NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÒNG VĂN HÓA HUYỆN HẬU
LỘC
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tổng diện tích tự nhiên của Hậu Lộc 146,6km
2
, đứng thứ 19 về diện tích tự
nhiên trong 23 đơn vị huyện, thị của Thanh Hóa. Huyện Hậu Lộc diện tích tuy
nhỏ nhưng địa hình đa dạng, có đồi núi và thung lũng, có đồng chiêm trũng và
đồng cao vàm, có bãi bồi phù sa và cồn cát ven biển, có biển cả và hải đảo.
Hậu Lộc có đầy đủ 3 dạng địa hình, từ đồng bằng thuộc các xã Lộc Tân,
Thịnh Lộc, Xuân Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc đến vùng đồi núi thuộc các xã Triệu
Lộc, Tiến Lộc, Thành Lộc, Châu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc và ven biển là các
xã Hòa Lộc, Hải Lộc, Minh Lộc, Ngư Lộc, Hưng Lộc, Đa Lộc
Huyện có hệ thống sông đào khá dày đặc. Hàng năm cung cấp nước tưới
cho nông nghiệp và thoát lũ vào mùa mưa. Do vậy tình trạng hạn hán và ngập
lụt ít khi xảy ra.
Hậu Lộc có khí hậu đặc trưng của khí hậu đồng bằng Thanh Hóa. Hậu Lộc
nằm ở tiểu vùng khí hậu ven biển. Khí hậu Hậu Lộc có nét riêng biệt của một
tiểu vùng ven biển nhưng những nét khác biệt đó không có gì lớn lắm so với đặc
điểm chung của vùng đồng bằng Thanh Hóa. Hậu Lộc thuộc loại hình nhiệt đới
gió mùa: nóng, ẩm, có mùa đông lạnh ít mưa kèm theo sương giá, sương muối,
mùa hè nóng mưa nhiều, có gió tây khô nóng. Nhưng vì gần biển nên mùa đông
đỡ lạnh và ít sương giá, sương muối hơn, mùa hè đỡ nóng hơn lại có gió đất gió
biển góp phần điều hòa khí hậu. Tổng nhiệt độ năm là 8.600
0
C, nhiệt độ thấp
nhất tuyệt đối từ 5-6
0
C, nhiệt độ cao nhất chưa qua 41
0
cả 5 trường THPT và một trung tâm Giáo dục thường xuyên, mỗi xã đều có ít
nhất 1 trường Trung học cơ sở và 1 trường tiểu học cơ sở. Các trường đang
không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Các trường THPT là trường THPT
Hậu Lộc 1, trường THPT Hậu Lộc 2, trường THPT Hậu Lộc 3, trường THPT
Hậu Lộc 4, trường THPT Đinh Chương Dương.
Trước sự đổi mới và phát triển của huyện, Phòng văn hóa huyện đã cùng
hình thành và phát triển. Trước đây khi mới ra đời phòng văn hóa Thể thao và
Du lịch có tên là phòng Văn hóa thông tin, nhân viên của phòng chỉ có một
2
người đảm đương công việc. Khi đất nước thống nhất, xã hội phát triển và văn
hóa có sự hội nhập, Phòng Văn hóa thông tin không chỉ kiêm một mảng văn hóa
mà còn hướng tới phát triển mọi mặt, phòng Văn hóa thông tin được đổi tên
thành Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch được bố trí thêm nhân sự để đáp ứng
nhu cầu hội nhập và phát triển đất nước. Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch đã
có tới 5 nhân viên và đều có bằng cấp đại học, đã được biên chế. Hiện nay
phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch của huyện Hậu Lộc đang hoạt động rất tốt
góp phần cho huyện ủy ngày càng vững mạnh.
1.2. Chức năng hoạt động của cơ quan tiếp nhận
Địa điểm thực tập là phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch của huyện Hậu
Lộc. Phòng văn hóa đóng trong Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hóa. Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc dặt tại trung tâm huyện là thị trấn Hậu
Lộc. Nơi đây là trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của huyện. Ủy ban nhân dân
huyện cách quốc lộ 1A khoảng 5km, cách biển đông khoảng 8km. đây là nơi đầu
não của huyện trong mọi hoạt động.
Phòng Văn hóa huyện Hậu Lộc nằm ở khu nhà hai tầng, được đặt ở vị trí
nhìn thẳng ra mặt đường, rất dễ quan sát. Phòng Văn hóa gồm có hai văn phòng:
Văn phòng của trưởng phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch và một văn phòng
của nhân viên. Nhìn chung, văn phòng của trung tâm văn hóa rất rộng rãi,
thoáng mát với vị trí đặt ở tầng hai nên khá yên tĩnh để làm việc. trong phòng có
đầy đủ cơ sở vật chất, tài liệu để tạo mọi điều kiện cho việc nắm bắt tình hình
đề án, chương trình đã được phê duyệt; hướng dẫn, thông tin tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật về quản lý, hoạt động phát triển sự nghiệp ngành, lĩnh
vực; văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông; chủ trương xã hội hóa
hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, chống bạo lực trong gia đình.
- Giúp Ủy ban nhân dân huyện thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép
thuộc các lĩnh vực được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công,
phân cấp của Ủy ban nhân dân huyện.
4
- Giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động các hội và tổ chức phi
chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục
thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục
thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông đối với cán bộ chuyên trách thuộc Ủy
ban nhân dân các xã.
- Tổ chức ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu
trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ của phòng.
- Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình
thực hiện nhiệm vụ được giao với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, giám đốc
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giám đốc Sở Thông tin và truyền thông.
- Quản lý tổ chức, biên chế, thực hiện chế độ chính sách, chế độ đãi ngộ,
khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với
cán bộ, công chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của phòng về lĩnh
vực được giao theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân
huyện.
- Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và ủy
quyền, phân cấp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
- Cơ quan thường trực của các Ban chỉ đạo: Các ngày lễ lớn, phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đoàn kiểm tra liên ngành văn
hóa - xã hội huyện.
d. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân
huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật
1.3. Sơ đồ tổ chức và bố trí nhân sự
1.3.1. Sơ đồ tổ chức
6
1.3.2. Bố trí nhân sự
Phòng Văn hóa huyện là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện
Hậu Lộc. Chức năng nhiệm vụ chính của phòng là tham mưu quản lý nhà nước,
công tác văn hóa, thể thao, du lịch và thông tin truyền thông. Hiện nay phòng có
5 biên chế cán bộ: trưởng phòng là ông Hoàng Ngọc Hải, phụ trách chung, một
phó phòng là bà Nguyễn Thị Thắm phụ trách công tác du lịch, gia đình và thông
tin truyền thông; một chuyên viên văn hóa, một chuyên viên thể thao và một
chuyên viên về công nghệ thông tin. Tất cả đều có trình độ đại học.
Ban quản lý di tích và danh thắng huyện Hậu Lộc do ông phó chủ tịch
huyện Nguyễn Văn Luệ phụ trách khối Văn hóa làm trưởng ban, trưởng phòng
Văn hóa Thể thao và Du lịch làm phó ban, các thành viên của ban chỉ đạo bao
gồm đại diện Mặt trận tổ quốc, ban tuyên giáo, phòng tài chính, phòng công
thương, ban tôn giáo, phòng tài nguyên môi trường, công an huyện và các đồng
chí chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã thị trấn có di tích xếp hạng.
Hiện tại phòng Văn hóa do ông Hoàng Ngọc Hải làm trưởng phòng. Ông
Hoàng Ngọc Hải quản lý mọi vấn đề của phòng Văn hóa và phân công công tác
cho nhân viên trong phòng Văn hóa. Ông còn là phó ban quản lý di tích của
7
Trưởng phòng Văn hóa
Phó phòng Văn hóa
Chuyên viên
văn hóa
Chuyên viên
TDTT
Chuyên viên
2.1. Mô tả công việc được giao tìm hiểu “Lễ hội truyền thống của ngư
dân xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa”
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và xã hội xã Ngư Lộc, huyện Hậu
Lộc
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu những lễ hội truyền thống tiêu biểu của ngư dân xã
Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc
Nhiệm vụ 3: Tìm hiểu giá trị tâm linh của lễ hội truyền thống và đưa ra
những giải pháp về hiện trạng công tác bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống
2.2. Phương thức làm việc: Cá nhân
Tìm hiểu tư liệu qua sách báo, tạp chí và trực tiếp đi thực tập tại phòng Văn
hóa huyện trong thời gian từ 20/3/2013 - 20/5/2013
Trong quá trình thực tập, tôi đã tham gia vào các hoạt động của phòng Văn
hóa huyện Hậu Lộc và Ban văn hóa xã Ngư Lộc
2.3. Quá trình thực hiện
Trong thời gian thực tập từ ngày 20/3/2013 - 20/5/2013 tôi đã lập một kế
hoạch cụ thể như sau:
Tuần 1: Làm quen với cơ sở thực tập
Tuần 2,3: Tìm hiểu tư liệu về phòng Văn hóa
Tuần 4,5,6,7: Cùng với phòng Văn hóa tham gia các hoạt động văn hóa tại
địa phương như: Tham gia lễ công nhận di tích quốc gia chùa Cách tại xã Tuy
Lộc, đến thăm các di tích văn hóa tại huyện Hậu Lộc, tham gia kỷ niệm ngày
30/4. đặc biệt trực tiếp đi tìm hiểu về lễ hội truyền thống tại xã Ngư Lộc.
Tuần 8,9: Tổng kết quá trình thực tập tại cơ quan.
2.4. Kết quả đạt được
Ngay sau khi nhận được nhiệm vụ, tôi đã về xã Ngư Lộc để tìm hiểu lễ hội
truyền thống và đã thu thập được những kết quả sau:
2.4.1. Khái quát về xã Ngư Lộc
2.4.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Ngư Lộc
9
Ngư Lộc có vị trí ứng với khoảng 19,56 độ vĩ bắc, 105,58 độ kinh đông,
, thành phần chủ yếu lại là đất
cát (chiếm 30% diện tích). Loại đất này mịn, có màu vàng nhạt, dễ bở và có
10
mùn, độ ẩm không cao nên năng suất cây trồng thiếu ổn định. Qua quá trình phát
triển và tồn tại xã Ngư Lộc bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi thiên tai lũ lụt, làm
cho xã nhiều thời gian bị kiệt quệ về kinh tế, đất đai bị thiếu hụt. Vào thời
Nguyễn, xã phải mua đất hoặc vay đất các xã bên. Mặt khác, do là một bộ phận
của miền biển Hậu Lộc, trực thuộc tiểu vùng khí hậu vùng biển phía Bắc Thanh
Hóa nên khí hậu của miền biển Hậu Lộc biến đổi khá thất thường. Hàng năm xã
có tổng nhiệt trên 8600
0
C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 5-6
0
C. Đáng chú ý là
khoảng tháng 3-4 thường xuất hiện gió nồm đông, thỉnh thoảng có gió tây bắc
xuất hiện gây trở ngại cho mùa vụ Do sự biến đổi thất thường của khí hậu nên
việc sản xuất cây trồng ở Ngư Lộc hầu như rất ít phát triển, dân cư tập trung
vào việc khai thác phát triển kinh tế đánh bắt thủy hải sản.
2.4.1.2. Điều kiện xã hội
Xưa kia xã Ngư Lộc được gọi là làng Diêm Phố. Diêm Phố thuộc diện
“nhất xã, nhất thôn” ra đời từ rất sớm. theo địa chí Hậu Lộc (NXB khoa học xã
hội - 1990) viết : Thôn Diêm Phố có từ thế kỉ XII, nhân dân sinh sống trên mảnh
đất Cồn Bò cạnh cửa sông Linh Trường - cửa sông này là một nhánh của sông
Mã từ huyện Hoằng Hóa chảy ra Hậu Lộc còn có tên là Lạch Trường. Bờ Nam
có núi Trường và các đảo nhỏ : Hòn Bò, hòn Sung, hòn Nẹ tạo thành một cánh
cung án ngữ sóng gió mặt nam và mặt đông. Nhờ địa thế này mà con người từ
xưa đã tự lập về đây sinh sống bằng nghề đánh cá.
Khoảng thế kỉ I - II (TCN), thành lũy huyện Dư Phát thuộc quận Cửu Chân
đã xây dựng tại nơi đây. Vào những thế kỉ trước và sau công nguyên, cửa Lạch
đã từng là một thương cảng quan trọng trên con đường hàng hải đến các nước
từ xa xưa và nay đã mất, chỉ có nghề đánh cá là tồn tại và phát triển. Ngày nay
còn phát triển nghề thủ công, nghề chế biến hải sản, buôn bán hoặc một số nghề
dịch vụ
Với chiều dài hơn 8 thế kỷ lập làng cùng với nghề đánh cá, người dân Ngư
Lộc phải từng ngày đối mặt với phong ba bão táp giành giật bát cơm manh áo từ
biển cả. Đã không ít lần biển cả dâng nước cướp đi toàn bộ nhà cửa, ruộng
12
vườn, thuyền ghe và cả tính mạng con người. Nhưng người dân nơi đây vẫn kiên
trì bám làng, bám biển bởi họ là nhóm hậu duệ thành công nhất của người VIệt
cổ sống ven biển, trên con đường phát triển văn hóa Hoa Lộc. Với một công
thức đơn giản “lọc nước lấy cái”, người dân và tiên nhân của họ đã phải mày
mò, từ việc xe dây làm lưới, mài đá cuội làm chì cho đến hình thành nhóm Bè,
xóm Gõ để đánh bắt cá bằng những phương tiện thô sơ nhất. Trí khôn của con
người luôn được sinh ra để đối phó với sự tàn phá hoang dại của thiên nhiên và
con người đã chiến thắng. Trong lịch sử vạn chài, ít có nơi nào con người lại
quần tụ lập làng sớm như Diêm Phố. Nơi có mật độ dân số cao nhất và tập trung
nhiều dòng họ nhất.
Thiếu trang 15
Nhau của đời sống xã hội, con người: Sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ phong
tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò
chơi, sân khấu ), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán Không
có một sinh hoạt truyền thống nào của nước ta lại sánh được với lễ hội cổ
truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng, vừa nguyên hợp này.
Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng
đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và hơn cả
là cộng đồng quốc gia dân tộc. nói cách khác, không có lễ hội nào lại không
thuộc từ một dạng cộng đồng của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là
chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.
Ba đặc trưng trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức
thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các
cương, con cháu đề huề, gia đình hạnh phúc, phải có từ ba thế hệ chung sống trở
lên, trong gia đình phải có người biết sắm lễ vật.
Nếu gia đình nào được chọn thì đó là điều vinh dự và hết sức may mắn
cho gia đình. Họ tự hào và tin rằng gia đình họ từ nay sẽ được các vị thần linh
phù hộ cũng như được sự tôn trọng và yêu mến của dân làng. Cho nên, các
14
thành viên trong gia đình đều cố gắng đóng góp sức lực của mình vào công việc
mà được làng tin tưởng giao phó.
- Làm mũ ngũ sắc và đóng long châu
Công việc này cũng rất quan tọng người được chọn làm, mũ ngũ sắc và
đóng long châu phải là những người vừa có nghề lại vừa khéo tay, gia đình
không có tang, nếp sống lành mạnh. Tất cả tập trung tại một gia đình khá giả
được làng chọn cũng phải đảm bảo các tiêu chí nêu trên. Người chỉ đạo trong
công việc này là một người già có hiểu biết và giỏi tay nghề do làng chọn. Ở
đây, tất cả những người giam gia công việc của lễ hội làng đều nhất thiết phải là
người không có tang trong năm, gia đình và bản thân phải trong sạch.
Đóng long châu: Long châu là hình tượng thiêng liêng của lễ hội, cũng là
hình tượng của nghề nghiệp bởi vậy địa điểm đóng long châu phải được chọn
lựa một cách rất kỹ lưỡng. Theo thông tục hàng năm cứ vào khoảng mùng 2-4
tháng 2, ban tổ chức lễ hội bắt đầu rải ván đóng long châu. Trước đó phải nhờ
thầy xem ngày và chọn giờ tốt sau đó lên nghè Diêm Phố làm lễ xin với Thần,
Phật được tiến hành công việc đóng long châu.
Do tính chất quan trọng và thần bí, nên việc chọn các thợ đóng long châu
cũng phải được chọn lựa rất kỹ càng. Tổ thợ làm công việc này được chọn
khoảng 20 người yêu cầu phải thật sự giỏi nghề, trong sạch trong cuộc sống và
hơn hết gia đình không có tang. Để thực hiện việc đóng long châu, chủ tế phải
xin chân nhang từ khu nghè Diêm Phố xuống khu đóng long châu. Đúng giờ tốt
chủ tế vào cáo lễ với các thần thánh, tiếp đó người thợ cả vào phạt mộc, mở đầu
công việc đầu tiên của lễ hội Cầu Ngư. Sau khi công việc rải ván hoàn tất, công
việc đóng long châu bắt đầu. Thuyền đóng có chiều dài 6m, cao 1m, bụng
kiếm sống, rất gần với nghề đánh bắt của ngư dân làng Diêm Phố. Ngoài ra lễ
vật còn có hoa quả, trầu rượu và vàng hương.
- Làm vệ sinh làng xóm:
Cứ đến ngày 20 tháng 2 hàng năm, cả làng Diêm Phố dù công việc ra đình
bận đến đâu cũng đều gác lại. Từ sáng sớm mọi người từ già đến trẻ em đều tự
16
giác quét dọn nhà cửa, ngõ xóm, đường làng, các khuôn viên của nghè, đền
chùa, sạch sẽ, việc làm không cần có người nhắc nhở, tất cả đều tự giác.
- Dựng đàn lễ:
Mặc dù Diêm Phố có cả một khu nghè, chùa, đền, miếu thờ thần linh của
làng, nhưng làm việc lễ Cầu Ngư phải dựng làm lễ ngoài trời. Đó là một bãi giáp
biển, nhưng là trung tâm của làng, hướng làng lễ dựng theo lợi trong năm.
Người ta đóng giáo xung quanh, chiều cao giàn giáo khoảng 1 m, mặt đàn trên
giáo được lát bằng ván, chiếu rộng sàn là 10m, chiều dài là 12m.
Cơ cấu lễ hội
Lễ hội Cầu Ngư chia làm hai phần rõ rệt: phần lễ và phần hội, trong đó
phần lễ là phần đóng vai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa nhất.
Phần lễ:
Khi công tác chuẩn bị đã được hoàn tất. Sáng ngày 21 tháng 2 âm lịch,
đúng giờ hoàng đạo, vị chủ tế nổi ba hồi chín tiếng trống đai ở nghe Cả, sau đó
24 trống lớn nhỏ nổi lên sôi nổi. Ông chủ tế bắt đầu khăn mới cho vị thần linh
giáng làm thần linh chứng giám, sau đó rước vị thần linh về làm lễ. Đi đầu đám
rước là đôi múa lân vừa đi vừa dẹp đường cho đoàn rước đi được thuận tiện,
ngay sau đó là một người nam giới, phía sau là một người cầm chiêng, một cầm
trống bàn, tiếp đến là hai người vác hai long đao. Kế đến là phường bát âm mặc
áo dài lương quần trắng đội khăp xếp, chân đi giày, vừa đi vừa cử bản nhạc lưu
thủy. Sau phường bát âm là kiệu phật gồm 4 tri kiệu khiêng, tiếp đến là kiệu bát
cống rước Tử Vị Thánh Nương, gồm 8 nữ thanh tân quần trắng, áo dài màu, chít
khăn vành dây. Đi sau là kiệu Đức Ông, sau nữa là kiệu Đức Vua Thông Thủy 4
người khiêng, tất cả đầu đều chít khăn đỏ, mặc áo nỉ cộc tay màu đỏ, quần màu
thần thánh về buổi lễ.
Phần quan trọng nhất của lễ hội Cầu Ngư là tế lễ giao ôn bao gồm hai
phần chính:
Phần một: Là phần tế lễ ở đàn chính. Vị pháp sư tiến hành làm lễ mời các
vị trong họi đồng thần thánh: Hồng Liên Lão Mẫu, Ngọc Hoàng, Thành Hoàng
18
Bản Thổ, Đức Vua Thông Thủy, Tứ Vị Thánh Nương…đây là khu vực lễ tế
chính cho toàn bộ lễ hội, nên nội dung cầu khản mang tính bao quát những
mong muốn của dân làng: cầu phúc cầu tài, sống lâu giàu có, tránh được mọi tai
ương, đi biển thuận buồm xuôi gió, cá tôm đầy thuyền, buôn bán thuận lợi, thủ
công tinh thông, học hành tiến tới, văn tăng võ tiến, toàn dân phúc hậu đuề huề.
Phần hai: Là phần tế tại long châu. Tại đây việc tế lễ dành riêng cho
người đi biển. Hình tượng long châu là biểu tượng của ngư nghiệp. Toàn bộ
chiếc long châu là chiếc thuyền thờ những người đến dâng hương lễ vật vào
lòng thuyền. Đúng giờ lành, tại long châu ông pháp sư mặc áo dài, khăn thắt
ngang lưng màu đỏ, đứng trước mũi long châu, một tay múa ấn kiếm, một tay
cầm ba nén hương viết vào không gian và dõng dạc đọc lệnh khởi hành, sau đó
đọc lệnh trát. Sau khi đọc xong trát long châu quay mũi về hướng nam, thầy
cúng đứng trước long châu, một tay cằm long đao sáng, một tay cầm bó đóm
dâng cao và đọc hịch Bảo Ôn, lời hịch vừa dứt 20 trai kiệu khiêng long châu đi
theo pháp sư về phía nam, phía sau là dân làng cùng đi tiễn dọc theo bờ biển.
Đến cuối làng thì tiến hán « hóa » long châu.
Sau đó rước các kiệu trở về nghè và làm lễ tất (kết thúc).
Phần hội
Bên cạnh phần lễ của lễ hội Cầu Ngư, phần hội cũng được xem là phần
quan trọng không thể thiếu. Việc tiến hành một cách song song giữa phần lễ và
phần hội trong lễ hội Cầu Ngư được coi là thích hợp và cần thiết, bởi lẽ bên
cạnh phần lễ được tổ chức một cách trang nghiêm, cẩn trọng với những nghi
thức tâm linh, thì phần hội cũng được tổ chức khá chặt chẽ và chu đáo, với các
trò chơi, đua thuyền, hát đối đáp… làm cho bầu không khí lễ hội thêm vui tươi,
cuộc, bắt buộc tuân theo trình tự. Một cuộc hát nhất thiết phải trải qua ba chặng
và chín lời, mỗi chặng gồm ba lời.
Chặng một: Đây là chặng mở đầu màn chào hỏi, sau đó dần đi vào câu
chuyện tâm tình riêng tư. Chặng này gồm ba lời: Hát dạo, hát mừng và hát tham
dò.
20
Hát dạo: Là những lời hát ướm thử, có lúc như bâng quơ:
Nữ:
Bữa ni biển lặng đêm thanh
Lòng vàng muốn mở vài canh chuyện trò
Ai người đáng bậc tài hoa
Chuông vàng dóng tiếng cho ta cất lời
Nam:
Đêm nay gặp buổi êm trời
Nhưng còn lạ cảnh lạ người lắm thay
Lần đầu anh được đến đây
Anh em cách trở, mẹ thầy xa xôi.
Nữ:
Tưởng đôi chim nhạn bay về
Ai ơi sao lại cam bề lẻ loi ?
Hát mừng: Hát những lời mừng đến làng xóm họ hàng của nhau.
Nam:
Tới đây viếng cảnh thăm hoa
Trước mừng các cố, sau là mừng dân
Sau nữa mừng cả trai tuần
Mừng cho nam nữ vui xuân hội này
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội, biết ngày nào quên
Nữ:
Đêm khuya giấc ngủ mơ màng
Em như rau má nằm kề giếng khơi
Thà lặn xuống biển cho rồi
Còn hơn cách biệt mỗi người một nơi.
Hát đố:
Nam:
Mình tròn lưng lại cong cong
Dây tơ vấn vít con ong nữa vời
Chơi thì tìm chốn mà chơi
Bắt con long thổ, ghẹo người thủy chung.
Nữ:
Cả ngày se sợi chắp gai
Em không hiểu cả sông dài xa xôi
Anh về uốn lưỡi tìm mồi
Kéo cước cho thẳng, câu đôi cá chỉ vàng
Cái cần câu đúng không nào ?
Hát xe kết: Là hát khi hai bên đã có tình cảm với nhau.
Nữ:
Có lòng xin giả ơn lòng
Xa xôi cách lế đèo bồng nên chăng ?
23
Em khi thắm nhạt vàng phai
Sắc tàn nhị úa, anh bỏ hoài thân em.
Nam:
Anh thề có bóng trăng đầy
Núi tường có lở, lòng này vẫn nguyên
Gió đưa thuyền bẩy xa với
Gió với trăng là bạn, nước với trời mênh mang.
Chặng ba: Cũng gồm ba lời là hát thề, hạt dặn và hát tiễn.
Hát thề:
Nam:
Rồi ra em vợ anh chồng mới nên.
Hát diễn: Đó là lời hát tiễn biệt chia tay nhau
Nữ:
Anh về em những âu sầu
Còn như thả lưới bể sâu khôn dò
Nam:
Bởi lòng đã trót đã mang
Ngõ nghe nhìn xuống thêng thang Lạch Trường
Ra về lòng những vấn vương
25