Chế định hội thẩm nhân dân trong luật tố tụng hình sự việt nam (tt) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG TRÍ LÝ

CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


Công trình được hoàn thành tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS ĐỖ NGỌC QUANG

Phản biện 1: ........................................................................
Phản biện 2: ........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI TỈNH ĐẮK LẮK VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT ................. 55
2.1. Thực tiễn thực thi pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk............................................................ 55
2.1.1. Một số nội dung về địa chính trị, kinh tế tỉnh Đắk Lắk ......................... 55
2.1.2. Tình hình thành phần của Hội thẩm nhân dân trên địa bản tỉnh Đắk
Lắk từ năm 2006 đến 2015 ..................................................................... 57
1


2.1.3. Kết quả đạt được và những tồn tại của Hội thẩm nhân dân trong
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Đắk Lắk ............... 65
2.1.4. Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại, hạn chế của Hội
thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp
tỉnh Đắk Lắk ........................................................................................... 70
2.2. Các kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội
thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ........ 75
2.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân dân ................. 75
2.2.2. Kiến nghị, đề xuất về lựa chọn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội
thẩm nhân dân ........................................................................................ 81
2.2.3. Kiến nghị, đề xuất nâng cao trình độ, năng lực Hội thẩm nhân dân ............ 84
2.2.4. Những kiến nghị, đề xuất khác............................................................... 85
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 90
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 94

2


MỞ ĐẦU

tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của tòa án", của Đỗ Thị Phương, Đề tài
nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao; cùng nhiều
những bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác.
Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp những đề tài, bài viết trước, cùng với sự tìm
tòi, và quá trình nghiên cứu của mình, tác giả đi vào phân tích vai trò của Hội
thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của tòa án đối với các vụ án hình sự, để
thấy rằng, việc áp dụng chế định này thực tế vẫn còn nhiều bất cập và đưa ra
những giải pháp thích hợp để được thực thi có hiệu quả hơn. Đề tài lựa chọn của
tác giả cũng nhằm mục đích khẳng định đường lối chủ trương của Đảng trong cải
cách tư pháp là đúng đắn, kịp thời và nên được thống nhất thực hiện.
3. Đối tượng và mục đích của đề tài:

3


Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của đề tài là chế định
Hội thẩm nhân dân trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, luận văn nêu lên những vấn đề lý luận về chế
định hội thẩm nhân dân, có sự so sánh về cơ sở pháp lý qua các thời kỳ, quan điểm
chỉ đạo của Đảng ta hiện nay và việc áp dụng chế định này trong thời gian tới tại
Việt Nam. Những khó khăn và thuận lợi tác động tới việc áp dụng, từ đó đưa ra
một số kiến nghị hoàn thiện, góp phần vào quá trình nghiên cứu, cũng như áp trên
thực tế.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm định hướng của Đảng về vai trò của Hội thẩm
nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Toà án.
Trong quá trình thực hiện, tác giả luận văn sử dụng đồng bộ và tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu gồm: Phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo
phương phát luận triết học của Mác-Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp



Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân và vai trò của Hội thẩm nhân dân
trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
1.1.1 Khái niệm hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt, “Hội thẩm nhân dân” được hiểu là “người do Hội
đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với Thẩm phán làm
nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương”. Qua nội dung khái niệm trên có
thể thấy, Hội thẩm nhân dân là người được Hội đồng nhân dân bầu theo nhiệm kỳ
để thực hiện nhiệm vụ của họ cùng với Thẩm phán xét xử các vụ án thuộc thẩm
quyền của Toà án.
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “Hội thẩm nhân dân” xuất phát từ thuật
ngữ “Hội thẩm”. Theo khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH 11,
ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Thẩm phán và
Hội thẩm Toà án nhân dân (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
Toà án nhân dân) được định nghĩa, “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo
quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của
Toà án”. Từ khái niệm trên được hiểu, ở nước ta, Hội thẩm Toà án nhân dân gồm
có:
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội thẩm nhân dân tham
gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân huyện, quận,
thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Hội thẩm nhân dân);
- Hội thẩm quân nhân tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử
của Toà án quan sự quân khu và tương đương, Hội thẩm quân nhân tham gia xét
xử các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực (gọi chung là
Hội thẩm quan nhân).

chúng ta cần lưu ý đến hai khía cạnh khá quan trọng trong các lý thuyết cũng như

6


thực tiễn pháp lý. Đó là, tính “trễ” của các quy phạm pháp luật so với thực tiễn.
Nghĩa là, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựng trên cơ sở các vấn đề đã có
trên thực tiễn một hoặc nhiều lần hay bằng cách dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn.
Thứ hai, ngoài các quy phạm pháp luật thực định pháp luật còn chứa đựng trong
đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật. Tinh thần pháp luật có thể hiểu
một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến. Từ các khía
cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định về hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét
xử là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp
quyền.
Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước
đều chịu sự giám sát cua nhân dân, do đó Toà án cũng không ngoại lệ. Chế định
Hội thẩm nhân dân có vai trò quan trọng trong tổ chức Tòa án nhân dân nước ta,
bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong việc quản lý Nhà nước. Bản thân chế
định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực
hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Vì rằng, Tòa án là
cơ quan quyền lực nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực
tư pháp của mình. Tòa án nhân dân thực hiện chức năng bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
tài sản Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với
Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích
của nhân dân. Hội thẩm nhân dân bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử
mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có
hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói
riêng.

đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh
nghiệm hoạt động xã hội. Vì thế quy định của pháp luật có sự tham gia của Hội
thẩm trong Hội đồng xét xử là sự bổ sung cần thiết trong những lĩnh vực đó. Hơn
nữa, Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp
và do Mặt trận tổ quốc các cấp giới thiệu cho Hội đồng nhân dân địa phương. Do
vậy là những người sống, làm việc sát các cơ sở sản xuất, đơn vị, cơ quan, cụm
dân cư; có kinh nghiệm hoạt động xã hội, vốn hiểu biết đời sống thực tế, mối quan
hệ chặt chẽ với quần chúng nên có điều kiện hiểu đúng tình hình, đặc điểm hoàn
cảnh của người phạm tội, hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả do vụ án gây ra, từ đó
giúp Tòa án giải quyết vụ án được đúng đắn. Hội thẩm tham gia công tác xét xử
của Tòa án là trực tiếp cung cấp cho Tòa án những kinh nghiệm sống thực tế, khắc
phục bệnh nghề nghiệp của các Thẩm phán chuyên nghiệp trong khi xử án. Giúp
cho việc xét xử của Tòa án được chính xác, khách quan, phù hợp với lợi ích,
nguyện vọng của quần chúng.
Tòa án liên hệ với quần chúng nhân dân ở các đơn vị, cơ quan, cụm dân cư
thông qua hoạt động của Hội thẩm. Hội thẩm phản ánh cho Tòa án những ý kiến
của quần chúng đối với công tác của Tòa án nói chung và công việc xét xét xử nói
riêng, giúp cho quần chúng nhân dân hiểu rõ việc xét xử của Tòa án để giáo dục
quần chúng. Như vậy, không chỉ nâng cao tình thần tự giác tôn trọng, chấp hành
và bảo vệ pháp luật, mà còn thực hiện được sự giám sát của quần chúng đối với
việc xét xử của Tòa án. Do đó việc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân còn có
vai trò tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Tòa án với đông đảo quần chúng
nhân dân.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy những người được cử hoặc được bầu làm Hội
thẩm là những người có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm và có một
ảnh hưởng nhất định trong xã hội, họ thường là những người có lối sống gương
mẫu, có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, được nhân dân tin
cậy vào sự công minh và vô tư của họ. Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy
tín của Tòa án ngày càng được nâng cao và được nhân dân tin cậy, ủng hộ.
Vai trò của Hội thẩm không chỉ dừng lại ở tham gia hoạt động xét xử và đưa

cũ, rồi sau đó đưa lý luận Mác-Lênin vào thực tiễn kháng chiến Việt Nam, theo
hướng tiến của Chính quyền Dân chủ Nhân dân Việt Nam mà xây dựng nền pháp
lý mới”. Đánh dấu cho việc cải cách đổi mới về tư tưởng này đó là sự ra đời của
một thiết chế tư pháp với tên gọi “Tòa án nhân dân” gắn liền với việc ban hành
Sắc lệnh 85-SL, ngày 22-5-1950 cải cách bộ máy tư pháp và luật Tố tụng, đây là
Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Một trong những điểm nhấn của Sắc lệnh
này làm thay đổi về chất của công tác Tư pháp chính là sự vận dụng lý luận MácLênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành một cơ chế mang tính
nhân dân, thể hiện bản chất nhân dân của nhà nước ta, đó là chế định hội thẩm
nhân dân, thay thế chế định Phụ thẩm nhân dân tại Sắc lệnh số 13 trước đây. Tòa
án nhân dân gồm có thành phần vừa chuyên môn vừa nhân dân. Hội thẩm nhân
dân, đại diện cho thành phần nhân dân nó có tính cách nhân dân hơn vì họ do Hội
đồng nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra. Chẳng những họ không phụ thuộc
vào thành phần chuyên môn, mà trái lại họ có quyền bằng nhau với thành phần
chuyên môn, được quyền tham gia tất cả các việc hình và hộ, có quyền xem hồ sơ
và biểu quyết, nhiệm kỳ là một năm. Do có quyền hạn ngang với thành phần
chuyên môn nên họ là bộ phận chính của Tòa án, vì họ là đa số. Vì họ là đa số cho
nên các bản án, các quyết định của Tòa án, thật sự là do Hội thẩm nhân dân mà ra.

9


Địa vị của thành phần chuyên môn bị thu hẹp lại và nhiệm vụ của họ thật ra là để
giúp đỡ thành phần nhân dân trong sự nghiên cứu các luật pháp nhiều khi có phần
phức tạp”.
Sau đó là một loạt các văn bản ra đời nhằm hoàn thiện chế định Hội thẩm
nhân dân bao gồm: Sắc lệnh số 151/SL ngày 17/11/1950 về đặt thể lệ chỉ định các
Hội thẩm nhân dân và định thành phần Tòa án nhân dân liên khu trong trường hợp
đặc biệt; Sắc lệnh số 156/SL ngày 22/11/1950 về tổ chức Tòa án nhân dân liên
khu, Sắc lệnh số 12/SL ngày 30/03/1957 và thông tư số 02 P/4 ngày 05/02/1952
của Bộ tư pháp sửa đổi bộ phận chế định Hội thẩm nhân dân. Với những văn bản

trường hợp đặc biệt; thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán
và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xét xử những vụ án nhỏ, đơn gian và không
quan trọng thì có thể không có Hội thẩm nhân dân tham gia.

10


1.2.2. Giai đoạn 1976 đến 1988
Có thể nói giai đoạn này các nguyên tắc trong hoạt động xét xử đã được ghi
nhận và quy định rõ hơn trong hiến pháp, cũng như các văn bản pháp luật khác.
Quyền hạn của Hội thẩm được mở rộng hơn; quy định cụ thể về mức độ tham gia
và số lượng Hội thẩm nhân dân được tham gia trong từng vụ án, từng cấp xét xử.
Tiêu chuẩn đối với Hội thẩm nhân dân ở giai đoạn này cũng khá đơn giản đó
là "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có quan hệ
tốt với nhân dân". Về hình thức bầu chọn Hội thẩm ở mỗi cấp tòa có quy định
khác nhau: Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồng Nhà nước
cử, theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam ở địa phương.
Nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân là tham gia công tác xét xử của Tòa án; quyền
lợi, chế độ của Hội thẩm nhân dân là được bồi dưỡng về nghiệp vụ và được hưởng
phụ cấp khi tham gia xét xử.
1.2.3. Giai đoạn 1989 đến nay
Giai đoạn này tiếp tục hoàn thiện chế định hội thẩm nhân dân tham gia xét
xử tại Tòa án, do đó có nhiều văn bản quy định về Hội thẩm nhân dân như: Bộ luật
tố tụng hình sự năm 1988,(được sửa đổi bổ sung năm 2000), Hiến pháp năm 1992,
(được sửa đổi bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân năm 1993, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm
2002 (được sửa đổi bổ sung năm 2011), Luật tổ chức Tòa án năm 2002; Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm

nhân dân cùng cấp, để tham tham gia xét xử tại Tòa án, theo quy định tại khoản 1,
Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân "Hội thẩm nhân dân làm
nhiệm vụ theo sự phân công Chánh án". Để bắt đầu tham gia công tác xét xử các
loại vụ án tại Tòa án, thì trước hết Hội thẩm có nghĩa vụ chịu sự phân công của
Chánh án tòa án để thực hiện công tác xét xử các loại vụ án, từ khi có quyết định
xét xử vụ án ra xét xử thì Hội thẩm nhân dân bắt đầu có nhiệm vụ tham gia nghiên
cứu hồ sơ, tham gia xét xử cùng với Thẩm phán giải quyết vụ án. Có thể thấy khi
xét xử trong những vụ án cụ thể, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo các quy định của pháp luật, nhưng về mặt quản lý hành chính thì Hội thẩm
phải chịu sự quản lý, chỉ đạo, phân công của Chánh án tòa án địa phương nơi Hội
thẩm được bầu tham gia công tác xét xử tại địa phương đó, cũng như căn cứ vào
Quy chế về Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm, thì Chánh án có trách nhiệm quản
lý Hội thâm nhân dân. Khi được Chánh án Tòa án phân công nhiệm vụ xét xử, Hội
thẩm có nghĩa vụ tham gia mà không được từ chối, trừ trường hợp có lý do chính
đáng (Điều 36 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân).
Thứ hai: Khi là một Hội thẩm nhân dân, Pháp luật quy định phải có nhiệm
vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm
chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài
sản, tự do và nhân phẩm của công dân. Đây là nhiệm vụ chung cho công tác xét
xử, các hoạt động xét xử của Tòa án làm nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm. Do vậy khi được bầu làm Hội thẩm nhân dân, trách nhiệm
của Hội thẩm là phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của một người đại diện cho nhân
dân bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền về tài sản, tính mạng sức
khỏe, danh dự nhân phẩm của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Thứ ba: Với địa vị pháp lý là thành viên của Hội đồng xét xử, Hội thẩm phải
tuân theo những nguyên tác hiến định "Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc và chỉ
tuân theo pháp luật", tuân thủ những quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật liên
quan trong quá trình xét xử. Trong quá trình xét xử Hội thẩm phải chịu trách nhiệm
đối với hoạt động xét xử của mình, nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính

quy định "Hội thẩm là công chức thì trong thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được
tính vào thời gian làm việc tại cơ quan, đơn vị" và Điều 40 Luật tổ chức Tòa án
nhân dân quy định "Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công
của Chánh án Tòa án thì cơ quan, tổ chức có Hội thẩm nhân dân đó không được
điều động, phân công Hội thẩm làm nhiệm vụ khác, trừ trường hợp đặc biệt".
Thứ tư: Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội thẩm có quyền
liên hệ với cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên
của mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và
công dân.
Thứ năm: Ngoài ra Hội thẩm còn được cấp trang phục, Giấy chứng minh
Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử (Điều 34 khoản 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân) và khi làm nhiệm vụ xét xử Hội thẩm được hưởng phụ cấp theo
quy định của pháp luật (Điều 34 khoản 2 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân).
- Đối với các quyền khi tham gia xét xử vụ án cụ thể:
Thứ nhất: Quyền nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm được bắt đầu từ khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi
để Hội thẩm tham gia xét xử vụ án được tiếp cận hồ sơ để nghiên cứu.
Thứ hai: Hội thẩm là các thành viên trong Hội đồng xét xử nhận thấy rằng
sự tham gia của mình là không khách quan, không vô tư trong khi giải quyết vụ án
và thuộc các trường hợp pháp luật quy định không được tham gia làm thành viên
Hội đồng xét xử, thì Hội thẩm có quyền từ chối khi có quyết định phân công của
Chánh án tòa án tham gia xét xử đối với vụ án đó hoặc trong trường hợp khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử.

13


Thứ ba: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội thẩm tham gia xét
xử vụ án đó căn cứ vào pháp luật để tiến hành thủ tục hoa giải đối với các vụ án

dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp”. Với việc quy định như trên thì việc bầu Hội thẩm nhân dân được áp dụng
đối với các Hội thẩm nhân dân của Tòa án ở địa phương, bao gồm Tòa án nhân
dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Hội thẩm nhân dân ở cấp nào thì Hội
đồng nhân dân ở cấp đó bầu trên cơ sở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng
cấp lập danh sách giới thiệu cho Hội đồng nhân dân.
Ngoài việc quy định thủ tục bầu Hội thẩm nhân dân thuộc thẩm quyền của
Hội đồng nhân dân cùng cấp thì luật cũng quy định nhiệm kỳ hoạt động của Hội
thẩm nhân dân là năm năm, kể từ ngày được bầu và gắn liền với nhiệm kỳ của Hội
đồng nhân dân đã bầu ra hội thẩm đó.
Đối với các huyện, quận của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực

14


hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận theo nghị quyết số
724/2009/NQ-UBTVQH12, ngày 16/01/2009, Việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu
bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân
được thực hiện theo trình tự, thủ tục được hướng dẫn tại thông tư số 03/2009/TTTANDTC, ngày 05 tháng 03 năm 2009, như sau: Chánh án Tòa án nhân dân
huyện, quận căn cứ vào nhu cầu xét xử của đơn vị mình thống nhất với Ban
Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận về cơ cấu, thành
phần, số lượng nhân sự dự kiến đưa ra bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện,
quận.
Thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân:
Thủ tục bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với Hội thẩm Tòa án nhân dân mỗi cấp
được quy định như sau:
Hội thẩm Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn
nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi
thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.
Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác (khoản


định theo đa số là hai vấn đề quan trọng trong quá trình xét xử các vụ án hình sự.
Nếu xét xử tập thể mà lấy kết quả giải quyết vụ án dựa trên quan điểm của một
người, một cá nhân hoặc lấy ý kiến của thiểu số thì thiết nghĩ không cần phải quy
định thành lập Hội đồng xét xử làm gì, do đó khi xét xử tập thể thì quyết định theo
đa số là kết quả của quá trình xét xử của các thành viên trong Hội đồng xét xử, nó
là lý do để tồn tại việc xét xử tập thể. Ngược lại khi quyết định theo đa số mà
không có tập thể tham gia xét xử thì cũng không tồn tại khái niệm quyết định theo
đa số. Do vậy xét xử tập thể và quyết định theo đa số là hại nội dùng trong một
vấn đề không thể tách rời nhau.
Chương 2
THỰC TIỂN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
2.1. Thực tiễn thực thi pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân dân
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
2.1.1. Một số nội dung về địa chính trị, kinh tế tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông
Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57"108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45" - 13o25'06" độ vĩ Bắc. Độ cao trung bình
400 – 800 mét so với mặt nước biển. Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là
1.306.201ha, phía Đông của Đắk Lắk giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp
Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài
193 km, tỉnh Gia Lai nằm ở phía Bắc và có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng của cả nước.
Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông
sản, lâm sản. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái, cũng là nơi trồng bông, ca
cao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái
khác, như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài...Đặc biệt Đắk Lắk là tỉnh có diện
tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343ha và
sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả
nước.

thẩm còn lại hiện đều đang công tác, làm việc và giữ các chức vụ nhất định trong
các cơ quan Đảng, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp chiếm 42,57%,
đông nhất trong các thành phần Hội thẩm nhân dân. Số lượng Hội thẩm là nữ giới
là 57 người, chiếm 21,83% Hội thẩm toàn tỉnh và Toàn tỉnh có 55 Hội thẩm nhân
dân là người đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 21% trên tổng số Hội thẩm
nhân dân toàn tỉnh. Ngoài ra, trong thần phần Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2006 –
2010 có 6,25% là cán bộ Mặt trận tổ quốc các cấp; 5,46% là cán bộ Hội nông dân;
4,29% là cán bộ Liên đoàn lao động; 3,12% là cán bộ Hội cựu chiến binh; 8,20%
là cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ; 6,64% là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản và
4,68% là những người thuộc các tổ chức khác như Hội chữ thập đỏ, cán bộ xã
phường v.v... .
Thứ hai: Thành phần Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016
Tổng số Hội thẩm nhân dân được bầu tham gia công tác xét xử trên toàn
tỉnh Đắk Lắk ở nhiệm kỳ này là 316 thành viên, tăng 60 người so với nhiệm kỳ
trước, trong đó có 49 Hội thẩm là cán bộ nghỉ hưu, chiếm 15,50% trên tổng số Hội
thẩm toàn tỉnh. Còn lại 84,50% số lượng Hội thẩm hiện đang tham gia công tác,
giữ các chức vụ nhất định trong các cơ quan, ban ngành thuộc khu vụ nhà nước.
Thành phần tham gia hội thẩm nhân dân nhiều nhất là những người đang
làm công tác tại các cơ quan Đảng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp
chiếm 44,3%. Ngoài ra, cán bộ Mặt trận Tổ quốc chiếm 7,91%; Hội Nông dân
chiếm 5,06%; Cán bộ Liên đoàn Lao động chiếm 5,74%; Hội Cựu chiến binh
chiếm 5,69% Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ chiếm 6,69%; Cán bộ Đoàn thanh niên
Cộng sản chiếm 6,69% và các thành phần khác (cán bộ Hội chữ thập đỏ, nông dân,
cán bộ Công ty chiếm số lượng ít nhất, chỉ có 2,53%.
Trong toàn tỉnh có 59 thành viên Hội thẩm là người dân tộc thiểu số được
bầu tham gia xét xử, chiếm 19,53% số lượng Hội thẩm nhân dân, tăng 04 người so

17



2009
2010
2011
2012
2013
2014

Tổng án cần giải
quyết
1563
1631
1642
2024
1750
852
2168
2134
2121

Án đã giải quyết

Còn lại

1504
1591
1696
1974
1741
635
2129

chung và vụ án hình sự nói riêng. Do đó tình trạng có Tòa án do Chánh án hoặc
Phó chánh án được Chánh án ủy quyền phân công Hội thẩm, có Tòa án do Thẩm
phán trực tiếp phân công Hội thẩm, có Tòa án do thư ký sắp xếp Hội thẩm tham
gia xét xử sau đó báo cáo lại Thẩm phán trực tiếp làm chủ tọa phiên tòa…, nên
thường xuyên xảy ra tình trạng mời trùng, việc mời Hội thẩm nhân dân chưa
khách quan, còn mang cảm tính, chưa đồng đều và chỉ tập trung ở một số vị Hội
thẩm nhân dân, dẫn đến tình trạng một số Hội thẩm nhân dân ngồi nhiều phiên tòa
nhưng cũng có Hội thẩm nhân dân cả năm không ngồi phiên tòa nào. Việc phân
công Hội thẩm tham gia xét xử phụ thuộc vào ý chí, cách đánh giá, nhìn nhận chủ
quan của người phân công. Nhiều trường hợp xảy ra tình trạng mời Hội thẩm tham
gia xét xử đột xuất, gây ra tình trạng Hội thẩm không thể sắp xếp thời gian phù
hợp để tham gia phiên tòa, dẫn đến phiên tòa phải hoãn một cách đáng tiếc.
Thứ hai, Trong việc phân công xét xử có một tình trạng phổ biến là Tòa án
không mời đúng thành phần hoặc công tác chuyên môn phù hợp với vụ án cần giải
quyết. Thực tế này đã làm hạn chế phần nào vai trò của Hội thẩm nhân dân và làm
cho sự hiện diện của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử có phần mang tính
hình thức. Vì số Hội thẩm được mời có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu
giải quyết vụ án không nhiều, nên yêu cầu bổ sung, hỗ trợ cho Thẩm phán kiến
thức chuyên môn ít được phát huy. Mặt khác, do trình độ của các Hội thẩm khác
nhau và số lượng án xét xử của các Hội thẩm khác nhau nên vai trò giám sát hoạt
động xét xử của Hội thẩm nhân dân cũng có những hạn chế nhất định, chỉ có một
số ít Hội thẩm phát huy được vai trò này. Đó là những Hội thẩm nắm vững pháp
luật, kinh nghiệm xét xử và có điều kiện tham gia xét xử.
Thứ ba, đối với vấn đề nghiên cứu hồ sơ vụ ánh hình sự cũng chưa được
đảm bảo thực hiện một cách hợp lý. Do việc phân công Hội thẩm của Tòa án với
thời gian ngắn làm cho Hội thẩm không có đủ thời gian nghiên cứu. Một số Hội
thẩm mang tâm lý tham gia xét xử cho đủ thành phần mà không chú trọng đến nội
dung vụ án, do đó có trường hợp Tòa án sắp xếp mời Hội thẩm lên nghiên cứu hồ
sơ vụ án trước nhưng Hội thẩm không nghiên cứu, có trường hợp Hội thẩm tham
gia nghiên cứu hồ sơ trước nhưng còn sơ xài chỉ xem qua nội dung vụ án thông

hoạt động xét xử chưa được xác định cụ thể. Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự,
cũng như các văn bản pháp luật có liên quan không quy định trách nhiệm nghiên
cứu hồ sơ, cũng chưa quy định cụ thể trường hợp Hội thẩm nhân dân không tham
gia xét xử mà không có lý do chính đáng hoặc thường xuyên từ chối tham gia xét
xử thì xử lý như thế nào? Các quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân
dân cũng không có trường hợp này. Trường hợp Hội thẩm nhân dân xét xử sai dẫn
đến bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên hủy hoặc sửa án cũng không ảnh hưởng
gì đến công tác thi đua - khen thưởng, kỷ luật, bầu Hội thẩm vì pháp luật chưa quy
định. Chính vì thiếu cơ chế trách nhiệm mà ý thức trách nhiệm đối với hoạt động
xét xử của Hội thẩm nhân dân chưa cao, dẫn đến sự tùy tiện từ chối tham gia xét
xử của Hội thẩm, với tâm lý tham gia cũng được, không tham gia cũng được của
Hội thẩm như hiện nay không những làm ảnh hưởng đên hoạt động xét xử của Tòa
án, mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng xét xử.
Thứ ba: Với quy định chế độ bồi dưỡng phiên tòa như hiện nay đối với Hội
thẩm là quá thấp và chưa hợp lý đã phần nào hạn chế sự tích cự tham gia xét xử
của Hội thẩm nhân dân.
Thứ tư: Về lựa chọn nhân sự để bầu làm Hội thẩm cũng còn nhiều hạn chế,
với vai trò là người đại diện cho các tầng lớp nhân dân tham gia công tác xét xử và
giám sát hoạt động của Tòa án.
Thứ năm: Về quản lý, đánh giá, giám sát đối với Hội thẩm hiện nay còn

20


lõng lẽo, Tòa án chỉ quản lý Hội thẩm trong thời gian họ nghiên cứu hồ sơ và tham
gia xét xử. Ngoài thời gian đó thì họ sinh hoạt tại cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc
hoặc địa phương nơi họ sinh sống.
2.2. Các kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm
nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
2.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về Hội thẩm nhân dân

ý hơn nửa các vấn đề: tích cực vận động những người có trình độ cử nhận luật
tham gia công tác Hội thẩm; lựa chọn những người có đủ sức khỏe để làm công
tác Hội thẩm; lựa chọn người có thời gian dành cho công tác Hội thẩm. Khi giới
thiệu các ứng cử viên vào danh sách bầu Hội thẩm nhân dân, ngoài các tiêu chí về
độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, trình độ chuyên môn, Ủy ban
mặt trận tổ quốc ở địa phương nên đặc biệt quan tâm giới thiệu những người đã tốt
nghiệp đại học chuyên ngành luật để đảm bảo trình độ chuyên môn của Hội thẩm

21


nhân dân ngang bằng với Thẩm phán và với những người tiến hành tố tụng khác
khi xét xử.
Thứ hai: Việc miễn nhiệm, theo khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thẩm phán và
Hội thẩm nhân dân hiện hành Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khoẻ
hoặc lý do khác. Với việc quy định như trên là chưa đủ so với thực tế, tác giả cho
rằng miễn nhiệm đối với Hội thẩm nhân dân cần liệt kê các trường hợp khác ở đây
là gì? Để có thể thực hiện trên thực tế, tránh trường hợp áp dụng tùy tiện, áp đặt ý
chí để miễn nhiệm đối đối với Hội thẩm nhân dân.
Thứ ba: Về vấn đề bãi nhiệm: theo khoản 2 Điều 41 Pháp Lệnh về Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân dân “Hội thẩm bị bãi nhiệm khi có vi phạm về phẩm
chất đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội
thẩm”. Do đó cần quy định thêm một số trường hợp bãi nhiệm đối với Hội thẩm
nhân dân như: khống chế số lần tham gia xét xử các vụ án hình sự tối thiểu trong
một năm đối với Hội thẩm nhân dân; thường xuyên từ chối mà không thuộc các
trường hợp phải từ chối theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc trường hợp
thường xuyên không chấp hành đối với quyết định phân công của của Tòa án do
không chú ý đối với lịch xét xử; xét xử không đúng pháp luật nhiều lần dẫn đến
hủy án, sửa án do nguyên nhân chủ quan của Hội thẩm.
2.2.3. Kiến nghị, đề xuất nâng cao trình độ, năng lực Hội thẩm nhân dân.

quan, tổ chức.
Thứ ba: Hội đồng nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp
cần xây dựng quy chế phối hợp và thực hiện tốt hơn việc quản lý, giám sát đối với
Hội thẩm từ việc thực thi nhiệm vụ cũng như bảo đảm các biện pháp bảo vệ họ và
gia đình họ trong những trường hợp cần thiết.
KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu chế định Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình
sự Việt nam và thực tiển áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, tác giả xin rút ra một
số kết luận sau:
1. Hội thẩm nhân dân là những người được bầu để đại diện cho nhân dân
tham gia hoạt động xét xử của Tòa án nhằm thể hiện quyền lực, ý chí nguyện vọng
của nhân dân vào công tác xét xử và thực hiện chức năng thay mặt nhân dân giám
sát các hoạt động xét xử của Tòa án. Thông qua công tác xét xử của mình Hội
thẩm nhân dân góp phần vào công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành
pháp luật đối với người dân. Do đó, việc bầu Hội thẩm nhân dân phải bảo đảm
những tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ pháp lý và sức khỏe. Khi không
đảm bảo các điều kiện thì có thể bị bãi nhiệm hoặc miễn nhiệm theo quy định của
pháp luật.
2. Trong quá trình xét xử, Hội thẩm nhân dân thực hiện các chức năng
nhiệm vụ của mình thông quá các nguyên tác được quy định trong Bộ luật tố tụng
hình sự, nhằm đảm bảo cho việc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; khi xét
xử, Hội thẩm nhân dân độc lập với Thẩm phán và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án
xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
3. Trong tố tụng hình sự Việt Nam, Hội thẩm nhân dân là người tiến hành tố
tụng, tham gia xét xử theo sự phân công của Tòa án. Trong quá trình thực hiện xét
xử, Hội thẩm có mối quan hệ với rất nhiều chủ thể như: Chánh quyền công tố tại
phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác. Tuy các án Tòa án nhân dân, các
thành viên Hội đồng xét xử, kiểm sát viên giữ quan hệ có tính chất khác nhau
nhưng không ảnh hưởng đến tính độc lập khi xét xử các vụ án hình sự của Hội
thẩm nhân dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status