tiểu luận cao học cải cách bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 37

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Tháng Tám thành công, Bộ máy nhà nước Việt Nam
Dân chủ cộng hoà (nay là bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (CHXHCN)) được thiết lập. Sau 65 năm xây dung, củng cố và
phát triển, Bộ máy nhà nước ta đã hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sự
nghiệp đấu tranh bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của dân tộc, thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ và đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển
kinh tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội của đất nước.
Trong những năm gần đây (từ sau Hiến pháp 1992), Bộ máy nhà
nước ta đã có những đổi mới, những cải cách quan trọng phù hợp với
Hiến pháp mới và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Bên cạnh những kết quả
đạt được, tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước ở nước ta hiện nay
vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm trước yêu cầu của nhiệm vụ
mới như: Bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, kém hiệu quả, vận hành chưa
nhịp nhàng, còn tồn tại cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp làm
cho bộ máy Nhà nước nhiều tầng nấc, nặng nề, công tác quản lý nhà nước
có lĩnh vực, có nơi còn buông lỏng, đội ngũ cán bộ viên chức tuy đã được
nâng cao một bước nhưng vẫn còn chưa ngang tầm với nhiệm vụ, phong
cách làm việc còn nặng về hình thức, giấy tờ, một bộ phận thoái hóa, biến
chất …sự lãnh đạo của Đảng có nơi còn chưa được tăng cường và đổi mới
kịp thời.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đất nước ta đang tiến hành xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước và trước
sự phát triển như vũ bão của các nước trong khu vực và trên thế giới thì
1


yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước ta là một tất yếu khách quan và phải

xã hội.
Bộ máy Nhà nước XHCN được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền.
Mọi quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất ở nhân dân, bắt nguồn từ
nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình theo hai hình thức trực
tiếp và gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện do mình trực tiếp bầu ra.
Bộ máy Nhà nước XHCN phải có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Đó là sự phối hợp và phân công trên cơ sở tổ chức lao động khoa
học về quyền lực Nhà nước để tránh sự trùng lặp, chồng chéo mâu thuẫn
trong việc thực hiện ba quyền.

4


Đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước XHCN phải đáp ứng
những tiêu chuẩn chung là: Có tinh thần yêu nước, yêu CNXH, tận tụy
phục vụ nhân dân, có ý thức tổ chức kỷ luật, có trình độ lý luận và thực
tiễn, kiên định tư tưởng, quan điểm của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, có đủ năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để có thể
thực hiện những nhiệm vụ cụ thể được giao trong Bộ máy Nhà nước.Cán
bộ công chức của bộ máy Nhà nước XHCN luôn chịu sự giám sát của
nhân dân và có thể bị bãi nhiệm bất cứ lúc nào nếu không hoàn thành
được nhiệm vụ và không được sự tín nhiệm của nhân dân
Bộ máy Nhà nước hợp thành từ nhiều cơ quan và tổ chức Nhà nước
từ Trung Ương đến địa phương, có cơ cấu tổ chức phức tạp, phong phú và
đa dạng. Mỗi cơ quan, tổ chức có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ riêng
nhưng chúng hợp thành một thể thống nhất cùng thực hiện các mục tiêu
do Nhà nước đặt ra.
1.2 Bản chất và đặc trưng cơ bản của Nhà nước cộng hòa
XHCN Việt Nam

Bản chất dân chủ của Nhà nước ta thể hiện toàn diện trên các lĩnh
vực kinh tế, chính trị,văn hóa và xã hội
- Trong lĩnh vực kinh tế: Nhà nước ta thực hiện chủ trương tự do,
bình đẳng về kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi làm cho nền kinh tế đất nước
có tính năng động, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, đa sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cho phép
mọi đơn vị kinh tế đều có thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong sản xuất,
hợp tác và cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm
lợi ích kinh tế của người lao động, coi đó là động lực đồng thời là mục
tiêu của dân chủ.
- Trong lĩnh vực chính trị: Nhà nước ta đã tạo ra cơ sở pháp lý vững
chắc, quy định những quyền tự do dân chủ trong sinh hoạt chính trị, xác lập và
6


thực hiện cơ chế dân chủ thông qua chế độ bầu cử và bãi miễn bầu cử nhân dân
trong các cơ quan dân chủ đồng thời Nhà nước thiết lập và thực hiện chế độ
dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công cuộc quản lý
nhà nước, xã hội, đóng góp ý kiến, kiến nghị, thảo luận một cách dân chủ, bình
đẳng vào đường lối, chủ trương, dự thảo luật…
- Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội: Nhà nước thực hiện
chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng
của con người. Quy định toàn diện và bảo đảm cho mọi người được
hưởng các quyền tự do như ngôn luận, tự do tín ngưỡng, học tập, lao
dộng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở…Tự do tư tưởng văn hóa,
xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
c. Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất
nước Việt Nam được thể hiện dưới bốn hình thức cơ bản

Điều 4, Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Nước CHXHCN Việt Nam thực
hiện chính sách hòa bình, hữu nghị mở rộng giao lưu và hợp tác đối với
tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội
khác nhau, trên cơ sở độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau…
Dân chủ và tiến hành tiến bộ xã hội”.
Để thực hiện đúng bản chất của mình, Nhà nước CHXHCN Việt
Nam còn phải tiếp tục đổi mới nhiều mặt, cải tổ sâu sắc từ cơ cấu tổ chức
đến hình thức và phương pháp hoạt động cho phù hợp với các quy định
của pháp luật để từng bước xây dựng và phát triển thành Nhà nước pháp
quyền Việt Nam.
1.3. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước
XHCN Việt Nam
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước là những
nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học,

8


phù hợp với bản chất của Nhà nước, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt
động của các cơ quan Nhà nước và toàn thể bộ máy Nhà nước.
ở nước ta, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước được ghi
nhận trong Hiến pháp, bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau:
1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy Nhà nước
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của Nhà nước XHCN: quyền
lực thuộc về nhân dân. Nó được thể hiện trên ba phương diện:
Thứ nhất, bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào
việc tổ chức ra Bộ máy Nhà nước, được thể hiện trước hết ở chỗ phải có đủ cơ
sở pháp lý và các biện pháp tổ chức phù hợp để nhân dân thể hiện ý chí của
mình, phát huy quyền làm chủ bầu ra các cơ quan đại diện để lập ra các hệ

Đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đại đoàn kết dân tộc lại là
một chính sách lớn và được khẳng định trong Điều 5 Hiến pháp 1992: “…
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các
dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có
quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những
phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình ".
1.3.5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tại Điều 12, Hiến pháp 1992: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ". Nó đòi hỏi các
cơ quan trong Bộ máy Nhà nước phải đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp một cách nhịp nhàng,
đồng bộ theo đúng pháp luật và trên cơ sở của pháp luật. Tuy nhiên để
thực hiện chủ trương củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCNVN cần phải tăng cường hơn nữa pháp chế

10


XHCN, đòi hỏi Nhà nước phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Ngoài 5 nguyên tắc trên, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước XHCN còn có những nguyên tắc khác như:nguyên tắc tổ chức
lao động khoa học, nguyên tắc bảo đảm tính kinh tế, nguyên tắc công khai
hóa …
Chương 2:
THỰC TRẠNG CẢI CÁCH BỘ MÁY NHÀ N ƯỚC XHCN VIỆT
NAM
2.1. Thực trạng của việc tiến hành cải cách bộ máy Nhà nước
XHCNVN
2.1.1. Những thành tựu nổi bật

đã đi vào cuộc sống của nhân dân và giữ vai trò quan trọng trong quản lý
đất nước ở mọi lĩnh vực kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh –
quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đối ngoại, trong quan hệ quốc tế …
Cùng với hoạt động lập pháp thì QH các khóa đã thực hiện ngày càng
hiệu lực và hiệu quả chức năng quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước.
Các nghị quyết của QH về nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm năm và
hàng năm ; về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia ; về dự toán ngân sách ; về
các công trình trọng điểm quốc gia, về tổ chức nhân sự của Bộ máy Nhà nước
… Các hoạt động giám sát của QH về đầu tư, xây dựng cơ bản, giáo dục đào
tạo …đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội đã đề
ra từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật.
Hoạt động lập pháp của QH đạt được những thành tựu trên là do
những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Hoạt động lập pháp được tiến hành chủ động, tự giác trên cơ sở kế
hoạch, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được QH thông qua, bám sát

12


nhu cầu thể chế hóa, đường lối, chủ trương của Đảng, kế hoạch phát triển kinh
tế –xã hội của đất nước.
- Hoạt động lập pháp đã được tiến hành trên cơ sở pháp luật khá
chặt chẽ (theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thông qua ngày
12/11/1996 ).
- Hoạt động lập pháp thể hiện được tinh thần dân chủ, thực hiện
được nguyên tắc nhân dân thực hiện pháp luật phải là người xây dựng
pháp luật trên tất cả các mắt khâu của quy trình làm luật. Chính từ đây,
QH thực hiện được sứ mệnh của người đại biểu cao nhất của nhân dân.
- Tính sáng tạo trong hoạt động lập pháp: Hoạt động lập pháp của QH
luôn hướng tới tính hợp lý trong sự điều chỉnh của từng đạo luật, của cả hệ

xoá bỏ cơ chế “chủ quản “của cơ quan hành chính đối với các doanh nghiệp.
Tiền đề cho việc điều chỉnh này là sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước,
thành lập một số Tổng công ty ở một số ngành kinh tế – kỹ thuật. Trên cơ sở đó
quy định lại chức năng quản lý Nhà nước của các Bộ và UBND đối với các
hoạt động kinh tế, đối với các doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa Trung Ương và
địa phương trong hệ thống hành chính Nhà nước cũng đã được giải quyết trong
luật ngân sách Nhà nước và pháp lệnh về quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể của
Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND các cấp.
- Về xây dựng đội ngũ công chức hành chính: Thủ tướng chính phủ
đã triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hành chính Nhà nước
các cấp, nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường chính trị, trường
hành chính tỉnh, thành phố, tiến hành cuộc đấu tranh chống tệ tham
nhũng, lãng phí của công, chống bệnh quan liêu, cửa quyền trong cơ quan
hành chính các cấp để xây dựng đội ngũ công chức nhà nước trong sạch,
có phẩm chất và năng lực.
Ngoài ra,trong hoạt động điều hành, Chính phủ cũng đã có những bước
tiến đáng kể: Kìm hãm được tốc độ lạm phát, ổn định giá cả, chấn chỉnh được

14


giao thông đường bộ và giao thông đ"thị, truy quét văn hóa phẩm đồi trụy, độc
hại, phản động …
Trong giai đoạn I (2001–2005) của chương trình tổng thể cải cách hành
chính Nhà nước giai đoạn 2001–2010 kết quả nổi bật thu được là: Thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế (tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước,
bình quân trong năm năm 2001 –2005 đạt mức kế hoạch 7,5%, tỷ lệ huy động
vốn GDP vào ngân sách Nhà nước vượt dự kiến, tổng vốn đầu tư vào nền
kinh tế tăng nhanh…) ; xoá đói giảm nghèo được đảy mạnh bằng nhiều hình
thức và thu được nhiều kết quả tốt ( Đến năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo còn 7%

quan tư pháp, Toà án, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và Hội luật gia (trước
đây do HĐND tỉnh, huyện bầu ra theo mỗi khóa của HĐND).
- Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải chịu sự giám sát và có
trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp (luật tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân – 1992 có sửa đổi và bổ sung ). Uỷ ban
kiểm sát có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan
trọng trong hoạt động của viện (trước đây chỉ hoạt động mang tính chất tư
vấn, không có quyền quyết định ). Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã
thành lập bộ phận kiểm sát thi hành án.
- Ngoài ra, các hoạt động tư pháp khác cũng có những đổi mới nhất
định như: Cơ quan điều tra từng bước được tăng cường và tổ chức thành hệ
thống (Bao gồm cơ quan điều tra thuộc lực lượng CAND, trong quân đội và
của Viện kiểm sát nhân dân). Công tác thi hành án phạt tù đã được tăng
cường hơn, hệ thống trại giam đã được phân loại, củng cố. Công tác thi hành
án dân sự được bàn giao sang cho Bộ tư pháp(tách khỏi chức năng của Toà
án). Hệ thống thi hành án dân sự được thành lập từ trung ương đến cấp
huyện…Với những đổi mới bước đầu như trên, hệ thống tư pháp góp phần
quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giải
quyết các tranh chấp xảy ra, góp phần bảo đảm ổn định chính trị và trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
16


2..2. Hạn chế trong việc cải cách Bộ máy Nhà nước XHCN Việt
Nam
2.2.1. Hoạt động lập pháp
Ngoài những thành tựu đã đạt được nêu trên thì hoạt động lập pháp
vẫn còn có những hạn chế nhất định:
Vẫn chưa đáp ứng kịp với yêu cầu của việc tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân

chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu chưa thật sự phù hợp; chức năng
quản lý Nhà nước dịch vụ công chậm được làm rõ.
2.2.3. Hoạt động của cơ quan tư pháp
Hệ thống tư pháp vẫn còn không ít những yếu kém, khuyết điểm
ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp
luật. Việc bắt, tạm giam, tạm giữ đã không tránh khỏi những trường hợp
oan, sai.Thời hạn tố tụng kéo dài ; nhiều vụ việc dân sự phải xử đi xử lại
nhiều lần, thậm chí có vụ còn để kéo dài nhiều năm. Công tác thi hành án
đạt hiệu quả thấp, còn một số lượng lớn bản án đã có hiệu lực pháp luật
nhưng chưa được thi hành.Cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của các
cơ quan tư pháp chưa được cải thiện…
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong cải cách bộ máy Nhà
nước XHCN Việt Nam
- Trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội vẫn còn nhiều khuyết
điểm, yếu kém, chưa hoàn chỉnh, phù hợp ; Hoạt động lập pháp tiến hành
chưa chủ động, tự giác, kế hoạch, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
được QH thông qua còn thiếu tính chặt chẽ, khoa học, chưa bám sát
đường lối, chủ trương, quan điểm và chỉ thị của Đảng ; còn tồn tại bệnh
chủ quan, duy ý chí trong làm luật; Các cơ quan hữu quan trong quá trình
xây dượng luật, pháp lệnh chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, khả
năng của mình, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau ; Việc tổ chức lấy
18


ý kiến góp ý vào các dự án luật, pháp lệnh còn mang tính hình thức, thiếu
chỉ đạo cụ thể, tốn nhiều thời gian, tiền của, công sức mà kết quả thu được
không nhiều ; Việc tổng hợp các ý kiến thiếu tính chu đáo, kịp thời.
- Trong cải cách hành chính, nguyên nhân của những hạn chế, yếu
kém đó là do chưa làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ hệ thống hành
chính Nhà nước, nhiều cán bộ lãnh đạo cơ quan chính quyền ở Trung

QH phải mạnh về lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất
nước và giám sát tối cao. phương thức hoạt động của QH phải dựa trên hai
trụ cột chính là Uỷ ban và đại biểu QH.Vai trò của các Uỷ ban và Hội
đồng dân tộc phải được tăng cường. Coi trọng vai trò của các cá nhân đại
biểu QH bằng cách phát huy trí tuệ chuyên sâu, chuyên trách và trách
nhiệm của đại biểu của nhân dân.
Để xây dựng QH theo phương hướng trên cần tiến hành đồng bộ các giải
pháp sau:
3.1.1. Tiếp tục đổi mới phương lãnh đạo của Đảng, đổi mới nhận
thức về vị trí, vai trò của QH, tạo mọi điều kiện để QH làm đúng, làm đủ
nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định nhằm xây dựng một QH
mạnh, thực quyền.
3.1.2. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của QH theo hướng
dân chủ hóa, tạo mọi điều kiện để các kỳ họp của QH diễn ra thực sự dân
chủ, cải tiến các hình thức lấy ý kiến nhân dân đối với các dự án luật và
các hình thức tiếp xúc giữa đại biểu QH với cử tri, sớm ban hành luật
trưng cầu dân ý để nhân dân trực tiếp quyết định một số vấn đề hệ trọng
và thiết thực.
3.1.3. Nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động lập pháp của QH trong
đó cần:
- Coi trọng nâng cao chất lượng việc lập chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh dài hạn và hàng năm của QH, các chương trình này phải căn cứ vào
20


kế hoạch phát triển kinh tế– xã hội, yêu cầu quản lý Nhà nước, định hướng
xây dựng pháp luật được xây dựng trong các văn kiện của Đảng. Cần bảo
đảm tính liên tục, kế thừa, phải xác định các lĩnh vực ưu tiên và khả năng thực
thi trong công tác xây dựng pháp luật đồng thời thể hiện tính đồng bộ, thống
nhất trong hệ thống pháp luật.

chuyên trách hoạt động của mình theo hướng chuyên sâu về các lĩnh vực
tư pháp, tài chính, ngân hàng…
3.1.7. Nâng cao chất lượng của đại biểu QH. Đại biểu QH phải có
đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật ( phải là những người có phẩm
chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực, trình độ, có điều kiện tham gia
các hoạt động của QH ), đồng thời chú ý đúng mực đến cơ cấu, tính đại
diện trong QH ; giảm hợp lý số đại biểu QH thuộc các cơ quan quản lý
hành chính Nhà nước; bảo đảm thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu,
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Đại biểu
QH phải nâng cao bản lĩnh dám nói và dám đấu tranh với các biểu hiện vi
phạm pháp luật ; phát huy tính chủ động, tự lập, tự chịu trách nhiệm cá
nhân của đại biểu QH.
3.2. Tiếp tục cải cách nền hành chính Nhà nước, xây dựng một
hệ thống cơ quan quản lý thống nhất, thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả,
đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tiến hành sắp xếp tổ chức
phân định rõ ràng chức năng, thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên
tắc kết hợp quản lý ngành và quản lý lãnh thổ. Tăng cường công tác tổ
chức và hoạt động thanh tra; kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương,
xây dựng đội ngũ cán b, công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn
thành công việc trong Bộ máy Nhà nước. Đảng ta đã khẳng định: “xây
dựng một nền hành chính Nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng
bước hiện đại hóa “.
* Những giải pháp cụ thể
22


a. Chính phủ và bộ máy hành chính Nhà nước thống nhất quản
lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội …
- Quản lý kinh tế – xã hội theo pháp luật, giữ gìn ổn định chính trị

được quy định thành thể chế.
c.. Tăng cường tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra coi đó là công
cụ quan trọng và hữu hiệu để bảo đảm hiệu lực quản lý Nhà nước, thiết lập kỷ
cương xã hội.
- Đổi mới tổ chức thanh tra phù hợp với chức năng quản lý Nhà
nước trong điều kiện mới ; phát triển mạnh tổ chức thanh tra việc thực
hiện thể chế về từng lĩnh vực trong toàn xã hội như tài chính, lao động,
giáo dục, y tế …
- Nghiên cứu tăng thẩm quyền cho các cơ quan thanh tra trong việc
xử lý hành chính tại chỗ các vi phạm pháp luật ; phân định rõ hơn trách
nhiệm của cơ quan thanh tra và Toà án hành chính trong việc giải quyết
các khiếu kiện đối với các cơ quan và cán bộ, công chức hành chính.
- Đẩy mạnh hoạt động tự thanh tra, kiểm tra trong nội bộ cơ quan, tổ chức Nhà
nước.
d. Trong tổ chức bộ máy của từng cơ quan, đơn vị ở các Bộ,
Ngành, Tổng cục… từ Trung ương đến cơ sở cần được rà soát lại chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phân công, biên chế của từng tổ chức xem có
gì bất hợp lý, trùng lặp; cắt giảm, điều chỉnh lại những thủ tục hành chính
rườm rà… Trên cơ sở đó, xem xét lại đội ngũ cán bộ công chức, nhất là
cán bộ lãnh đạo và quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ có chất lượng
để đảm bảo hoàn thành công việc một cách có hiệu quả ; xây dựng một
đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực là yếu tố quyết định
chất lượng của Bộ máy Nhà nước. Cán bộ công chức phải đặt lợi ích quốc
gia lên trên lợi ích cá nhân, phải sống và làm việc theo tinh thần "cần,
kiệm, liêm, chính, chí công v"tư “. Phải được bố trí và điều động theo nhu

24


cầu và lợi ích của đất nước thể được luân chuyển từ Trung ương đến địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status