Đ Ạ I HỌC QUỐC G IA HÀ N ỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TH ÀN H LO NG
CHÊ DỊNH HỢP TÁC QUỐC TÊ
TRONG LUÂT Tố TUNG HÌNH SựVIÊT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
M ã sô : 60 38 40
LUẬN VẢN TH ẠC s ĩ L U Ậ T HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Lê Cảm
o A í HOC. o o o C -
ử
丨
、! ( ,
fPUNG ĨÂ M THÔNG NN ĩh ỉ; ựj,
M : L q/
HÀ NÔI • 2006
L Ờ I C A M Đ O AN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương l
:
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỂ HỢP TÁC QUỐC
TÊ TRONG TỔ TỤNG HÌNH sự
1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và ý nghĩa
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
6
6
15
33
44
44
59
71
71
77
81
97
101
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện Việt Nam đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực từ những năm 90 đến nay, bên cạnh những mặt tích cực, tình
hình tội phạm có tính quốc tế (hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội
phạm có yếu tố nước ngoài) diễn biến phức tạp. Tình trạng người Việt Nam
phạm tội ở nước ngoài, người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam, người Việt
Nam phạm tội ở trong nước bỏ trốn ra nước ngoài, người nước ngoài phạm
tội ở nước ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm ở trong nước
cấu kết với các tổ chức tội phạm nước ngoài mua bán phụ nữ, trẻ em, làm
hộ chiếu giả, làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, các giấy tờ có
giá giả khác, buôn lậu vũ khí, sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có xu hướng gia tăng cả về mức
độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội. Tình hình này không những xâm hại
nghiên cứu. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp có đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ ”Cơ sớ lý luận và thực tiễn xây dựng pháp lệnlì
tương trự tư pháp quốc tể 1 (Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2000); Tổng cục Cảnh sát,
Bộ Công an có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Đẩn độ tội phạm và
tương trợ tư pháp hình sự trong phồng chổng tội phạm ở Việt Nam - thực
trạng và giải pháp” (Bộ Công an, Hà Nội, 2000); Bùi Anh Dũng - Học viện
Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an có luận văn thạc sĩ luật học: "Quan hệ phối
hợp giữa lực lượng Cảnh sát nhân dán Việt Nam với Cảnh sát nước ngoài
trong đấu tran lì phòng,chống tội phạm" (Học viện cảnh sát nhân dân, Hà
Nội, 2000)
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau vẻ
hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp
2
hình sự, nhưng chưa có cỏng trinh nào nghiên cứu một cách toàn diện và có
hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự, cũng như
thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiêm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của
luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận vãn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu
quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm hợp tác quốc tế, các hình thức hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự.
- Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế ở Việt Nam.
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối
toàn diện và tương đối có hẹ thống vé chế định hợp tác quốc tế trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng
góp mới của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự.
4
- Phân tích làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành vé hợp tác quốc tế và thực tiễn áp dụng ở nước la.
- Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
của nước ta về hợp tác quốc tế với những quy định tương ứng trong pháp
luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để rút ra những giá trị
hợp lý về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
- Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp được đề xuất trong luận văn
có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng. Thông qua hệ thống
các giải pháp, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự
phát triển của kho tàng lý luận pháp lý tố tụng hình sự và tổng kết, nghiên
cứu thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam. Đồng thời,
tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa học cho việc đổi mới
tổ chức, bộ máy, hố trí cán bộ các cơ quan tư pháp hình sự, góp phần vào
công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy vể khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố tụng
hình sự nói riêng, cũng như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về
hợp tác quốc tế thuộc các ngành Tư pháp, Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an.
6
có tính quốc tế (hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố
nước ngoài), bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, đẩy lùi những
dịch bộnh hiểm nghèo Những vấn nạn này đã có từ lâu, nhưng chưa bao
giờ chúng trở thành vấn đề lớn, nghiẽm trọng, ảnh hướng đến sự phát triển
của các quốc gia, tương lai loài người tùy thuộc một phần quan trọng vào
việc giải quyết những vấn đề này. Vì vậy, hợp tác quốc tế ngày nay đang
diễn ra với quy mô ngày càng rộng lớn, nội dung sâu sắc, hình thức sinh
động phong phú. Không một quốc gia nào tồn tại biệt lập lại có thể phát
triển được. Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập quốc tế và khu vực,
đến nay đã tạo dựng được cho mình một vị trí mới trên thế giới.
Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, nếu như vào các
thập ký trước, tội phạm mới chỉ dừng lại ở phạm vi hoạt động giữa các quốc
gia láng giểng, thì ngày nay tội phạm quốc tế,tội phạm có tính quốc tế đã
mở rộng địa bàn hoạt động ra khắp nơi trên thế giới, tức là mang tính toàn
cầu, phương thức, thủ đoạn phạm tội càng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lợi
dụng tối đa các thành tựu của khoa học, công nghệ để hoạt động. Hậu quả
do tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế gây ra là vô cùng to lớn đối
với từng quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế. Vì vậy, đấu tranh phòng,
chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế không còn trong phạm vi
mỗi quốc gia, mà phải tiến hành đấu tranh trên phạm vi toàn cầu. Để cuộc
đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này có hiệu quả, các cơ quan tiến
hành tố tụng mỗi nước phải hợp tác, phối hợp, liên kết với nhau vì lợi ích
của mỗi quốc gia và vì lợi ích chung.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Hợp tác là trợ giúp qua lại lẫn
nhau" [71, tr. 848]. Như vậy, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự có thể
được hiểu là sự trợ giúp qua lại lẫn nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền, người có
7
Trong số các cơ quan tiến hành lố tụng của nước ta tham gia hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự, thì theo các Hiệp định tương trợ tư pháp mà
nước ta đã ký kết với một số nước trên thế giới, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao là cơ quan làm đầu mối trung ương, Ở các nước ký Hiệp định tương trợ
tư pháp với ta cũng có các cơ quan tương tự, trong quá trình thực hiện
tương trợ pháp lý về hình sự, các cơ quan này có thể liên hệ qua cơ quan
đầu mối trung ương hoặc có thể liên hệ trực tiếp với nhau [36,tr. 22].
Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải
bảo đảm các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định:
Hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự giữa các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyên tương
ứng của nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc
lập, chủ quyển, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
của nhau, bình đẳng cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật quốc tế [9].
Điều 343 Bộ luật này còn quy định: "Cãn cứ vào các điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập,
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có thể…” [9].
Từ những quy định trên, có thể thấy, trong quá trình thực hiện hợp
tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự, chúng ta phải tuân thủ bốn
9
nguyên tắc: 1 ) nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyển, toàn vẹn lãnh thổ
quốc gia, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đáng và cùng có
lợi; 2) nguyên tắc phù hợp với Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật quốc tế; 3) nguyên tắc phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của
Trong chế định hợp tác quốc tế,khái niêm hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để từ đó xác định
các quy phạm khác của chế định như thực hiện tương trợ tư pháp, từ chối
thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình
sự, từ chối dẫn độ Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định hợp tác
quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự trong thực tiền là bảo đảm quan
trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh
vực cực kỳ nhạy cảm này.
Xuất phát từ việc đánh giá đúng vai trò của hợp tác quốc tế,trong
mọi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn giành sự quan tâm
to lớn đối với vấn đề hợp tác quốc tế nói chung, hợp tác quốc tế trong hoạt
động tố tụng hình sự nói riêng, nhất là việc thể chế hóa bằng pháp luật,
chính sách của Đảng trong lĩnh vực này. Việc pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành của nước ta quy định về hợp tác quốc tế có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong hoạt động tố
tụng hình sự, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở
nước ta.
Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, hợp
tác quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả đạt
được của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy, việc quy định về hợp
tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế
trong hoạt động tố tụng hình sự.
11
Tuy nhiên, việc áp dụng chế định hợp tác quốc tế một cách tùy tiện,
không đúng pháp luật, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm
trọng, bởi nó vi phạm nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng
hình sự. Những hành vi vi phạm pháp luật vé hợp tác quốc tế không những
xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm hại độc
lập, chủ quyên, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, không phù hợp với Hiến
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những nguyên tắc
Hiện nay, xu thế quốc tế hóa tình trạng phạm tội đang diễn biến
phức tạp đã và đang ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Vì vậy, để đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo vệ
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức, phải phát huy sức mạnh tổng hợp, sử dụng đồng bộ các biên pháp,
trong đó có hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, bởi lẽ từng quốc gia riêng
biệt không thể nào giải quyết được vấn đề tội phạm quốc tế, tội phạm có
tính quốc tế. Như vậy, việc Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định hợp
tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự góp phần đấu tranh có hiệu quả
với tình trạng phạm tội này, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Thứ ba、góp phần thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực
của Đảng và Nhà nước ta.
Ngày nay, nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đã trở thành một
đòi hỏi có tính khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển. Quá
trình hội nhập quốc tế ở các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng
đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện. Điều đó có nghĩa, đi đôi
với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho việc
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thì việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về tương trợ tư pháp quốc tế, trong đó có hợp tác quốc tế vể tố
13
tụng hình sự, được coi là một bảo đảm hữu hiệu trong cơ chế hợp tác của
quốc gia nhàm giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Trong bối cảnh mở rộng hợp tác quốc tế theo xu thế hội nhập của Nhà
nước ta hiện nay, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa V II
của Đảng đã nêu, điéu cần thiết là: Mphải tiếp tục củng cố và tăng cường
hoạt động tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước trong thời kỳ mới,
phải mở rộng quan hệ quốc tế về tương trợ tư pháp, về phòng chống tội
dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Ở miền Nam,
quân đội Pháp được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn, rồi sau đó
đánh rộng ra các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trong tình hình rất khó
khăn đó, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương việc thiết lập
và phát triển các mối quan hệ chính trị, kinh tế, vãn hóa, khoa học - kỹ
thuật với các nước trên thế giới- Chủ trương này đã đặt nền móng cho sự ra
đời và phát triển quan hộ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phấp lý nói chung
và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chỉ từ những nam năm mươi trở đi,
khi các nước xã hội chủ nghĩa như Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Xô viết, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một số nước xã hội chủ nghĩa
khác thiết lập quan hộ ngoại giao với Việt Nam thì việc hợp tác quốc tế về
pháp luật và tư pháp mới bắt đầu chính thức được thiết lập và thực hiện trên
thực tế. Trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, bên cạnh sự ủng hộ
và giúp đỡ về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, các nước còn
tiếp nhận đào tạo cho nhiều lưu học sinh Việt Nam thuộc các ngành nghề
15
khác nhau, trong đó có đào tạo các chuyên gia pháp lý cho nước ta. Việt
Nam cũng đã tiếp nhận nhiều chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa sang
Việt Nam công tác, huấn luyện về một số lĩnh vực, nhất là về quân sự.
Trong bối cảnh đó, nhiều quan hệ xã hội có tính quốc tế phát sinh, đòi hỏi
phải được pháp luật điều chỉnh về tương trợ tư pháp nói chung và về tương
trợ trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng.
Trong thời kỳ này, chúng ta chủ yếu thực hiện chính sách ngoại
giao tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước, các dân tộc tiến bộ trên thế
giới cho sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc M ỹ,giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Một số điều ước quốc tế mà Nhà nước ta gia nhập
trong thời kỳ này cũng chủ yếu về việc đối xử nhân đạo với thường dân,
hàng binh, tù binh trong chiến tranh.
Cũng trong thời kỳ này, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ
Đức, ký ngày 15-12-1980, gồm 98 điều và đã hết hiệu lực ngày 16-04-1994
theo Công hàm số 50A.505-27/4/DDR/VIE của Bộ Ngoại giao Cộng hòa
Lien bang Đức gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Đức.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và hình
sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viột Nam và Liên bang Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Xô Viết ký ngày 10-12-1981,gồm 75 điểu. Sau khi Liên
Xô tan rã,Liên bang Nga đã kế thừa từ năm 1992 đến này; các nước Cộng
hòa khác thuộc Liên Xô cũ không kế thừa.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Tiệp Khắc ký ngày 12-10-1982, gồm 81 điều. Khi Tiệp Khắc được
. Ị
一
ÕÃl HOC Q u ọ c G i
产
:
八'丨
I
! ĩ ẢM
了
H Ô N G tin T h ù
17 !
phan chia thành hai nước là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Xlôvakia vào đáu
những nãm 90,thì cả hai nước đều kế thừa Hiệp định này.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Cu Ba ký ngày 30- 11-1984,gồm 79 điều, hiện đang có
hiệu lực.
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia
mỗi nước.
Vấn đề hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được quy định trong
các hiệp định trôn như sau:
M ột là,
về dẫn độ người phạm tội.
Các hiệp định đều quy định chi tiết vẻ các nghĩa vụ dần độ,các
trường hợp từ chối dẫn độ,yêu cầu dẫn độ, hoãn dẫn độ, dẫn độ tạm thời,
việc chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ và vật chứng, tái dẫn độ, dẫn độ
quá cảnh đến nước thứ ba. Riêng Hiệp định tương trợ tư pháp ký với Hung-
ga-ri còn có quy định về việc chuyển giao người bị kết án phạt tù cho nước
ký kết mà họ là công dân để thi hành hình phạt sau khi bản án đã có hiệu
lực pháp luật.
Điều 53 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đinh
và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viột Nam và Liên bang
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết quy định:
1. Chiếu theo yêu cầu của nhau, các nước ký kết có trách
nhiệm căn cứ vào các điều kiện đã được Hiệp định này quy định,
dẫn độ những can phạm đang có mặt trên lãnh thổ của mình cho
nước ký kết kia để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.
19
2. Chỉ dẫn độ những người đã có những hành vi mà theo
pháp luật của cả hai nước ký kết là tội phạm bị phạt tù trên một
năm hoặc bị hình phạt nặng hơn. Việc dẫn độ để thi hành bản án
đã có hiệu lực pháp luật được áp dụng đối với những người phạm
tội trên bị phạt không dưới sáu tháng tù hoặc bị hình phạt nặng hơn.
Từ chối dẫn độ đều được quy định cụ thể trong các Hiệp định nói
trên. Điều 59 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự,
gia đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nước Cộng hòa Cu Ba ký ngày 30-11-1984 quy định:
Sẽ không tiến hành dẫn độ, nếu:
3. Đối với người bị xử phạt đã thi hành một phần hình
phạt thì cung cấp tài liệu về việc này.
Về chi phí dẫn độ, thực hiện theo nguyên tấc, nước nào yêu cầu dản
độ thì nước đó chịu mọi chi phí liên quan đến dãn độ.
T lì ứ liai, về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các Hiệp định đều có quy định cụ thể về nghĩa VỊ1 truy cứu trách
nhiệm hình sự, nội dung yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điểu 74 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân
sự, gia đình, lao động và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nước Cộng hòa Cu Ba quy định:
1. Mỗi nước ký kết, theo yêu cầu của nước ký kết kia sẽ
tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật nước mình
đối với công dân của mình bị tình nghi phạm tội trên lãnh thổ
nước ký kết kia, mà trong trường hợp khác có thể bị dẫn độ.
2. Vãn bản yêu cầu kèm theo bản mô tả các tình tiết thực
tế của tội phạm và tất cả những chứng cứ vẽ tội phạm đó. Nước
ký kết được yêu cầu có thể đề nghị bổ sung chứng cứ và nước ký
kết yêu cầu phải cung cấp những chứng cứ bổ sung.
3. Nước ký kết đã tiến hành tố lụng hình sự trên lãnh thổ
của nước mình sẽ thông báo cho nước ký kết về kết quả của việc
tố tụng hình sự đó. Trong trường hợp đã tuyên xử và bản án đã có
hiệu lực pháp luật thì sẽ gửi cho nhau bản sao của bản án đó.
Thứ bũ、về những vấn đề khác thuộc tương trợ pháp lý về hình sự.
Các hiệp định đều có quy định về những vấn đề khác thuộc tương
trợ pháp lý về hình sự như chuyển giao đổ vật liên quan đến vụ án, thông
báo các bản án và án tích, cách thức liên hệ.
Điều 72 Hiệp định tương trợ lư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình
và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết quy định về việc chuyển giao đồ vật
liên quan đến vụ án như sau: