Vai trò của hội nông dân và hội phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân huyện vĩnh lộc – tỉnh thanh hóa - Pdf 37

Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các
thầy cô giáo đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và tu dưỡng tại
trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Ths. Mai Lan
Phương, giảng viên của bộ môn Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ và trực
tiếp hưỡng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh
Lộc, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng Uỷ ban nhân dân,
Hội nông dân, Hội Phụ nữ huyện cùng bạn bè và người thân đã tận tình giúp đỡ,
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu.
Do trình độ và thời gian có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo và
các độc giả để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2010
Sinh viên

Phạm Khắc Lực

i


TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Việt Nam có khoảng 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động
làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Với chức năng cơ bản là tạo ra sản phẩm
lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, phát triển nông nghiệp có ý nghĩa
quan trọng đối với xã hội.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp

trò trong sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp Đổi mới của đất nước.
Hội nông dân và Hội phụ nữ chịu sự quản lý của huyện ủy và chịu sự chỉ
đạo trực tiếp của Hội nông dân và Hội phụ nữ tỉnh. Tỷ lệ hội viên của các tổ
chức Hội sơ với dân số đạt cao, điều này chứng tỏ ở địa phương các tổ chức Hội
phát triển. Đội ngũ cán bộ của Hội có trình độ chuyên môn cao với tỷ lệ cao
đẳng, đại học là trên 60%, tỷ lệ Đảng viên đạt 100%. Trong hoạt động của mình,
các tổ chức Hội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác Hội đặt ra trong nhiệm kỳ.
Trong các hoạt động của Hội, hoạt động hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, tạo
việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội
địa phương là hoạt động chủ yếu của Hội và có ảnh hưởng tới hội viên hơn cả.
Trong hoạt động sản xuất nông ngiệp của các hộ nông dân vai trò của các tổ
chức Hội được thể hiện qua việc hỗ trợ các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất, vốn, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề phụ.
Vốn là yếu tố cơ bản, ban đầu trong sản xuất kinh doanh. Các yếu tố của
vốn là lãi suất, mức vay, thời gian đáo hạn; ngoài ra thủ tục vay, hình thức cho
vay cũng ảnh hưởng tới vốn. Nguồn vốn cho vay của Hội Nông dân và Hội phụ
nữ chủ yếu từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng NN&PTNT, ngoài ra
còn có nguồn từ quỹ hội và các dự án được triển khai trên địa bàn. Hình thức
cho vay chủ yếu là tín chấp. Nguồn vốn này được sử dụng để đầu tư vào sản
xuất, giải quyết các khó khăn hiện tại. Qua nghiên cứu cho thấy, phần lớn nông

iii


dân hài lòng với hoạt động này do có lãi suất thấp, mức vay khá, thời gian vay
dài và thủ tục vay đơn giản.
Trong hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, Hội đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật
sản xuất, các lớp tham quan hội thảo, xây dựng các mô hình trình diễn. Các hoạt
động này thường là giới thiệu kỹ thuật khoa học mới, kỹ thuật sản xuất cho năng
suất cao như mô hình nuôi nhím, nuôi rắn, mô hình cánh đồng lúa năng suất,

v


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện 2007 – 2009……………..……28
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện 2007 – 2009 ………...….…31
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của huyện năm 2009 ................................... 33
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện 2007 -2009 ………..………36
Bảng 4.1 Các hoạt động nổi bật của Hội nông dân huyện ……………..……...48
Bảng 4.2 Một số hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho hội viên của hội nông dân…....51
Bảng 4.3 Các hoạt động nổi bật của Hội Phụ nữ huyện……………...………...56
Bảng 4.4 Kết quả hoạt động cho vay vốn của Hội phụ nữ huyên ………..…....57
Bảng 4.5 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra…………………….…….…….61
Bảng 4.6 Kết quả sản xuất một số cây trồng chính của hộ điều tra (BQC/hộ)
……………………………………………………………………….65
Bảng 4.7 Kết quả chăn nuôi chăn nuôi một số vật nuôi chính của hộ điều tra
(BQC/hộ)……………..………………………………………………………..66
Bảng 4.8 Tình hình nguồn vốn sản xuất của các hộ điều tra (BQC/hộ)
……………………………………………………………………….69
Bảng 4.9 Nguồn vốn vay của các hộ điều tra qua Hội Nông dân và Hội phụ nữ
……..……………………………………………………………….…………..71
Bảng 4.10 Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho hội viên của các tổ chức Hội.…76
Bảng 4.11 Kết quả hoạt động dạy nghề tạo việc làm năm 2007 – 2009…….....79

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức của Hội LHPN Việt Nam ………………...…..…21

vi



NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NXB

: Nhà xuất bản

SX – KD : Sản xuất kinh doanh
THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TN

: Thu nhập



: Trung ương

VNPT

: Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam

UBND

: Uỷ ban nhân dân


Tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức xã hội thuộc hệ thống chính trị của
một quốc gia, nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo điều lệ của Đảng. Các tổ
chức chính trị - xã hội được tập hợp theo giai cấp (công nhân, nông dân), giới
(thanh niên, phụ nữ…), nghề nghiệp (làm báo, làm văn…), theo quá trình chiến
đấu hoặc theo hình thức tổ chức liên hiệp (Mặt trận tổ quốc, Liên hiệp các Hội
Văn học – Nghệ thuật…)Với nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tổ chức

1


các hoạt động thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của người dân, các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta ngày càng phát huy
vai trò to lớn đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Ở nông thôn nước ta, các tổ chức chính trị - xã hội nằm trong khối đoàn
thể địa phương, chịu sự quản lý của cơ sở Đảng cùng cấp. Với số lượng hội viên
tham gia lớn, hoạt động của các tổ chức Hội này có ảnh hưởng đến nhiều mặt
của đời sống xã hội ở địa phương đặc biệt là tổ chức Hội Nông dân và Hội phụ
nữ.
Vĩnh Lộc là huyện trung du của tỉnh Thanh Hóa, có quy mô diện tích, dân
số chiếm tỷ trọng không lớn so với toàn tỉnh (1,41% diện tích tự nhiên và 2,42%
dân số toàn tỉnh). Huyện có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát
triển nông nghiệp và gắn kết với các khu kinh tế động lực, các cơ sở kinh tế lớn
của tỉnh để cùng phối hợp phát triển. Tuy vậy, Vĩnh Lộc vẫn là một huyện
nghèo, với thu nhập bình quân đầu người chỉ vào khoảng 620 USD năm 2009
(bằng khoảng ½ so với cả nước). Sản xuất nông nghiệp ở trình độ thấp, phần lớn
là tự cung tự cấp, thiếu kinh nghiệm, thiếu trình độ khoa học kỹ thuật, thiếu
thông tin về thị trường. Do vậy, trong hoạt động sản xuất nông nghiệp rất cần có
sự quan tâm của chính quyền và các tổ chức để nâng cao đời sống cho các hộ
nông dân, từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Nhằm tìm hiểu vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương đặc

các tổ chức này đối với hoạt động sản xuất của hộ.
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phạm vi về nội dung
Trong khuôn khổ đề tài, do có giới hạn về thời gian và nguồn lực nghiên
cứu, đề tài chỉ tập chung nghiên cứu vai trò của hai tổ chức chính trị - xã hội ở

3


địa phương là Hội nông dân và Hội phụ nữ huyện Vĩnh Lộc đối với hoạt động
sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân địa phương. Đây cũng là hai tổ chức
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.
1.5.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh
Hóa.
1.5.3 Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu, đánh giá, tìm hiểu số liệu, thông tin liên quan đến đề tài được
thu thập trong ba năm gần đây(2007-2009).
Thời gian thực hiện đề tài từ 23/12/2009 đến 26/05/2010.

4


PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
2.1.1 Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
Tổ chức chính trị là tổ chức được hình thành và hoạt động nhằm các mục
tiêu chủ yếu về chính trị như: các đảng chính trị, các cơ quan quyền lực nhà
nước… Tổ chức chính trị tập hợp, thu hút lực lượng của các gia cấp, tầng lớp xã
hội các tổ chức quần chúng, nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu về chính trị là

của người dân; Ba là, tổ chức và động viên nhân dân tham gia đấu tranh giành
chính quyền của nhân dân và khi đã có chính quyền của nhân dân thì vận động
nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền đó, tham gia các phong trào
cách mạng của nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội đã và đang là thành viên của hệ thống chính
trị; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo, có truyền thống vẻ vang trong các thời kỳ cách mạng đã qua và
ngày nay có vai trò to lớn, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tổ chức xã hội là hình thức tập hợp rộng rãi nhân dân theo nghề nghiệp,
lứa tuổi, giới tính, sở thích…, nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng của các tầng lớp
nhân dân như học tập, rèn luyện nâng cao trình độ các mặt, giúp đỡ động viên
nhau trong cuộc sống, tham gia sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch, xã hội, từ
thiện…
Các tổ chức xã hội có quy mô rất khác nhau: có tổ chức hình thành hệ
thống trong cả nước, ở tất cả các địa phương, hoặc tham gia tổ chức quốc tế
tương ứng; có tổ chức chỉ hoạt động ở địa phương hoặc ở cơ sở. Các tổ chức xã
hội phát triển và hoạt động có kết quả là sự phản ảnh mức độ tiến bộ về dân trí

6


và dân chủ trong xã hội. Nhà nước có trách nhiệm quản lý, giúp đỡ, tạo điều
kiện cho các tổ chức xã hội ra đời và hoạt động đúng pháp luật, đáp ứng yêu
cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
2.1.2 Hội nông dân
* Khái niệm Hội nông dân
Theo Điều lệ của Hội Nông dân Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là tổ
chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà

Hội LHPN Việt Nam không chỉ hoạt động chính trị, Hội còn là đầu mối
quy tụ, tổ chức thực hiện những hoạt động xã hội sâu rộng trong mọi tầng lớp
phụ nữ tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Hội luôn luôn quan tâm thu hút các
tầng lớp phụ nữ tham gia thực hiện các hoạt động nhân đạo từ thiện, các hoạt
động xã hội phù hợp với yêu cầu xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.
Là tổ chức tập hợp, đoàn kết, đại diện cho lợi ích hợp pháp của phụ nữ,
hội được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp
thống nhất và hành động. Trong hoạt động phát triển hội viên: Hội quy tụ, tập
hợp rộng rãi các đối tượng phụ nữ, không phân biệt tầng lớp giàu nghèo, tôn
giáo, dân tộc… thu hút đa dạng đối tượng hội viên: ngoài đối tượng nữ nông
thôn lao động nông nghiệp, phụ nữ lực lượng vũ trang ( quân đội, công an, bồ
đội, biên phòng), phụ nữ công nhân viên chức và lao động, phụ nữ nội trợ, nay
còn thêm nhiều đối tượng mới như: nữ trí thức, nữ khoa học, nữ văn nghệ sỹ, nữ
doanh nhân, nữ sinh viên… Vận động phụ nữ trong các thành phần kinh tế tập
thể, cá nhân, tư nhân, liên doanh, hợp doanh…

8


Hội giúp phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng, Hội LHPN Việt Nam là
trường học nâng cao năng lực và kiến thức về mọi mặt của phụ nữ, giúp cho chị
em có cơ hội tiếp cận kiến thức thông tin, từ đó cơ quyền năng về chính trị, kinh
tế, khăng định vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Những hoạt
động này góp phần thay đổi và nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng của toàn
xã hội.
Hội các cấp thường xuyên tổ chức các lớp hoạt động tuyên truyền giáo
dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới không chỉ cho hội viên mà còn cho cả
nam giới và các nhà hoạch định chính sách ở địa phương. Thực hiện lồng ghép
giới vào các chương trình, dự án, nhằm giúp cho phụ nữ được tham gia vào quá

* Khái niệm về kinh tế hộ
Kinh tế hộ nông dân đã tồn tại lâu đời, độc lập và tự chủ như các thành
phần kinh tế khác. Kinh tế nông hộ tương đối phức tạp theo nhiều góc độ nhìn
nhận khác nhau. Chẳng hạn, C.Mác – P.Anghen quan niêm: “ kinh tế nông hộ
vốn bị hạn chế, nên cần được cải tạo thì mới có thể phát triển nông nghiệp lên
trình độ xã hội hóa ngày càng cao”. Do đó, lúc đầu các ông dự đoán kinh tế
nông hộ sẽ bị xóa bỏ trong nền kinh tế thị trường, sau này thực tế phát triển kinh
tế ở Anh và các nước tư bản khác, C.Mác đã thấy rằng: phát triển nông nghiệp
không giống như phát triển công nghiệp, kinh tế hộ tỏ ra là hình thức tổ chức sản
xuất nông nghiệp có hiệu quả.( C.Mác,P.Anghen, Tuyển tập, tập 3, (1962) NXB
Sự Thật, HN trang 200-2008).
Theo Đỗ Văn Viện và Đặng Văn Tiến,(Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
2000), Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một

10


nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy
thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
Như vậy, kinh tế hộ nông dân được hiểu như là một cách cách thức tổ chức kinh
tế của hộ nông dân, do vậy nó cũng có những đặc điểm riêng đó là cùng ngân
quỹ, ăn chung ngủ chung một nhà, và quyết định sản xuất kinh doanh là do chủ
hộ quyết định. Hộ nông dân thường không thuê lao động nên không có khái
niệm tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức. Nông hộ chỉ có
thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế, đó là sản lượng thu được hàng
năm của hộ trừ đi chi phí mà hộ đã bỏ ra phục vụ sản xuất.
Tuy có nhiều quan điểm về hộ nông dân và các quan điểm không giống
nhau, song kinh tế hộ vẫn tồn tại như một hình thức tổ chức sản xuất đặc thù

định sản xuất. Tiếp đến là chuẩn bị đầy đủ và đồng bộ các đầu vào để thực hiện
các quyết định vầ đầu tư, sử dụng lao động, các yếu tố vật chất… Đồng thời tổ
chức sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố đầu vào để tạo ra nhiều sản phẩm. Là một
đơn vị kinh tế tự chủ, sản phẩm của hộ nhằm mục tiêu chủ yếu là đảm bảo nhu
cầu
2.2 VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.2.1 Sự hình thành và phát triển của Hội Nông dân Việt Nam
Là tổ chức đại diện của giai cấp nông dân Việt Nam, Hội Nông dân có
lịch sử hình thành lâu đời. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Hội Nông dân Việt Nam luôn là tổ chức trung tâm, nòng cốt trong các
phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới.
* Sự ra đời của Hội Nông dân Việt Nam

12


Cuối năm 1926, đầu năm 1927, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và
Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, một số địa phương hình thành “ Nông Hội
đỏ” với mục đích chỉ đạo cuộc nổi dậy của nông dân đấu tranh chống thực dân,
địa chủ phong kiến và tư sản, đòi quyền dân sinh dân chủ. Từ khi ra đời, “ Nông
Hội đỏ” đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình với các cuộc đấu tranh tiêu biểu
của nông dân: Cao Lãnh, Sa Đéc, Gia Định… và đi tới đỉnh cao là Xô Viết –
Nghệ Tĩnh.
Ngay từ khi thành lập Đảng ngày 3-2-1930, Đảng ta rất coi trọng việc
giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng ra đấu tranh chính trị và xây dựng đội
quân quần chúng cách mạng. Ngày 14-10-1930, trong hội nghị lần thứ I Ban
chấp hành Trung ương Đảng, đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Tổng
Nông hội Đông Dương. Trong Điều lệ Tổng Nông Hội Đông Dương đã nêu rõ

đại, đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Đóng góp vào chiến thắng lịch sử vĩ đại
trên, Hội nông dân đã đề ra những nhiệm vụ cho từng thời kì và hoàn thành mục
tiêu được ra. Năm 1949, với nhiệm vụ vận động nông dân: Tăng gia sản xuất, tự
cấp tự túc, nuôi dương bồ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, thực
hiện giảm tức, đào tạo cán bộ và thanh toán nạn mù chữ, Hội đã cùng cả nước
góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “ lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu”.
Tháng1-1969, ở miền Nam, Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt
Nam đã tiến hành Đại hội nhằm tổng kết phong trào đấu tranh của nông dân
trong 8 năm, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ mới đấu tranh chống các kế
hoạch của địch.
2.2.2 Vai trò của Hội Nông dân với kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân đã trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, có quyền bình
đẳng như các thành phần kinh tế khác và ngày càng có vai trò quan trọng hơn

14


trong nền kinh tế quốc dân. Nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị
sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn
là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc tế hóa
nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, kinh tế hộ nông dân đang gặp
phải những khó khăn và cần có sự hỗ trợ giúp đỡ nhằm tạo động lực mới cho
kinh tế hộ phát triển.
Trong nhiệm kỳ 2003 – 2008, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm
của các ban ngành, đoàn thể Hội nông dân Việt Nam đã hoàn thành tốt những
mục tiêu của nhiệm kì trước đặt ra, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Trong các hoạt động của Hội các hoạt động hỗ trợ hội viên phát
triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng là hoạt động nổi
bật nhất và được thực hiện một cách có hiệu quả. Hội đã tăng cường phối hợp

tạo ra được những tiền đề cho nông dân tiếp cận với hội nhập kinh tế thế giới.
Phong trào đã khích lệ, động viên nông dân cả nước vươn lên xóa đói giảm
nghèo. Từ phong trào đã xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông dân thuộc nhiều
thành phần dân tộc, tôn giáo sản xuất kinh doanh giỏi, những điển hình tiên tiến
đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng có mức thu nhập
hàng trăm triệu đồng, nhiều hộ có thu nhập hàng tỷ đồng/năm. Bình quân hàng
năm số hộ nông dân đăng ký phấn đấu danh hiệu “Nông dân sản xuất giỏi” tăng
16,7%, trong đó gần 65% số hộ ở các cấp. Số hộ đạt tiểu chuẩn hộ sản xuất giỏi
các cấp tăng 13,6% so với 5 năm trước.
Phong trào thi đua xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, xã
văn hóa ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Các cấp Hội đã năng
động, linh hoạt phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội vận động
hội viên, nông dân hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục,
thể thao; thực hiện nếp sống trong việc cưới, việc tang và lễ hội; tham gia bảo

16


đảm an toàn giao thông; an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, vệ sinh
an toàn thực phẩm; bảo vệ môi trường nông thôn. Trong công cuộc xây dựng
nông thôn mới, các cấp Hội đã vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực
tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Nông dân cả nước đã đóng góp
2.840 ngàn tỉ đồng và trên 60 triệu ngày công làm mới và sửa chữa 462 nghìn
km đường giao thông nông thôn; 271 nghìn km kênh mương, 40.600 cầu, cống;
27.280 phòng học, trạm xã. Bình quân hàng năm có trên 8 triệu hộ nông dân
đăng ký phấn đấu, trong đó có trên 4 triệu hộ đạt danh hiệu “ Gia đình văn hóa”
Phong trào nông dân thi đua tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh tiếp
tục phát triển. Năm năm qua, các cấp Hội Nông dân Việt Nam đã đẩy mạnh
công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về
nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giac

đầu tiên của Đảng đã ghi: “ Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là
lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng
phụ nữ, gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ
nữ. Đảng đặt ra: phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng ( công hội, nông
hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham
gia cách mạng. Chính vì vậy mà vào ngày 20/10/1930, Hội phụ nữ chính thức
được thành lập. Sự kiện lịch sử này nói lên quan điểm của Đảng ta đối với vai
trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải
phóng phụ nữ.
* Hội phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng XHCN ở nước ta
+ Trong sự nghiệp cách mạng, giải phóng đất nước
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, phụ nữ Việt Nam có
điều kiện phát huy khả năng trên các lĩnh vực, phong trào phụ nữ ngày càng phát
triển, góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status