đảng, chúng ta phải biết nắm bắt thời cơ,
đi tắt đón đầu tận dụng khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Với chủ
trương đề ra ở Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và được khẳng định lại ở
Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX: “Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn
nước ngoài có ý nghĩa quan trọng kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả
năng có thể tranh thủ bên ngoài”. Nhưng bằng cách nào để khơi thông thu hút
được nguồn lực trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hiện nay. Câu hỏi được
giải đáp bằng sự ra đời của các trung gian tài chính, đặc biệt là các NHTM.
Là một trong những NHTM CP đi đầu trong lĩnh vực huy động vốn, NHTM
CP Kỹ Thương Việt Nam vừa thực hiện chức năng kinh doanh, vừa thực hiện vai
6


7




8

Các đề tài trên đã nghiên cứu về hoạt động huy động vốn nhưng chưa có đề
tài nào đi sâu nghiên cứu huy động vốn tiền gửi liên quan đến tăng cường huy
động vốn tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam-CN BigC. Đây là điểm mới và
khác biệt so với các đề tài trước.
3- Mục đích nghiên cứu
Một là: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về huy động vốn tiền gửi của
NHTM.
Hai là: Phân tích thực trạng huy động vốn tiền gửi tại NHTM CP Kỹ Thương
Việt Nam chi nhánh BigC.
Ba là: Đưa ra một số giải pháp nâng cao huy động vốn tiền gửi tại ngân
hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh BigC, đáp ứng vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn.
4- Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là những lý luận cơ bản về vốn và sử
dụng vốn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong đó trọng tâm là nâng cao
huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại.
Phạm vị nghiên cứu của luận văn:
-

Về nội dung: là khảo sát hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM CP Kỹ

-

Thương Việt Nam chi nhánh Big C
Về không gian nghiên cứu: Tại Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh


6- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận chia thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn tiền gửi của NHTM.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại NHTM CP Kỹ Thương Việt
Nam chi nhánh Big C.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hoạt động huy động vốn tiền gửi tại
NHTM CP Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh Big C.

9


10

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHTM và huy động vốn tiền gửi của NHTM
1.1.1. Khái niệm, vai trò, chức năng của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng được hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với
nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV
đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các
chức năng như nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền
kinh tế và phát hành giấy bạc ngân hàng.
Sang thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển.
Việc các ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm
cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã gây cản trở cho
quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế. Chính điều này đã dẫn đến sự
phân hoá trong hệ thống ngân hàng. Lúc này hệ thống ngân hàng được phân
thành hai nhóm: thứ nhất là nhóm ngân hàng được được phép phát hành tiền

hàng hoá, ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nó là hệ thống thần kinh, hệ thống
tuần hoàn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh, phát
triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng vững mạnh. Ngân hàng và
nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau. Do đó, vai trò của ngân hàng thương
mại được thể hiện ở một số mặt sau:


NHTM là nơi dẫn vốn cho nền kinh tế
Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thương mại thì không thể không nhắc
tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể
trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu
tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh
nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được.
Thị trường tài chính tồn tại hạn chế như sự không khớp nhịp giữa cung vốn
và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả
năng thanh toán, …NHTM với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài
chính tiền tệ có thể khắc phục được những nhược điểm trên. NHTM chính là
11


12

người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân,
mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp
ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM
đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh
cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng
vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung
cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia.


Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thường xuyên
tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, …trong đó quan hệ kinh
tế thường chiếm vị trí quan trọng. áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế của mỗi
quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh và toàn diện về mọi mặt
mà quan trọng nhất là tài chính. Nhưng làm thế nào để có thể hoà nhập nền kinh
tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Câu hỏi này sẽ được giải đáp
thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàng loạt các nghiệp vụ không ngừng
được hoàn thiện và phát triển: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác
đầu tư, … Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp
với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp
với nền tài chính quốc tế.
1.1.2. Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của tiền gửi trong hoạt động kinh doanh của NHTM
 Khái niệm tiền gửi

Ở các nước phát triển người ta định nghĩa tiền gửi trong một văn bản luật:
“ Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất
luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền
đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghĩa vụ ngân quỹ
cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được. Tất cả
những lệnh phải trả tiền của người gửi tiền bằng séc, lệnh chuyển khoản, L/C…
hay bất cứ cách nào khác cũng thâm nhập vào khoản tiền gửi mọi số tiền mà
ngân hàng thu hộ cho người gửi.”
Như vậy, tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại TCTD dưới hình thức
TGKKH, TGCKH, TGTK và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc
không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền. “Tiền gửi của khách
hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỉ trọng lớn trong
tổng nguồn tiền của NH.”

-

lượng tiền gửi của khách hàng trên tài khoản và một lượng phí nhất định.
Đối với khách hàng là dân cư: Việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng,
ngoài việc được NH cung cấp một số séc để thuận tiện chi trả, cũng được NH cung
ứng một loạt các dịch vụ đa dạng về tài chính và có sinh lời. Trong nền kinh tế thị
trường, một công dân muốn tích lũy được của cải của mình trong két sắt hoặc
mua cổ phiếu, trái phiếu. Cả hai khả năng này đều có rủi ro hoặc ít khả năng
thanh toán. Do đó họ phải có cách lựa chọn thứ 3: gửi tiền vào NH để vừa gửi
được vốn tích lũy của mình tương đối an toàn, vừa thu được một khoản lợi tức
nhất định.
b, Đối với các NHTM
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của NH, là khoản mục
duy nhất trên bảng CĐKT giúp phân biệt NH với các loại hình doanh nghiệp khác.
Tiền gửi là cơ sở chính cho các khoản vay của NHTM, là nguồn gốc sâu sa của lợi
nhuận và sự phát triển của NH. Khi huy động tiền gửi, NH phải duy trì sự dự trữ
14


15

bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ bắt buộc để bảo đảm khả năng thanh
toán, NH có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Khả năng huy động tiền gửi với
mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu quả trong
quản lý NH. Ngoài ra, NH cũng thu được một khoản lệ phí nhất định.
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là“
tiền tệ’’ với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay’’ nên nguồn vốn
nói chung và vốn tiền gửi nói riêng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
càng có vai trò hết sức quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định
khả năng kinh doanh của mỗi ngân hàng. Vốn tiền gửi là yếu tố quyết định đến

vốn tiền gửi cũng đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Nguồn vốn dồi
dào giúp các ngân hàng lúc nào cũng có thể phục vụ nhu cầu thanh toán chi trả
của khách hàng, khiến khách hàng yên tâm giao dịch, tin tưởng vào ngân hàng. Từ
đó, uy tín của ngân hàng trên thị trường cũng được nâng cao, càng có điều kiện để
mở rộng hoạt động và nâng cao vị thế.
Do nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn cơ bản và quan trọng để ngân hàng
dùng vào hoạt động kinh doanh tiền tệ của mình nên để đảm bảo đủ vốn cho hoạt
động kinh doanh có hiệu quả đem lại nhiều lợi nhuận nhất các NHTM không
ngừng mở rộng các hình thức huy động vốn nhưng về cơ bản các ngân hàng
thường sử dụng huy động vốn qua tài khoản tiền gửi, huy động vốn bằng phát
hành giấy tờ có giá,…
Vốn tiền gửi quyết định đến quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân
hàng
Cụ thể, nếu ngân hàng có nguồn vốn lớn, dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ
có đủ khả năng để thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của mình để đáp ứng tốt
nhất nhu cầu dịch vụ của khách hàng. Đồng thời nguồn vốn lớn còn có thể giúp
ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh, hiện đại hoá cơ sở vật chất,… Không
những vậy, với tiềm năng vốn lớn các NHTM có thể hoàn toàn tự quyết định lấy
cơ hội kinh doanh của mình, tự tạo ra một hình ảnh riêng cho ngân hàng, từ đó
sẽ tạo ra đựơc sức hút đối với khách hàng. Một ngân hàng có nguồn vốn lớn có
thể cùng một lúc phục vụ nhiều nhu cầu vay vốn của các đối tượng khác nhau
qua đó đem lại lợi nhuận và nâng cao hình ảnh cho ngân hàng, giúp ngân hàng
không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của mình.
Vốn tiền gửi quyết định đến khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của các
ngân hàng trên thị trường
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường uy tín là vấn đề mà bất cứ doanh

16



tượng huy động, theo loại tiền gửi và theo thời gian gửi tiền mà ta có các loại
tiền gửi khác nhau.



Kết cấu vốn tiền gửi theo thời gian và tính chất tiền gửi

17


18

Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những khoản tiền gửi, tiền gửi
của khách hàng có hai loại: Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà không có sự thoả thuận
trước về thời gian rút tiền. Với loại tiền gửi này ngân hàng chỉ phải trả với một
mức lãi suất thấp. Bởi vì tiền gửi loại này rất biến động, khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng
phải dự trữ một số tiền đảm bảo để có thể thanh toán ngay khi khách hàng có
nhu cầu.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về
thời hạn rút tiền. Loại tiền gửi này tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được
thời gian rút tiền của khách hàng. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số
tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. đối với loại tiền gửi
này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… mục đích
là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi
của khoản tiền mà họ có. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi
không kỳ hạn.

-

Tiền gửi huy động từ các tổ chức khác: Tất cả các tổ chức khác không phải tổ
chức kinh tế như đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức từ thiện đều có quyền
được giao dịch và sử dụng các dich vụ của NH. Đây là đối tượng có lượng tiền gửi
chiếm tỉ trọng thấp trong tổng nguồn tiền gửi của NH nhưng lại có sức ảnh


-

hưởng rộng đối với công tác Marketing của NH.
Kết cấu vốn tiền gửi theo loại tiền
Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các Ngân hàng thương mại
nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ
thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại

-

tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm.
Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền gửi
dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, EUR…
Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như kinh
doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán
quốc tế…Các ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có
nguồn vốn ngoại tệ lớn. Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng
hoá về phương thức huy động vốn của các Ngân hàng thương mại.
19


20


20


21

hàng nhưng có thoả thuận thời gian rút tiền và khách hàng không được phép rút
tiền trước thời hạn. Mục đích chính của người gửi tiền là sinh lời và ngân hàng
có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này vì tính thời hạn của nguồn
vốn. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thoả thuận giữa
ngân hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét mức độ an toàn của ngân hàng cũng
như quan hệ cung cầu về vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, để tạo tính lỏng cho các
loại tiền gửi có kỳ hạn mà từ đó mà hấp dẫn khách hàng, ngân hàng có thể cho
phép khách hàng rút tiền trước kỳ hạn, tuỳ theo chính sách của mỗi ngân hàng
mà có hình thức trả lãi phù hợp.
* Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với
mục đích tích luỹ và hưởng lãi. Tiền gửi tiết kiệm chia thành hai loại là tiết kiệm
có kỳ hạn và tiết kiệm không kỳ hạn.
-

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn :
Đây là khoản tiền nhàn rỗi mà người dân tạm thời gửi vào ngân hàng do
không có kế hoạch chi tiêu cụ thể nên họ có thể rút tiền vào bất cứ thời điểm nào.
Tuy nó là tiền gửi không kỳ hạn nhưng nó không phải là tiền gửi thanh toán nên
người gửi tiền không được hưởng các tiện ích thanh toán. Nguồn vốn này cũng
thường xuyên biến động nên ngân hàng cũng phải chủ động trong việc chi trả
cho khách hàng. Do vậy lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp.

-

Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định
và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được
hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ
cấp. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày
và được trả theo mệnh giá và thời hạn.
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình
trạng tài chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs. Mức
lãi suất của CDs do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi
suất của tín phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi
ro của từng ngân hàng. Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất
giúp các NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường
cạnh tranh mới.

-

Trái phiếu :
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành
đối với người hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn
nhất định. Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn
vốn trung và dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc

22


23

phát hành trái phiếu sẽ thu hút được lượng tiền ổn định trong dài hạn do vậy
phát hành trái phiếu chỉ được thực hiện khi ngân hàng thực sự cần một lượng
vốn lớn hoặc khi ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay trung dài hạn.

gửi của ngân hàng càng được cải thiện và nâng cao.

23


24

1.2.2 Cơ cấu vốn tiền gửi
Chỉ tiêu này cho thấy tỉ lệ giữa các loại tiền gửi trong tổng nguồn tiền gửi. Từ
đó thấy được sự phù hợp, cân đối giữa các tiền gửi trong tổng nguồn vốn tiền gửi
huy động. Cơ cấu vốn tiền gửi cần đa dạng, cân đối và hợp lý trong đó cần đảm bảo
một tỷ lệ hợp lý giữa TGCKH và TGKKH, giữa nội tệ và ngoại tệ…Mỗi loại tiền gửi
có điểm mạnh và điểm yếu riêng biệt trong việc huy động và khai thác sử dụng
chúng.
1.2.2.1 Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng huy động
Chỉ tiêu này phản ánh tỉ trọng vốn tiền gửi theo đối tượng huy động bao
gồm:
-

Tiền gửi từ dân cư: Đây là nguồn huy động thường chiếm tỉ trọng cao trong tổng
tiền gửi của các NHTM do lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư thường khá dồi dào.

-

Tiền gửi từ khách hàng tổ chức:Nguồn tiền này thường chiếm tỉ trọng nhỏ hơn so
với tiền gửi từ dân cư và hầu hết tồn tại dưới dạng tiền gửi thanh toán. Do vậy,
NH chỉ phải bỏ ra một khoản chi phí thấp để sử dụng khoản tiền này.

-


Do đó, vấn đề đặt ra đối với mỗi ngân hàng chính là tính toán cơ cấu vốn
tiền gửi cần huy động sao cho hợp lý và kết hợp được các nguồn vốn này trong sử
dụng sao cho tính ổn định cao và chi phí thấp.
1.2.2.3 Cơ cấu vốn tiền gửi theo loại tiền tệ
Đây cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả khả năng huy
động vốn tiền gửi của các ngân hàng, chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn tiền gửi
huy động bằng các loại tiền khác nhau trên tổng vốn tiền gửi của ngân hàng.

-

Tiền gửi là VNĐ
Đây là loại tiền tệ thường chiếm tỉ trọng cao trong tổng vốn tiền gửi, có tính
ổn định cao vì không chịu tác động của tỉ giá hối đoái.Loại này được huy động
chủ yếu từ dân cư.

-

Tiền gửi là ngoại tệ
Bao gồm USD, EUR, vàng …Đối với các ngân hàng có thế mạnh về các dịch
vụ quốc tế, việc thường xuyên cung cấp các dịch vụ thương mại có tính chất quốc
tế như thanh toán xuất nhập khẩu…cho khách hàng khiến ngân hàng có tỷ lệ huy
động vốn tiền gửi bằng ngoại tệ thường cao hơn so với tỷ lệ này của ngân hàng
khác. Nguồn ngoại tệ lớn có thể mang đến lợi nhuận cho ngân hàng trong việc
thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, hưởng chênh lệch giá và lãi suất nhưng
cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường khác.
1.2.3 Chi phí huy động vốn tiền gửi
Chi phí huy động nguồn tiền gửi là toàn bộ chi phí mà ngân hàng bỏ ra
trong quá trình huy động vốn tiền gửi, bao gồm chi phí trả lãi và chi phí phi lãi.

a) Chi phí trả lãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status