ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỊ YẾN
SỰ GẮN KẾT CỦA VỊ THÀNH NIÊN
NÔNG THÔN VỚI GIA ĐÌNH HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu tại xã Hà Bắc - huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài 10
4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài 12
6. Câu hỏi nghiên cứu 12
7. Giả thuyết nghiên cứu 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu 13
8.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 14
8.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 14
9. Khung lý thuyết 17
NỘI DUNG CHÍNH 18
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 18
1.1.1. Lý thuyết xã hội hóa 18
1.1.2. Lý thuyết phát triển 20
1.1.3. Lý thuyết tương tác biểu trưng 20
1.2. Khái niệm công cụ 22
1.2.1. Khái niệm “vị thành niên” 22
1.2.2. Khái niệm “Gia đình” 25
1.2.3. Khái niệm “Nông thôn” 26
1.2.4. Khái niệm “Sự gắn kết” 27
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 28
1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤC LỤC 92
3
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên Bảng biểu
Bảng 2.1
Việc không ăn cơm cùng với gia đình trong tuần phân theo
giới tính
39
Bảng 2.2
Ngƣời đƣợc chọn tâm sự khi vị thành niên gặp chuyện buồn
48
Bảng 2.3
Chọn ngƣời quan trọng nhất để tâm sự khi gặp chuyện buồn
phân theo giới tính
50
Bảng 2.4
Chọn ngƣời quan trọng nhất để tâm sự khi có chuyện buồn
phân theo trình độ học vấn của cha mẹ
51
Bảng 2.5
Chọn ngƣời quan trọng nhất để tâm sự khi có chuyện buồn
4
DANH MỤC BIỂU ĐỔ
STT
Tên Bảng
Biểu đồ 2.1
Vấn đề thƣờng đƣợc các thành viên trong gia đình
thảo luận trong bữa cơm
36
Biểu đồ 2.2
Số lần vị thành niên không ăn cơm cùng gia đình trong tuần
38
Biểu đồ 2.3
Số lần vị thành niên không ăn cơm cùng gia đình trong
tháng
40
Biểu đồ 2.4
Lý do vị thành niên không ăn cơm cùng gia đình trong
tuần
41
Biểu đồ 2.5
Hoạt động dành nhiều thời gian nhất trong dịp 2/9 vừa qua
40
Biểu đồ 2.6
Hoạt động dành nhiều thời gian nhất làm cùng ai trong 2/9
42
Biểu đồ 2.7
Biểu đồ 2.16
Vị thành niên đƣợc cha mẹ hỏi ý kiến về công việc gia
đình
68
5
Biểu đồ 2.17
Vị thành niên quyết định chọn Trƣờng học
69
Biểu đồ 2.18
Vị thành niên quyết định việc học thêm
71
Biểu đồ 2.19
Vị thành niên quyết định việc mua đồ dùng học tập
72
Biểu đồ 2.20
Vị thành niên tự quyết định việc học tại nhà
72
Biểu đồ 3.1
Mức độ cha mẹ biết bạn bè của vị thành niên
73
Biểu đồ 3.2
Bạn bè động viên, nhắc nhở vị thành niên những việc sau
75
Biểu đồ 3.3
Bạn bè rủ rê, ép buộc vị thành niên làm những việc sau 6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của vị thành niên luôn là vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu
ở Việt Nam cũng nhƣ ở nhiều nƣớc trên thế giới. Theo điều tra biến động
dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2010 vị thành niên và thanh niên Việt
Nam ở độ tuổi từ 14 – 24 là nhóm dân số đông đảo chiếm 18,3% trong tổng
số dân cả nƣớc là 86.747.807 ngƣời [26]. Vị thành niên và thanh niên là
nhóm dân cƣ sẽ quyết định tƣơng lai phát triển của một đất nƣớc. Mối quan
tâm đặc biệt đối với nhóm dân cƣ này còn xuất phát từ thực tế là trong
khoảng thời gian ngắn của cuộc đời, khoảng 10 năm từ 15 tuổi đến 25 tuổi,
vị thành niên và thanh niên phải có những lựa chọn quan trọng có ảnh hƣởng
lớn đến toàn bộ cuộc đời họ sau này nhƣ có tiếp tục học tập lên bậc cao hơn
hay thôi học, họ sẽ chọn nghề gì, sẽ quyết định sống và làm việc ở đâu, sẽ
quyết định cuộc sống riêng tƣ của mình nhƣ thế nào, sẽ có quyết định nhƣ
thế nào đối với các vấn đề nhƣ yêu đƣơng, tình dục, hôn nhân, mang thai
(nạo thai hay giữ thai), sinh con, v.v Đây là những lựa chọn hết sức quan
trọng trong đời một ngƣời, mà vị thành niên phải đƣa ra quyết định khi còn
thiếu kiến thức, kinh nghiệm thực tế. Trong bối cảnh đó, gia đình, nhà
trƣờng, các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng và rộng hơn là xã hội có ảnh hƣởng
to lớn, đặc biệt là gia đình.
Mặc dù vị thành niên trên toàn thế giới đều trải qua quá trình phát
triển với những đặc điểm chung, nhƣng ở mỗi quốc gia, giai đoạn này mang
một số đặc trƣng văn hoá nhất định. Tại Việt Nam, vị thành niên đang nhận
đƣợc nhiều sự quan tâm: vì độ tuổi này thƣờng gắn liền với sự học hỏi các
đoạn hiện nay.
Năm 2003 và 2009 Việt Nam tiến hành điều tra quốc gia về vị thành
niên và thanh niên (SAVY I và II). Các cuộc điều tra này là cột mốc đánh
dấu sự tiến bộ trong công tác phát triển thanh niên và vị thành niên tại Việt
8
Nam. SAVY là kết quả của quá trình và nỗ lực phối hợp giữa nhiều cơ quan
tổ chức và thanh thiếu niên nhằm xây dựng một cơ sở dữ liệu về thanh niên
và vị thành niên và góp phần vận động nâng cao sự hỗ trợ cho thanh niên.
Đây là kết quả của một quá trình đầu tƣ thích đáng và cộng tác chặt chẽ giữa
chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Y Tế, Tổng cục Thống kê với các tổ chức
Liên hợp quốc gồm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên
hợp quốc (UNICEF), đồng thời có sự hỗ trợ của các bộ ngành. Kết quả của
những cuộc điều tra SAVY là cơ sở dữ liệu toàn diện và khoa học để xây
dựng các chƣơng trình và chính sách cho vị thành niên và thanh niên Việt
Nam hiện nay.
Kết quả của cả SAVYI và SAVY II đều cho thấy đại đa số vị thành
niên và thanh niên Việt Nam có quan hệ chặt chẽ với gia đình. Kết quả
SAVY 2 cho thấy, 73% vị thành niên và thanh niên có “gắn kết gia đình
mạnh”. Điều này thể hiện ở chỗ có 85% đến 99% vị thành niên và thanh niên
đồng ý hoặc đồng ý một phần với 5 nhận định theo hƣớng tích cực về sự gắn
kết các thành viên trong gia đình, đó là “các thành viên trong gia đình giúp
đỡ nhau lúc khó khăn”, “các thành viên trong gia đình biết bạn thân của
những thành viên khác”, “mọi người trong gia đình đối xử công bằng với
nhau”, “trong gia đình, bạn thường được hỏi ý kiến và ý kiến của bạn được
tôn trọng”. Điều đó cho thấy gia đình vẫn là một giá trị vô cùng quan trọng
thể thiếu đƣợc trong cuộc sống gia đình hàng ngày. Chính những yếu tố này là
cơ sở cho sự tồn tại của gia đình với tƣ cách là thiết chế xã hội đặc biệt và có
nhiều chức năng.
Ngày nay khi mà thế giới đang thay đổi nhanh chóng , những quan
hệ xã hội cũng không ngừng biến đổi, những biến đổi trong quan hệ xã
hội đƣợc phản chiếu trong quan hệ gia đình. Gia đình nông thôn nơi có
70,4% dân số Việt Nam sinh sống – theo kết quả điều tra dân số và nhà ở
Việt Nam năm 2009 cũng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử đó[27].
Vậy mức độ gắn kết giữa các thành viên nhất là mức độ gắn kết của vị
10
thành niên nông thôn với gia đình hiện nay nhƣ thế nào? Những yếu tố
nào tác động đến mức độ gắn kết này? Những câu hỏi đặt ra ở trên là nội
dung của đề tài: Sự gắn kết của vị thành niên nông thôn với gia đình
hiện nay (Qua nghiên cứu tại xã Hà Bắc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu nhằm vận dụng những kiến thức của xã hội học nói
chung, xã hội học văn hóa và đặc biệt là xã hội học gia đình nói riêng vào
việc mô tả, giải thích về thực trạng sự gắn kết của vị thành niên nông thôn
với gia đình hiện nay. Dựa vào các kết quả nghiên cứu thu đƣợc, nghiên cứu
cũng mong góp phần làm giàu thêm tri thức xă hội học gia đình về các chủ
ðề vị thành niên và gia ðình.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở phân tích vấn đề nghiên cứu một cách khoa học, nghiên
cứu đƣa ra kiến nghị và giải pháp thiết thực cho địa phƣơng nói chung và các
Nghề nghiệp của cha mẹ.
Giới tính, tuổi của vị thành niên.
Các yếu tố khác: Cộng đồng, nhà trƣờng, Truyền thông đại chúng, Nhóm
bạn bè…
- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp cho các nghiên cứu về đề tài này
trong tƣơng lai và góp phần nhằm tăng cƣờng, củng cố sự gắn kết giữa các
thành viên trong gia đình.
12
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự gắn kết của vị thành niên nông thôn với gia đình hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Vị thành niên trong gia đình trên địa bàn khảo sát.
5.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.3.1. Phạm vi không gian
Địa bàn xã Hà Bắc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
5.3.2. Phạm vi thời gian
Cuộc nghiên cứu đƣợc tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng
10/2011 đến tháng 10/2012.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu thứ nhất: Thực trạng sự gắn kết của vị thành niên nông thôn với gia
đình hiện nay nhƣ thế nào?
- Câu hỏi hai: Những nhân tố nào ảnh hƣởng, tác động đến sự gắn kết của vị
thành niên trong gia đình hiện nay? Cụ thể là những đặc trƣng cá nhân, gia
đình, cộng đồng (Nhà trƣờng, nhóm bạn bè…) và xã hội (truyền thông đại
diễn giải và làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu.
14
8.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phƣơng pháp quan trọng giúp tác giả thu thập thông tin định
tính cho vấn đề nghiên cứu. Các cuộc phỏng vấn sâu nhằm bổ sung thêm
cho nghiên cứu định lƣợng và tìm hiểu sâu sắc vấn đề cần nghiên cứu “sự
gắn kết của vị thành niên nông thôn với gia đình hiện nay”. Luận văn
phỏng vấn 10 vị thành niên trong đó có 6 vị thành niên nữ và 4 vị thành
niên nam đồng thời có sự cân nhắc đặc điểm hộ gia đình vị thành niên trên
địa bàn nghiên cứu. Thời gian thực hiện phỏng vấn: Từ ngày 10/9/2012 đến
ngày 15/9/2012. Nội dung cuộc phỏng vấn xoay quanh chủ đề sự gắn kết
của vị thành niên với gia đình; tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự gắn
kết của vị thành niên với gia đình hiện nay. Để đảm bảo nguyên tắc khuyết
danh, trong luận văn này tác giả sử dụng những đặc điểm xã hội của vị
thành niên.
8.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Phiếu trƣng cầu ý kiến sẽ đƣợc sử dụng nhằm mục đích thu thập
những thông tin định lƣợng cho đề tài nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu đƣợc
lựa chọn theo phƣơng pháp ngẫu nhiên, có xem xét đến đặc điểm cá nhân
vị thành niên và đặc điểm hộ gia đình vị thành niên…
Chúng tôi đã tiến hành phát 230 phiếu trƣng cầu ý kiến. Kết quả chúng
tôi đã thu lại đƣợc 200 phiếu với cơ cấu mẫu nhƣ sau:
Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí giới tính vị thành niên
46
23
18 tuổi
58
29
Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí trình độ học vấn cha mẹ
Trình độ học vấn
Số ngƣời
Tỷ lệ %
Không đi học
6
3
Tiểu học
8
4
THCS
94
47
THPT
52
26
Trung cấp trở lên
40
20
Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tiêu chí nghề nghiệp của cha mẹ
Nghề nghiệp
Số ngƣời
Tỷ lệ %
- Phân tích số liệu
Luận văn sử dụng 200 bảng hỏi nhằm thu thập thông tin định lƣợng
làm cơ sở dữ liệu cho luận văn. Các thông tin đƣợc xử lý bằng chƣơng trình
SPSS 16.0 dựa trên các nội dung cần nghiên cứu từ mục tiêu đã đề ra. 17
9. Khung lý thuyết
- Bạn bè
- Thầy cô -
Nhà trƣờng
- Truyền
thông đại
chúng tại địa
phƣơng
Trong đời sống tinh thần và
tình cảm
Trong việc học tập và công
việc
Tham gia đóng góp ý kiến và
quyết định trong GĐ
Tham gia công việc trong gia
đình
Thời gian dành cho gia đình
Sự gắn kết của Vị thành niên trong gia đình
18
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
riêng… Mỗi cá nhân sẽ tiếp nhận những giá trị, cách cƣ xử… từ chính ông
bà, cha mẹ, anh chị… của mình. Đến khi cá nhân lập gia đình, họ lại tham
gia vào một quá trình xã hội hóa mới.
Trƣờng học và các tổ chức trƣớc tuổi đi học là nơi học sinh đƣợc cung
cấp những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, văn hóa làm nền tảng cho
cuộc sống sau này. Thời kỳ này cũng giúp cho cá nhân h
́
nh thành đƣợc nhiều
những tƣơng tác và các mối quan hệ xã hội.
Các nhóm thành viên nhƣ lớp học, tập thể lao động, nhóm bạn cùng sở
thích… là nhóm xã hội hóa quan trọng thứ hai sau gia đình. Các nhóm này
giúp cho các cá nhân thu nhập các kinh nghiệm xã hội theo cả con đƣờng
chính thống và phi chính thống.
Thông tin đại chúng là phƣơng tiện cung cấp thông tin chủ yếu cho các
cá nhân, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Những thông
tin từ các phƣơng tiện thông tin đại chúng sẽ giúp cho các cá nhân có những
định hƣớng và quan điểm đối với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàng
ngày.
Quá trình xã hội hóa góp một phần quan trọng trong quá trình nhân
cách vị thành niên, trong đó có sự gắn kết giữa vị thành niên với gia đình. Sự
gắn kết sẽ trở nên khác nhau khi vị thành niên đƣợc sinh ra từ những thành
phần gia đình khác nhau, có môi trƣờng học tập khác nhau, chơi với những
20
nhóm bạn khác nhau, tiếp xúc những phƣơng tiện truyền thông đại chúng
khác nhau và với mức độ khác nhau… Vì vậy, chúng tôi rất quan tâm đến
trƣng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tƣơng tác, qua lại
với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của ngƣời khác,
mà “đọc” và lý giải chúng. Chúng ta luôn tìm những ý nghĩa đƣợc gắn cho
mỗi hành động, cử chỉ…v.v. Đó chính là biểu tƣợng. Để có thể hiểu đƣợc ý
nghĩa hành động, cử chỉ của ngƣời khác (các biểu tƣợng) chúng ta cần phải
nhập vai (trò) của ngƣời đó, nói cách khác là, đặt mình vào vị trí của ngƣời
đó. Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của ngƣời tƣơng tác, chúng ta mới
có thể hiểu hết ý nghĩa những phát ngôn, những cử chỉ, những hành động
của họ. Đây cũng chính là quá trình quan trọng trong quá trình hình thành
nhân cách cá nhân [4].
Các biểu tƣợng có một đặc điểm chung là chúng mang những ý nghĩa
nhất định và tạo ra sự phản ứng giống nhau ở các cá nhân. Những ý nghĩa
của biểu tƣợng không trùng với ý nghĩa trực tiếp của những cái thể hiện
chúng.
Để hình thành các biểu tƣợng của tƣơng tác, trƣớc hết cá nhân phải ý
thức rõ ràng đƣợc về một hành động, cử chỉ, phát ngôn, chữ viết hay hình
ảnh nào đó…nhờ có sự ý thức này, sự vật, hiện tƣợng hoặc hành động, cử
chỉ…đó sẽ đƣợc tách biệt phân lập ra khỏi môi trƣờng xung quanh. Sau đó,
các cá nhân sẽ qui gán cho ý nghĩa xác định. Dần dần ý nghĩa đƣợc gán này
sẽ đƣợc đông đảo cá nhân khác thừa nhận. Khi đó, chúng ta có một biểu
tƣợng tƣơng tác. Do vậy, con ngƣời không tƣơng tác một cách tự động với
ngƣời khác, mà thay vào đó, họ chọn lựa cẩn thận trong một số những quan
điểm phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể.
Theo cách tiếp cận này, con ngƣời ta phát triển quan niệm về bản thân
thông qua cái nhìn, quan điểm của ngƣời khác về họ, thông qua sự tƣơng tác
22
23
duy xã hội học. Tuỳ thuộc vào vị trí tiếp cận, góc nhìn cũng nhƣ chức năng,
nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà vị thành niên lại đƣợc giải thích theo
một cách thức riêng.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Trẻ vị thành niên là ngƣời từ 10
đến 19 tuổi [18].
Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em
quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi". Trong khi đó,
Công ƣớc của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) đƣợc Việt Nam phê
chuẩn năm 1990 lại xác định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp
pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn (Điều 1).
Nhƣ vậy, nếu theo Công ƣớc của Liên Hợp quốc, thì nhóm tuổi vị thành niên
(theo quan niệm mà chúng ta vẫn thƣờng hiểu xƣa nay), hoàn toàn có thể
đƣợc xếp vào nhóm trẻ em.
Tuy có rất nhiều điều cần phải đƣợc tranh luận trong những công trình
nghiên cứu về vị thành niên, nhƣng trên thực tế, không có mấy tác giả nào
lại phủ nhận một điều là dù có mở rộng phạm vi tuổi vị thành niên đến mức
nào thì nhóm tuổi mang đầy đủ trong nó những đặc trưng đặc thù nhất của
vị thành niên vẫn là nhóm tuổi từ 13 đến 18 tuổi. Bởi trong lứa tuổi này, cái
đặc trưng của một vị thành niên là “một đứa trẻ trong một thể chất thanh
niên, hoặc một thanh niên có nhận thức và tình cảm của trẻ nhỏ” mới biểu
lộ đầy đủ nhất [11].
Đặc trƣng cơ bản của nhóm vị thành niên có thể đƣợc xác định bởi
những biến đổi thƣờng xuyên, liên tục của ba mặt cơ bản: mặt thể chất, mặt
tâm lý, tình cảm, nhận thức và sau đó là mặt hành vi, cụ thể là: