tìm hiểu định kiến xã hội đối với phụ nữ (xã mỹ lộc - huyện hậu lộc - tỉnh thanh hoá) - Pdf 25

Báo cáo thực tập
Đề tài : Tìm hiểu định kiến xã hội đối với phụ nữ
(Xã Mỹ Lộc - Huyện Hậu Lộc - Tỉnh Thanh Hoá)
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài :
Trong xã hội Á đông truyền thống, vai trò, vị trí của người phụ nữ luôn bị
đánh giá thấp. Họ luôn bị những quy định ràng buộc chặt chẽ của xã hội phong
kiển trói buộc như : “ tam tòng tư đức, công - dung - ngôn - hạnh ”…Người
phụ nữ luôn phải nín nhịn, chấp nhận địa vị hèn kém của mình cả trong gia đình
và ngoài xã hội.
Ngày nay, xã hội đã làm cho quan niệm lỗi thời đó dần mất đi. Người phụ
nữ được quyền phát huy năng lược, khẳng định vị thế của mình cả trong gia đình
và ngoài xã hội. Nhiều người phụ nữ đã vươn lên chiếm lấy những đỉnh cao
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật…
Tuy nhiên, những định kiến đối với phụ nữ vẫn còn ít nhiều tồn tại nhất là
ở các vùng nông thôn nước ta. Người phụ nữ vẫn còn chịu sự phân biệt đối xử
theo những tư tưởng tập quán lạc hậu của xã hội cũ. Điều này đặt ra cho chúng
ta phải làm như thế nào để góp phần xóa đi những định kiến, quan niệm lỗi thời
đó. xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là : “ Tìm hiểu
định kiến xã hội đối với nữ giới ” (Nghiên cứu tại xã Mỹ lộc- huyện Hậu Lộc-
tỉnh Thanh Hoá).
2. Mục đích nghiên cứu :
- Nhằm đưa ra thực trạng về định kiến đối với nữ giới ở địa bàn nghiên
cứu.
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị góp phần khắc phục định kiến đối
với người phụ nữ.
3. Đối tượng nghiên cứu :
Định kiến của người dân về người phụ nữ.
1
4. Nhiệm vụ nghiên cứu :
4. 1. Nghiên cứu lý luận

27, 1%
5, 5%
28%
3 Trình độ học vấn
Cấp1, cấp2
Cấp 3
Cao đẳng, đại học
Không trả lời
50
55
33
9
33, 2%
36, 4%
20, 2%
5, 4%
4 Tổng số

2
5. 2. phạm vinghiên cứu :
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu định kiến với nữ giới
thể hiện các khía cạnh sau :
5. 2. 1 Định kiến với người phụ nữ về cương vị, vai trò của người phụ nữ
trong xã hội, khả năng thành công của họ so với nam giới khi nắm giữ các chức
vụ quan trọng trong xã hội Định kiến về các mối quan hệ xã hội của nữ giới …
5. 2. 2 Định kiến với phụ nữ trong lao động sản xuất : người quyết định
trong lao động sản xuất trong nhà, tính toán kinh tế trong gia đình, chủ hôn lễ.
6. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi :
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này. Để tiến hành nghiên

đen là xấu. Từ kết quả nghiên cứu ông rút ra kết luận : Một số trẻ em da đen đã
có tình cảm căm thù và nhầm lẫn trong cảm xúc tự động hoá, một sự khinh miệt
lạc hướng, chống lại chính bản thân mình.
Năm 1960 M. Robeach đã nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến định kiến dân
tộc. Ông cho rằng : Định kiến nảy sinh trên cơ sở sự khác biệt về niềm tin mang
tính nhận thức. Người ta thường thích những người có niềm tin và giá trị giống
với mình và không thích những người có niềm tin và giá trị khác với mình.
Chính quan niệm về giới khác với mình là nguyên nhân dẫn tới định kiến với
mục đích xác định vai trò của những xung đột giữa các nhóm trong sự hình
thành định kiến, Sherif đã tiến hành thực nghiệm ở hai nhóm con trai không
quen biết nhau. Trước hết mỗi nhóm có hoạt động riêng. sau đó, ông đề nghị tổ
chức những trò chơi tranh đua giữa hai nhóm. Ông nhận thấy rằng : hai nhóm
thiết lập những phân biệt rõ nét giữa nhóm này với nhóm khác. Đối với mỗi em,
nhóm của mình được coi là giỏi hơn và cả hai nhóm bắt đầu khinh thường nhau.
Ông rút ra kết luận :
5
- Các định kiến tác động như những chuẩn mực của nhóm, những chuẩn
mực này tạo một tập hợp những thái độ bất lợi đối với bên ngoài. Điều này có
hậu quả là trừng phạt bất cứ thành viên nào trong nhóm biểu lộ một thái độ tích
cực đối với một thành viên thuộc nhóm khác.
- Sự phát triển của các định kiến đem lại cảm giác về sự trội hơn và tăng
thêm giá trị của bản thân. Mỗi thành viên sẽ cảm thấy tự tin và mạnh mẽ hơn khi
tự gán cho mình những phẩm chất mà mình phát hiện thấy ở trong nhóm.
- Sự đoàn kết và tình bạn bè giữa các thành viên trong nhóm thực hiện
đối với nhau. Điều này được hiểu như là một sự khác biệt với những ngưới khác,
xa cách và loại trừ tất cả những ai không được thừa nhận là bộ phận của nhóm.
Năm 1968, Rosenthal và Jacobfon đã tiến hành thực nghiệm ở một lớp
thuộc trường tiểu học nhằm xác định hiệu ựng Pygmalion trong định kiến. Hai
ông đã chọn ngẫu nhiên 20% số học sinh của mỗi lớp và thông báo với các giáo
viên là các em có khả năng phát triển trí tuệ trong tương lai gần. Sau vài tháng,

đang.
Tác giả Phạm Đức Chuẩn trong luận văn thạc sĩ Tâm lý học đã nghiên
cứu “ Định kiến xã hội đối với nữ giới ” ( 2004). Tác giả rút ra kết luận : Định
kiến với nữ giới vẫn còn tồn tại ở nhiều mặt như đánh giá về các nét tính cách
xấu của nữ giới, đánh giá thấp khả năng lãnh đạo của nữ giới, cơ hội tiếp cận
nguồn lực của nữ giới thấp hơn nam giới.
Trên đây là những nét sơ lược về nghiên cứu định kiến và định kiến giới
cả trong và ngoài nước. Nghiên cứu về định kiến nói chung và định kiến giới nói
riêng là một vấn đề khó khăn cần phải tiếp tục đi sâu hơn nữa.
2. Các khái niêm cơ bản.
2.1. Khái niệm giới tính và giới.
2. 1. 1. Khái niệm giới tính
7
Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt
nay chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố di
truyền tự nhiên quy định.
Giới tính có đặc trưng cơ ban sau :
- Tính bẩm sinh di truyền : Về phương tiện sinh học, giới tính được quyết
định bởi hệ nhiễm sắc thể mà ở phụ nữ là XX, còn nam giới có một nhiễm sắc
thể X và một nhiễm sắc thể Y. Cả nam giới và nữ giới đều có Tetosteron( hoóc
môn giới tính nam) và ostrgen ( hoóc môn giới tính nữ ) nhưng với liều lượng
khác nhau. Các yếu tố này quy định sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà ngay từ
khi ở trong bào thai và ảnh hưởng đến sự phát triển khác nhau giữa nam và nữ.
Tính trung bình nam giới cao hơn, nặng hơn và có cơ bắp hơn ( khoảng7 %) so
với phụ nữ. Đây là những đặc điểm được hình thành tự nhiên không phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của con người.
- Tính đồng nhất : Mọi đàn ông cũng như mọi đàn bà trên khắp thế giới
và ở mọi thế hệ đều có cấu tạo giống nhau về mặt sinh học. Người phụ nữ ở bất
kỳ địa phương nào cũng đều có khả năng mang thai, Sinh con và cho con bú
bằng sữa mẹ còn đàn ông thì có chức năng sinh sản.

do quyền lợi họ có được luôn gắn với trách nhiệm nặng nề. Điều này làm hạn
chế sự phát triển của cả hai giới. vì vậy, hiểu đúng mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
khái niệm giới và giới tính sẽ đảm bảo sự bình đẳng, sự phát triển hài hoà của cả
nam và nữ giới.
2.2. Khái niệm định kiến xã hội.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về định kiến, tuỳ theo góc độ
nghiên cứu khác nhau.
Trong cuốn từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên : Định kiến xã hội
là quan niệm đơn giản, máy móc thường không đúng sự thật thể hiện trong lĩnh
vự nhận thức hằng ngày về một khách thể nào đó. Định kiến xã hội tìm kiếm
những đặc tính không đặc trưng của khách thể dù chúng có thể có tính bền vững
tương đối. Những hiện tượng xuất hiện trong lĩnh vực giao tiếp giữa các cá nhân
9
và trong tri giác xã hội như tâm thế xã hội, ấn tượng của vinh quang, những biểu
hiện lần đầu mới tạo điều kiện cho tồn tại và mở rộng định kiến xã hội.
Theo J. P. Chaplin : Định kiến là thái độ tích cực hay tiêu cực được hình
thành trên cơ sở các yếu tố cảm xúc, là niềm tin một cách không thiện cảm làm
cho chủ thể có cách nghĩ hoặc cách ứng xử tương tự với người khác.
Theo Krames và Manne : Định kiến là một thành tố của nhận thức, tình
cảm hành vi. Nó là biểu hiện của trí tuệ, nó khơi dạy tình cảm hoặc cảm xúc của
con người, là thực sự thực thi những suy nghĩ của mình về người khác bằng
những hàng vi cụ thể.
G. Allport quan niệm một cách đơn giản : Định kiến được xem như thái
độ có tính ác cảm và thù địch đối với các thành viên của nhóm.
Định nghĩa của Trần Hiệp : Định kiến là thái độ có sẵn về đối tượng, về
một sự kiện nào đó, thường mang hàm ý xấu. Định kiến xã hội được hiểu là thái
độ của một cá nhân trong từng nhóm xã hội, nó thường là tiêu cực đối với người
khác, nhóm khác trong mối quan hệ xã hội với nhau.
Quan niệm khác nhìn nhận định kiến là sự tổng hợp của ba yếu tố :
Một là, Sự tác động của các yếu tố cảm xúc ( affects) ; Hai là, Xu hướng

xã hội.
- Các nhân học được kinh nghiệm phân loại người theo giới tính từ khi
còn rất nhỏ. “chỉ định gán cho” của định kiến giới có ảnh hưởng sâu đậm và kéo
dài trong đời người.
Định kiến giới được biểu hiện dưới nhiều hình thức, thể hiện nổi bật ở ba
khí cạnh sau của cuộc sống :
Quan niệm về cương vị, vị trí của nam giới và nữ giới trong xã hội; sự
phân công các công việc của nam giới và nữ giới cũng như sự phân phối sản
phẩn lao động và vị trí công việc của nam giới và nữ giới trong gia đình. Theo
11
ba khía cạnh đó người mang định kiến với nữ giới sẽ cho rằng : Người phụ nữ
không có khả năng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội. Trong lao
động sản xuất, đàn ông sẽ là người quyết định kế hoạch sản xuất, áp dụng kỹ
thuật, phân phối thành quả lao động. Trong gia đình người phụ nữ chỉ là thứ
yếu, làm những công việc vặt, không có quyền tham gia những công việc quan
trọng, những nghi thức quan trọng trong gia đình, làng xóm… ba khía cạnh
biểu hiện định kiến với nữ giới nói trên được thể hiện cả trong nhận thức, niềm
tin, thái đội đánh giá và xu hướng hành vi của chủ thể mang định kiến đó. Đây
cũng chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu của mình.
2.4 Khuôn mẫu giới.
Khuôn mẫu được coi là cơ chế quan trọng để duy trì các định kiến. Việc
phân tích khuôn mẫu giới sẽ cho phép chúng ta lý giải nguồn gốc, sự hình thành
và tồn tại định kiến giới.
Trong cuốn những Khái niệm cơ bản của Tâm lý học xã hội (NXB Thế
giới- Hà nội- 1992), tác giả Fishercho rằng : khuôn mẫu dùng để chỉ các phạm
trù mô tả được đơn giản hoá mà chúng ta tìm cách đặt người khác hay các cá
nhân vào đó. Nói cách khác, khuôn mẫu là một phương thức cứng nhắc và quá
đơn giản để nhìn nhận một con người không dựa trên phẩm chất thực tế của
ngưới đó mà dựa trên những thuộc tính nhóm hoặc của giai cấp của người đó.
Trong hoàn cảnh thiếu hụt thông tin, hạn chế về thời gian, những biểu

Nhìn chung, những công việc mà xã hội trông chờ người phụ nữ thực hiện
thường được chia làm ba nhóm vai trò :
- Vai trò lao động sản xuất : Đó là việc thực hiện các công việc khác nhau
nhằm mang lại nguồn thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong việc thực
hiện vai trò này nam giới thường là người lãnh đạo và ra quyết định, phụ nữ
thường là người thực hiện công việc. Ngày nay khi làm một công việc thì nam
giới và phụ nữ vẫn có thể thực hiện theo những cách khác nhau. Vai trò chủ
động, quyết định thường nghiêng về nam giới.
13
- Vai trò tái sản xuất và nuôi dưỡng con người : Những công việc này
thường là chăm sóc các thành viên trong gia đình và việc sinh đẻ. Người phụ nữ
là người thực hiện vai trò sinh sản và nuôi dưỡng. Nam giới cũng có tham gia
vào nuôi dưỡng, chăm sóc con cái…. song mức độ rất hạn chế. Lý do chính
không phải vì họ không biết làm hay làm không khéo bằng phụ nữ mà là xã hội
không trông chờ phải làm các công việc nuôi dưỡng trong gia đình. Ngay cả đối
với một số ông chồng có tham gia làm việc hầu hết cho là “làm giúp vợ…” và
họ trông chờ người vợ phải biết ơn mình về điều đó.
- Vai trò giao tiếp, hoạt động xã hội : Những công việc như hội hè, ma
chay cưới xin…. cả nam và nữ đều tham gia. Tuy nhiên tính chất và mức độ có
thể rất khác nhau. Nam giới thường làm những công việc có tính chất quyết
định, long trọng như hội họp, đọc diễn văn, đón khách… còn phụ nữ làm các
công việc bếp núc, dọn dẹp…Những công việc này cũng rất quan trọng nhưng ít
được biết đến. Thực tế này phổ biến đến mức người ta thường coi đó là một điều
tự nhiên. Tuy nhiên, ở đây không có yếu tố tự nhiên mà chính là các yếu tố xã
hội đã quyết định giá trị công việc của từng giới.
Qua việc phân công vai trò giới nói trên chúng ta thấy rõ nó chịu ảnh
hưởng rất lớn trong các quan niệm định kiến giới. Đó là mới quan hệ hai chiều :
Vai trò chịu ảnh hưởng của định kiến và định kiến giới lại được củng cố bởi các
quan niệm về vai trò giới. Ngay cả khi vai trò giới đã thay đổi thì định kiến giới
vẫn giữ trong nó tính ổn định tương đối. điều đó đặt ra cho chúng ta cần thay đổi

diện tích tự nhiên là 175, 223 ha, với tổng số dân là 170 nghìn người, gồm 27
xã, thị trấn. Đây là một huyện miền biển nên thường chịu ảnh hưởng trực tiếp
của bão lụt, dịch bệnh nên gặp không ít khó khăn về mọi mặt. Trình độ dân trí
cũng như phong tục tập quán còn nhiều hạn chế. Song, với sự nỗ lực của Đảng
bộ và nhân dân trong huyện, tiềm năng thế mạnh của vùng nên phần nào kinh tế,
chính trị của huyện được ổn định và phát triển, trong đó có xã Mỹ Lộc.
Mỹ Lộc là một xã vùng màu, nằm dọc quốc lộ 1A, với diện tích 145 ha
lúa nước 2 vụ còn lại là đất trang trại chăn nuôi gia xúc gia cầm. Toàn xã có
1925 hộ, bao gồm 8 thôn.
16
Là một xã đồng màu nên kinh tế ổn định và khá đồng đều, tỷ lệ hộ đói
nghèo chỉ còn 23%. Có được kết quả như vậy là nhờ sự tích cực hoạt động của
các ban ngành đoàn thể như : Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Mặt
trận tổ quốc…kết hợp cùng với chính quyền xã ra sức chỉ đạo nhân dân tham gia
sản xuất, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, xây dựng cơ sở vật chất. Đến nay,
toàn xã có ba trường học cao tầng cho ba cấp học : Trung học cơ sở; Tiểu học;
mầm non với tổng số học sinh của cả ba cấp học là 1455 học sinh. Tỷ lệ tốt
nghiệp hàng năm đạt 98, 6%. Bên cạnh đó, xã còn xây dựng một trạm y tế gồm
7 phòng với 6 cán bộ y tế làm nhiệm vụ khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe
ban đầu cho nhân dân. Với cơ sở vật chất như trên Mỹ Lộc đã đáp ứng được một
phần cơ bản cuộc sống cho nhân dân.
Có thể nói, Mỹ Lộc là một xã tương đối thuận lợi, nằm ở trung tâm của
huyện, có tuyến đường quốc lộ chạy qua. Đây là điểm then chốt giúp Mỹ Lộc
phat triển kinh tế- văn hoá, và giao thông đi lại. Bên cạnh đó là những khó khăn
mà Mỹ Lộc khó tránh khỏi đó là một xã thuần nông, giáp biển thường hứng chịu
bởi thiện tai, lụt lội, dịch bệnh kéo dài nên thiệt hại rất nhiều về người và của.
Trình độ dân trí chưa cao, kinh tế phát triển chậm nên Mỹ Lộc vẫn còn nghèo
nàn, lạc hậu. Điều đó đã không thể thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp - nghề
chính của họ phát triển. Vì vậy đời sống của nhân dân còn hết sức khó khăn.
Mặc dù vậy, hoạt động văn hoá xã hội của họ rất sôi động. Công tác này

người chồng và do người chồng quyết định. Người phụ nữ chỉ việc nghe theo,
làm theo đây là quan niệm “bất thành văn” đã tồn tại từ xa xưa, bắt nguồn từ xã
hội phong kiến và được truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay, với sự thay
đổi của nền kinh tế thị trường, các thiết kế gia đình, xã hội cũng thay đổi. Song
quan niệm này có thay đổi không ? Vấn đề bình đẳng trong cuộc sống vợ chồng
được thực hiện như thế nào? Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đưa ra một số câu
hỏi về vị trí của người phụ nữ trong dòng họ, gia đình và trách nhiệm của họ với
chồng con.
18
1.1. Định kiến về vị trí của người phụ nữ trong dòng họ
Chúng tôi đưa ra câu hỏi “trong các cuộc hội họp, bàn bạc trong làng xã,
dòng họ ai là người tham dự ?” Kết quả thu được thể hiện ở bảng sau :
Bảng 2 : Thể hiện người có thể tham dự các cuộc họp trong làng xã
dòng họ.
Đối tượng tham dự Số phiếu Tỷ lệ%
Chồng
Vợ
Cả hai
77
21
55
51, 5%
12, 5%
35%
Tổng 153 100%

Nhìn vào bảng 2 ta thấy : Số người cho rằng : Trong gia đình, người
chồng là người sẽ tham dự các hội họp trong làng xã, dòng họ chiếm tỉ lệ cao
nhất với 51, 5%. Người vợ chỉ tham gia với 12, 5% và cả hai có thể tham gia là
35%

mang cái nhãn mác của một người yếu đuối, không quyết định được việc lớn.
Họ vẫn là đàn bà, con gái “ không mang họ của dòng họ…” và do vậy họ vẫn
phải chịu thiệt thòi hơn nam giới.
1.2. Định kiến về người phụ nữ trong gia đình của họ.
Đối với gia đình phần lớn là dòng họ, người phụ nữ đã phải chấp nhận
việc như nam giới. Còn về gia đình nhỏ của họ, vị trí của họ được nhìn như vào
đấy? Đi sâu vào lĩnh vực này, chúng tôi hiểu trước hết là nghĩa vụ của con của
họ và đưa ra câu hỏi : Theo ông (bà) “trong những ngày nghỉ tết, ai là người
tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên. ” Kết quả câu hỏi nay được thể hiện trong
bảng sau :
Bảng 3 : người tiến hàng làm lễ thờ cúng tổ tiên trong gia đình :
Người tiến hành Số phiếu Tỷ lệ %
Nam giới
Phụ nữ
Cả hai
94
34
21
64, 4%
23, 3%
14, 3%
20
Tổng 149 100%
Căn cứ vào bảng 3 ta thấy : Nam giới tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên
chiếm tỷ lệ cao nhất 64, 4%. Trong khi đó phụ nữ làm việc này chiếm 23, 4% và
cả hai làm việc này chiếm 14, 3%. Lý giải về việc nam giới tiến hành làm lễ thờ
cúng tổ tiên 64, 4%. Số người được hỏi cho rằng công việc này là của nam giới.
Bởi chính họ là trưởng trong gia đình, là người nối dõi dòng tộc, tổ tiên hoặc
phải đảm nhiệm phần thông báo với các bậc bề trên tình hình gia thất, mời chào
kính cáo tổ tiên. Còn phụ nữ chỉ là dân con, công việc của họ là ở nhà dưới.

thức của người dân về vai trò của người phụ nữ. Nhưng không thể phủ nhận
rằng định kiến với nữ giới vẫn còn tồn tại khá nặng nề trong xã hội ngầy nay. Vị
trí của họ vẫn còn mờ nhạt rất nhiều so với nam giới.
1.3. Đối với gia đình riêng
Đi sâu vào đời sống thường ngày, chúng tôi băn khoăn tự hỏi không biết
rằng phụ nữ ngày nay có còn chịu nhiều thiệt thòi của lề lối xưa hay không?
Làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã đặt ra câu hỏi : “Ông (bà) có phản đối quan
niệm cho rằng : phụ nữ làm các công việc trong gia đình (giặt quần áo, cơm
nước…) còn nam giới làm các công việc xã hội không?’’ Kết quả mà chúng tôi
thu được là 64, 5% số người được hỏi phản đối, 35, 5% không phản đối. Kết quả
này được thể hiện như sau :
Bảng 4 : Về quan niệm : phụ nữ là các công việc gia đình (cơm
nước, giặt quần áo…) để nam giới làm các công việc xã hội.
Ý kiến Số phiếu Tỷ lệ%
Phản đối
Đồng tình
97
54
64, 4%
35, 6%
Tổng 151 100%

Kết quả ở bảng trên cho thấy đa số người được hỏi phản đối quan niệm
người phụ nữ chỉ làm các công việc gia đình để nam giới làm các công việc xã
hội. Tỷ lệ này cao nhất chiếm 64, 4%. Họ không đồng ý với việc xã hội quan
22
niệm chỉ nên núp sau cánh cửa nhà bếp với những lo toan vụn vặt đời sống
thường nhật. Họ luôn mong muốn được xã hội nhìn nhận không chỉ chức năng
làm vợ, làm mẹ mà với công việc xã hội, họ luôn muốn được tham gia.
Theo truyền thống, người phụ nữ trong xã hội xưa chỉ cần biết sinh con,

Cả hai 38 27%
Tổng 185 100%

Nhìn vào bảng 5 ta thấy : Số người cho rằng chăm sóc con cái, dọn dẹp
nhà của là công việc của người vợ vẫn chiếm ưu thế với 73, 5% Tỷ lệ này cho
thấy trọng trách về gia đình vẫn còn khá nặng nề với người phụ nữ. Lý do mà họ
đưa ra rất đơn giản. Rằng người phụ nữ đảm đang hơn, cần mẫn hơn nam giới,
do đó công việc này phù hơp với phụ nữ hơn. họ cho rằng đó là thiên chức của
người phụ nữ. Hơn nữa, “vì nữ công gia tránh, người phụ nữ bao giờ cũng
khéo, đảm đang hơn chồng trong việc chăm sóc con cái. ” thậm chí có những
nam giới còn cho rằng người phụ nữ cần làm như thế để tạo điều kiện cho chồng
làm việc. Nhìn chung, ý kiến của họ không sai, song xét một cách khách quan
thì nó lại không hề đúng. Bởi vô hình trung, như thế, chính họ đang kìm hãm,
hạn chế sự phát triển tự nhiên của vợ mình. Thực tế cho thấy, không ít người có
năng lực sáng tạo song vì một lý do rất chủ quan ấy mà họ cam chịu ở nhà chăm
sóc chồng và con và để cho những hiểu biết ấy mai một dần. Đó là điều hết sức
lo ngại. Khi nhận thức của người dân còn hạn chế thì việc thực hiện quyền bình
đẳnh giới lấy gì làm cơ sở? Song có 27% ý kiến cho rằng việc chăm sóc con cái,
dọn dẹp nhà cửa là trách nhiệm của hai người. Bởi họ nghĩ rằng, khi xã hội đã
thực hiện bình đẳng nam nữ thì ngoài công việc gia đình, người vợ cũng còn có
công việc xã hội. Do đó, tuỳ theo điều kiện công tác của mỗi người chồng cũng
phải giúp đỡ vợ. Đặc biệt, trong số này có ý kiến nhấn mạnh đến sự cần thiết
phải có bàn tay chăm sóc của người cha ở mỗi đứa trẻ. Nó ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của bé. Đây là một ý kiến hết sức khoa học. Bởi một cá thể, ngay từ
khi sinh ra đã cần đến tình yêu thương quan tâm chăm sóc của người lớn, đặc
biệt là của cha mẹ. Thực tế xã hội cho thấy, hiện tượng trẻ thiếu tình thương của
cha hoặc mẹ, lớn lên sẽ bị ảnh hưởng về nhân cách. Nhiều đúa trẻ trở nên lì lợm,
nhút nhát hay thô bạo, ích kỷ…. cũng chỉ vì cái cách mà chúng được yêu thương
dạy dỗ từ thuở ấu thơ. vì thế, chúng ta lại càng thấy rõ tầm quan trọng của việc
có trách nhiệm đối với con cái và gia đình của các ông bố bà mẹ. Nhưng tỉ lệ

đang, tính mạnh mẽ quyết đoán của một người phụ nữ hiện đại, đang dần được
nhen nhóm trong xã hội. Những nét tính cách tích cực ấy khiến người phụ nữ
25

Trích đoạn Phụ nữ trong lĩnh vực lao động sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status