Một số nội dung gợi ý trả lời câu hỏi cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng bộ tỉnh bình dương - Pdf 37

CHI ĐOÀN GIẢNG VIÊN KHOA
Một số nội dung gợi ý trả lời câu hỏi cuộc thi Tìm hiểu Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Bình Dương (1975-2010)
Cập nhật ngày: 18/04/2012 17:23:06
Câu 1: Anh (chị) cho biết, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần
thứ nhất được tổ chức vào thời gian nào? Nhiệm vụ bức thiết của Đảng bộ,
quân và dân tỉnh Sông Bé trong kế hoạch 5 năm (1976-1980) mà Đại hội
Đại biểu lần thứ nhất của tỉnh đã xác định là gì?
Trả lời:
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ I họp tại TX.Thủ Dầu
Một. Đại hội được tổ chức 2 vòng:
Vòng 1: Diễn ra từ ngày 10 đến 20-11-1976, có 291 đại biểu tham dự.
Trong 10 ngày làm việc đại hội đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, thảo
luận Đề cương Báo cáo chính trị, dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi) và quán
triệt sâu sắc hơn những vấn đề đường lối cách mạng của Đảng.
Vòng 2: Từ ngày 19 đến 30-4-1977. Đại hội một lần nữa quán triệt
những nghị quyết cơ bản của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của
Đảng. Tổng kết thắng lợi của Đảng bộ, quân dân Sông Bé từ sau giải
phóng 30-4-1975 đến năm 1977; kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban
Chấp hành Đảng bộ trong thời gian qua; quyết định phương hướng nhiệm
vụ và những mục tiêu cơ bản trong kế hoạch 5 năm và nhiệm kỳ hơn 2
năm của Tỉnh ủy; quyết định những mục tiêu, biện pháp cụ thể năm 1977;
thảo luận và quyết định những nội dung, biện pháp cơ bản nhằm nâng cao


hơn nữa vai trò lãnh đạo toàn diện của các cấp bộ Đảng trong tình hình
mới và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 1976-1979.
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ I là sự kiện chính trị
quan trọng nhất của địa phương - diễn ra trong hoàn cảnh sự nghiệp giải
phóng dân tộc của nhân dân ta toàn thắng, đất nước thống nhất, cả nước
bước vào giai đoạn mới - giai đoạn hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày 31-10-1989 đồng chí Trần Phong (Nguyễn Minh Triết) được Ban
Bí thư chuẩn y giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé theo Quyết định
791/NQNS-TW.
-

Đại hội Đại biểu lần thứ IV của Đảng bộ tỉnh là đại hội đổi mới

cách suy nghĩ, cách làm; đổi mới tư duy kinh tế; đổi mới phong cách làm
việc gắn bó với quần chúng; đổi mới tổ chức cán bộ và hành động theo
quy luật, giải phóng cho kỳ được lực lượng sản xuất hiện có, khai thác và
phát huy mọi tiềm năng của tỉnh để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất,
ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân
trong tỉnh.
Câu 3: Anh (chị) hãy nêu những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu có ý
nghĩa quyết định nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội và


quốc phòng - an ninh những năm 1986-1990 mà Nghị quyết Đại hội Đại
biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đã đề ra?
Trả lời:
* 5 nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu quyết định tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh là:
-

Kiên quyết điều chỉnh, bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư theo

hướng thực sự lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, gắn sản xuất với
chế biến nhằm giải quyết một các hợp lý yêu cầu lương thực, thực phẩm
tại chỗ, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu
dùng phù hợp với nguyên liệu địa phương. Phấn đấu ổn định và cải thiện

-

không ngừng lớn mạnh, trên cơ sở phong trào an ninh quốc phòng toàn
dân, tích cực giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tròn
nghĩa vụ với cả nước và quốc tế được giao.
Câu 4: Anh (chị) hãy nêu tóm tắt những nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh
trong việc tổ chức thực hiện “3 chương trình kinh tế” những năm 19861990?
Trả lời:
Nội dung 3 chương trình kinh tế là: Lương thực; thực phẩm; hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu.
* Những nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh tổ chức thực hiện 3 chương
trình kinh tế:
Đầu năm 1987, Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo 3 chương trình mục
tiêu lớn của tỉnh, gồm 7 đồng chí, do đồng chí Phó Bí thư, Chủ tịch UBND
tỉnh làm trưởng ban; giao nhiệm vụ cho UBND tỉnh và các đồng chí Tỉnh ủy
viên phụ trách các ngành, tiến hành xây dựng kế hoạch, chương trình
hành động thiết thực nhằm thực hiện 3 chương trình mục tiêu lớn của tỉnh


đạt kết quả; tỉnh chỉ đạo xây dựng phương án thâm canh vùng lúa năng
suất cao ở 2 huyện Tân Uyên, Bến Cát; tu bổ, xây dựng các công trình
thủy lợi phục vụ theo yêu cầu sản xuất tại địa phương.
* Ý nghĩa việc thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn
- Chương trình lương thực, thực phẩm không thể tách rời phát triển
nông nghiệp toàn diện. Ngoài những cây con phục vụ trực tiếp nhu cầu
thực phẩm như đã nói ở trên, chúng ta khuyến khích phát triển mạnh cây
công nghiệp, trồng rừng để khai thác những tiềm năng to lớn của nền công
nghiệp nhiệt đới theo thế mạnh của từng vùng, tạo ra nguồn sản phẩm
hàng hóa để trao đổi lấy lương thực, khắc phục khuynh hướng giải quyết
lương thực theo lối khép kín, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu cho công

- Từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp
hóa.
- Vận hành thông suốt cơ chế quản lý mới.
Phương hướng trên đặt ra việc phát triển kinh tế, “thực hiện tổng thể
mục tiêu đạt mức sống khá giả” là nhiệm vụ hàng đầu. Xác định chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là một bộ phận hữu cơ của chiến lược
phát triển đất nước. Tư tưởng chiến lược cho phát triển tỉnh Sông Bé bền
vững.


+ Phát triển đi liền tăng trưởng kinh tế với giải quyết các mục tiêu cơ
bản về xã hội.
+ Đầu tư mạnh cho phát triển cơ sở hạ tầng. Chiến lược phát triển
kinh tế phải đạt yêu cầu bảo vệ và phát triển nguồn rừng.
+ Giúp đỡ và hướng dẫn người dân tạo thu nhập, khuyến khích phát
triển đa dạng các loại hình sản xuất trên cơ sở phát huy tiềm năng của
từng ngành, từng vùng.
+ Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực,
tạo điều kiện cho người dân tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ.
+ Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động .
(Tham khảo trang 322 - 323 - LSĐ Bình Dương 1975-2010 và Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI).
* Những chủ trương của Đảng bộ Sông Bé về quốc phòng - an
ninh (1991-1995).
- Các cấp ủy và chính quyền địa phương đã làm tốt việc phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc giáo dục quốc phòng
toàn dân, trong đó xây dựng lực lượng 3 thứ quân, theo hướng “cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại”.
- Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có những quyết sách mới, bảo đảm mọi điều
kiện cho việc học tập, bồi dưỡng kiến thức quân sự, quốc phòng cho cán

gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu và
hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân.


Tăng cường QP-AN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng,
Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội nhân dân, công an nhân dân
là lực lượng nòng cốt. Thanh thiếu niên, sinh viên học sinh cần nhận thức
rõ và thực hiện:
+ Học tập quân sự, chính trị, rèn luyện thể lực do trường lớp và các
hoạt động Đoàn, địa phương tổ chức.
+ Chấp hành nghĩa vụ về đăng ký nghĩa vụ quân sự.
+ Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và chấp hành nghiêm chỉnh lệnh
gọi nhập ngũ...
Câu 6: Sau khi tách tỉnh (1-1-1997), thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của Đảng, Bình Dương có những điều kiện thuận lợi gì?
Thuận lợi nào có ý nghĩa quyết định cho việc phát triển kinh tế?
Trả lời:
- Những điều kiện thuận lợi cơ bản:
+ Bình Dương là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên, nhân lực, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu
kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh liên vùng, ngoài vùng và
cả quốc tế.
+ Cơ sở hạ tầng về điện, đường giao thông, thông tin liên lạc, bệnh
viện, trường học... đã bước đầu phát triển. Các khu công nghiệp ngày
càng thu hút được nhiều vốn đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nông nghiệp nông thôn có
bước chuyển biến. Tỉnh có quan hệ kinh tế, thương mại với nhiều đối tác
trong và ngoài nước.


Về công nghiệp: Trong những năm 2001-2005, nhờ kiên trì thực

hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, công nghiệp Bình Dương
phát triển nhanh, đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng của nền kinh
tế tỉnh nhà, tạo được bước phát triển đột phá; trở thành một địa phương có
nhiều khu công nghiệp và nhiều cụm công nghiệp. Đến năm 2005 toàn tỉnh
có 16 khu công nghiệp với tổng diện tích trên 3.200 ha, thu hút 1.890 dự
án trong nước với tổng số vốn đạt 15.733 tỷ đồng và 1.076 dự án đầu tư
nước ngoài với số vốn là 2.259 tỷ USD.
+ Cùng với phát triển công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp
cũng phát triển giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động nông nghiệp,
nông thôn.
-

Về nông nghiệp:

Nhờ phát huy nội lực bộ mặt nông nghiệp Bình Dương đã có sự thay
đổi rõ nét. Dù tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm dần
từ 15,1% năm 2001 xuống còn 8% năm 2005, nhưng do áp dụng tiến bộ
khoa học, kỹ thuật nên giá trị tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp vẫn tăng
khá. Ngành chăn nuôi tuy có khó khăn do giá cả không ổn định, do dịch
cúm gia cầm... nhưng vẫn tiếp tục khẳng định là ngành có tốc độ tăng
trưởng nhanh, bình quân hàng năm tăng 13,7% và từng bước tăng tỷ trọng
trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Đến năm 2005, lao động nông nghiệp
chiếm tỷ lệ 25% trong cơ cấu lao động chung của tỉnh. Giá trị sản xuất
nông - lâm - ngư nghiệp tăng 6,3%; trong đó nông nghiệp tăng 6,1%, lâm
nghiệp tăng 4,8% và ngư nghiệp tăng 8%. Cụ thể trên các ngành:


+ Trong trồng trọt đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ lương thực sang

ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng cao và liên tục. Tốc độ tăng bình quân
hàng năm đạt 42,4%. Năm 2005 đạt 3 tỷ 100 triệu USD, tăng gấp 5,8 lần
so với năm 2000.
+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một thành công lớn trong quan hệ
đối ngoại của tỉnh, đứng thứ 4 cả nước. Từ 2001-2005 đã thu hút được
16.019,4 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước và có 705 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đầu tư là 2 tỷ 625 triệu USD.
+ Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính: Tốc độ tăng trưởng huy
động vốn bình quân hàng năm đạt từ 29 - 31%, tăng trưởng tín dụng từ 7 29%. Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm có bước phát triển khá so với giai
đoạn 1996-2000. (Tham khảo trang 492 đến 513 - LSĐ Bình Dương 19752010) .
* Những thành tựu trên lĩnh vực văn hóa - xã hội từ 2001-2005:
- Trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Hệ thống giáo dục đã phát triển
khá ổn định và phân bố đều khắp từ thị xã, thị trấn đến các vùng sâu, vùng
xa với trên 262 trường giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, bổ túc văn
hóa và các trường chuyên nghiệp dạy nghề. Đội ngũ giáo viên các ngành
học, bậc học ngày càng tăng về số lượng và chuẩn hóa về chất lượng.
Hàng năm, tỉnh đầu tư ngân sách cho giáo dục luôn duy trì ở mức 16 18% tổng chi toàn tỉnh.
+ Năm 2005, trên toàn tỉnh không còn phòng học tạm, đã đầu tư xây
dựng 32,5% số trường có phòng học lầu. Năm 2000, toàn tỉnh chỉ có một


trường tiểu học đạt chuẩn, đến năm 2005 toàn tỉnh có 27 trường đạt chuẩn
quốc gia. Tháng 12-2003, tỉnh đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo
dục trung học cơ sở (sớm hơn kế hoạch 2 năm).
+ Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tăng
gấp 4 lần so với trước.
- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: mạng lưới y tế từ tỉnh
đến cơ sở được tăng cường về vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ.
Đến năm 2005, toàn tỉnh có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực
và 89 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có 62 trạm đạt chuẩn quốc

- Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao
đời sống nhân dân: trong 5 năm (2001-2005) đã huy động hơn 626 tỷ
đồng từ nhiều nguồn vốn cho các đối tượng nghèo vay, góp phần giảm
trên 11.000 hộ nghèo (hoàn thành chỉ tiêu trước 2 năm so với kế hoạch).
Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 33.000 lao động. Chú
trọng việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bộ đội xuất ngũ. Tỷ lệ
lao động qua đào tạo đạt 38%.
+ Phong trào “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, quỹ “Ngày vì
người nghèo” được nhân dân hưởng ứng. Đã vận động nhiều nguồn vốn
xây dựng được 1.048 căn và sửa chữa 407 căn nhà tình nghĩa cho các đối
tượng chính sách với tổng kinh phí gần 22 tỷ đồng, trao tặng nhiều sổ tiết
kiệm và 5.038 căn nhà đại đoàn kết trị giá 25,8 tỷ đồng. (Tham khảo trang
từ 514 đến 530 - Lịch sử Đảng bộ Bình Dương 1975-2010).


Câu 8: Hãy trình bày tóm tắt những bài học kinh nghiệm trong quá
trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ Bình
Dương thời kỳ 1975-2010.

Trả lời:
Những bài học kinh nghiệm:
1. Đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là quan hệ đoàn kết
trong các Ban Thường vụ, các cấp ủy là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết
định chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền trong toàn
bộ tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
2. Quá trình Đảng lãnh đạo cũng là quá trình luôn tìm tòi, xây dựng
phương thức lãnh đạo thích hợp của Ban Thường vụ và các cấp ủy trong
toàn bộ hệ thống chính trị.
3. Trân trọng và phát huy những lợi thế so sánh trong thiên thời địa lợi
và nhân hòa; khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổng hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status