Tìm hiểu giá trị dân gian của dân tộc thổ ở nghệ an - Pdf 48

MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi tộc người đều
mang trong mình những giá trị và sắc thái văn hoá riêng,
nhưng tất cả đều hội tụ trong một nền văn hóa Việt Nam,
làm cho bức tranh văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng.
Chính điều đó, tạo nên vẻ đẹp và sức mạnh cộng đồng các
dân tộc Việt Nam. Các dân tộc đều đoàn kết một lòng, vượt
qua mọi khó khăn trong từng bước đường lịch sử, cùng nhau
đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì thế, để
có cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh tổng thể văn hóa Việt
Nam đa dạng, phong phú ấy thì việc tìm hiểu về các dân tộc
thiểu số Việt Nam nói chung và dân tộc Thổ nói riêng là điều
hết sức cần thiết.
Dân tộc Thổ là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt
Nam, sống xen kẽ cùng các dân tộc Kinh, Thái, Khơ mú,
Hmông, Ơ đu trong cộng đồng các dân tộc ở khu vực miền
núi tây bắc Nghệ An với dân số khoảng hơn 74.458 người
(theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009), sống
tập trung chủ yếu tại các huyện Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân
Kỳ, Con Cuông và Tương Dương. Trong quá trình dựng nước
và giữ nước, người Thổ đã sáng tạo ra một nền văn hóa
truyền thống với nhiều nét độc đáo, đặc trưng riêng biệt, góp
phần làm phong phú, đa dạng thêm cho nền văn hóa.
Mục đích là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa,
trong quá trình học tôi đã được trang bị những kiến thức
chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu
số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma
chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội.
Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có một nét
văn hóa đặc trưng riêng giúp tôi hiểu được về đời sống vật
chất cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc

cư dân trong vùng núi Nghệ An, địa bàn này có vị trí thuận
lợi đối với điều kiện sinh tồn và phát triển của môi trường
sống con người.
1.1.2. Về dân số
Nghệ An có 2.858.748 người. Trong đó số người trong
độ tuổi lao động toàn tỉnh là 1.503.385 người, chiếm 52,58%
dân số toàn tỉnh.
2


Toàn tỉnh có khoảng 20 dân tộc thiểu số, đông nhất là
dân tộc Kinh có 2.477.332 người, chiếm 86,65%. Các dân tộc
thiểu số khác như dân tộc Thái có 269.491 người, chiếm
9,42%; dân tộc Thổ có 56.345 người, chiếm 1,97%; dân tộc
Khơ Mú có 27.014 người, chiếm 0,94%; dân tộc Mông có
20.045 người, chiếm 0,91%; dân tộc Mường có 532 người,
chiếm 0,018%; các dân tộc khác chiếm 0,092%.
1.1.3. Về đặc điểm kinh tế -xã hội
Hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung
phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa Lò gắn với Khu kinh tế
Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ. Phấn
đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như
các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải
sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công
mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì,
nhựa, giấy...Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Nghệ An xếp ở
vị trí thứ 28/63 tỉnh thành. GDP 2014 đạt gần 8% Thu nhập
bình quân đầu người 2014 đạt 29 triệu đồng/ người /năm.
Tỉnh Từ sự khác nhau khá xa về phương thức canh tác

- mú, một bộ phận khá lớn đồng bào Hmông và một số nhóm
địa phương người Thổ. Tuy nhiên sống giữa một vùng thiên
nhiên đa dạng, ngay cả đồng bào Thái, Kinh, “kinh tế tự
nhiên” vẫn còn có vị trí đáng kể trong đời sống kinh tê.
Trước Cách mạng tháng Tám, quan hệ xã hội các dân
tộc thiểu số ở nước ta nói chung một mặt bị chi phối bởi
quan hệ thực dân nửa phong kiến, mặt khác do hoàn cảnh
cụ thể của từng vùng, từng nhóm dân tộc theo quan hệ nội
tại phụ thuộc vào trình độ phát triển của họ. Xã hội Thái
bước vào xã hội có giai cấp. Sở hữu đất đai, sản vật núi rừng
đã được quy định thành lệ mường luật bản khắt khe. Chế độ
đẳng cấp được xác lập. Vai trò của dòng họ không chỉ là yếu
tố huyết thống mà còn mang tính giai cấp và đẳng cấp.
Các nhóm địa phương người Thổ cho dù nguồn gốc khác
nhau, sống ở những vùng đất cách nhau rất xa song cách
thức sản xuất, phân phối sản phẩm và tổ chức xã hội về cơ
bản vẫn là một nền tương đồng. Gốc Việt 1.2. Khái quát về dân tộc Thổ
1.2.1. Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư
a. Dân số
Người Thổ có khoảng 69.000 người, chủ yếu sinh sống tại miền tây
tỉnh Nghệ An (80 %) và tỉnh Thanh Hóa (13 %).
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thổ ở Việt Nam
có dân số 74.458 người, có mặt tại 60 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người
4


Thổ cư trú tập trung tại tỉnh Nghệ An (59.579 người, chiếm 80,0% tổng số
người Thổ tại Việt Nam), Thanh Hóa (9.652 người, chiếm 13,0% tổng số
người Thổ tại Việt Nam), Lâm Đồng (966 người), Đồng Nai (657 người),
Đắk Lắk (541 người), Bình Dương (510 người), thành phố Hồ Chí Minh

5


Với chất liệu sợi bông, nhuộm chàm, có sọc viền ngang chân váy, khi
mặc những đường sọc của váy tạo thành các đường tròn song song quanh
trục thân.
Đi cùng chiếc váy áo là chiếc dây lưng, là một miếng vải rộng chừng
30 cm được xếp đôi lại, thường được nhuộm màu xanh là chính. Khi thắt
lưng, thường thắt gút về một bên hông rồi gắt hai múi lên cho gọn, không
thả dải xuống như người Thái.
Phụ nữ Thổ thường dùng chiếc khăn vuông khổ rộng khoảng 80 cm,
gấp lại để đội đầu. Loại thứ nhất là khăn vải bình thường, đủ màu, thường
hay được sử dụng khi đi làm việc để lau mồ hôi và trùm lên đầu che nắng là
chính.
Loại thứ hai là khăn dùng trong các ngày lễ, tết... Loại khăn này có
màu trắng. Ngày nay chiếc khăn đội đầu của người Thổ khá đơn giản, còn
trước đây cách cuốn khăn cũng khá phức tạp: Đầu tiên người nữ tộc Thổ xếp
khăn lại sao cho có hình tam giác, sau đó để cái dải tam giác ấy ở trước trán,
kéo hai múi khăn quanh đầu ra phía sau và thắt gút chặt lại ở sau gáy, xong
thì hất ngược cái phần tam giác ở trước mặt lên qua đầu, kéo ra phía sau,
trùm kín toàn bộ tóc, thành ra trông chiếc khăn giống như một chiếc mũ
trắng đội trên đầu.
Cùng với trang phục của phụ nữ, đàn ông người Thổ ngày trước
thường mặc quần áo theo kiểu bộ quần áo bà ba ngày nay, quần có đũng
rộng, thường là màu nâu.
Còn ngày nay, chỉ những lúc có việc vui, buồn trong nhà, trong làng
hoặc các dịp lễ, tết, còn lại đều mặc như người Kinh.


Ẩm thực của dân tộc Thổ

om,…
b. Đặc điểm văn hóa tinh thần


Ngôn ngữ chữ viết

Do quá trình cấu kết dân tộc diễn ra với nhiều giai
đoạn khác nhau nên thành phần cấu thành của dân tộc Thổ
rất đa dạng, vì vậy không tồn tại 1 thứ tiếng Thổ đơn nhất,
tuy nhiên tất cả các nhóm Thổ đều có ngôn ngữ gốc thuộc
ngữ chi Việt trong ngữ hệ Nam Á . Theo nhà ngôn ngữ học
Nguyễn Hữu Hoành (2009) thì về ngôn ngữ các nhóm Thổ có
thể được phân loại như sau:
Nhóm Tày Poọng, Đan Lai (Ly Hà) được cho là nhóm
bản địa tại miền Tây Nghệ An. Sự giống nhau về từ vựng của
tiếng Đan Lai và tiếng Tày Poọng lên đến 85% do vậy chúng
có thể được coi là các phương ngôn của cùng 1 ngôn ngữ.
Tuy nhiên tiếng Tày Poọng hiện nay đang dần mai một, người
Tày Poọng hiện nay đang dần chuyển sang nói tiếng Thái và
tiếng Việt.
Nhóm Cuối tạo thành 1 ngôn ngữ riêng biệt với hai
phương ngữ chính là Cuối Chăm (Tân Hợp) và Cuối Đếp
(Quang Tiến và Quang Phong). Tiếng Cuối cùng với tiếng Tày
Poọng-Đan Lai, Tày Tum và Tày Hung bên Lào tạo thành một
7


nhánh riêng trong ngữ chi Việt song song với các ngành ViệtMường và Chứt. Tuy vậy, sự giống nhau về từ vựng của tiếng
Cuối và Tày Poọng chỉ ở mức 66% thấp hơn cả sự tương đồng
của tiếng Việt và các ngôn ngữ Mường

bàn thờ cúng tổ tiên. Nhiều làng có đền thờ các vị Thần.

8


Quan niệm của đồng bào về cõi âm rất phưc tạp. Có
đủ loại thần ma…trong tín ngưỡng của đồng bào. Họ cho
rằng thần trên trời, ma dưới đất, có những người lùn ở dưới
mặt đất, có “tô khụ” tức là con thuồng luồng ở dưới nước. Có
làng thờ hàng chục vị thần (14-15 vị), bao gồm nhân thần
thiên thần và cả những vật vô tri…Đó là các vị thần Đông,
thần Tây, thần Đức Ông, Thủy Tề…có nơi còn thờ cả thần
Cao, Sơn, thần Cả, thần Đẹt, thần Sơn Dương…
Người Thổ cúng ma bằng tiếng Cuối do các thầy cúng
tiến hành. Khi cúng tổ tiên, họ cúng bằng tiếng phiên âm
Hán - Việt. Người chết được gọi hồn vía để nhập liệm làm cỗ.
c. Đặc điểm Văn hóa Xã hội
Quan hệ xã hội: Đơn vị hành chính nhỏ nhất trước kia
của người Thổ là làng với một già làng đứng đầu. Già làng
được bầu lại hàng năm và có nhiệm vụ đốc thúc công việc
sưu dịch, thuế khóa, giải quyết các vụ việc xảy ra trong
phạm vi của làng.
Già làng là một chức sắc trong cộng đồng dân tộc Thổ,
trước đây được xem là lãnh tụ tinh thần. Già làng thường là
một người già tuổi, nhưng không nhất thiết quy định như
vậy, vì tiêu chuẩn là một người có uy tín cao trong làng.
Vai trò trong làng:
Được dân làng bầu vào chức vụ này là do có uy tín với
cộng đồng và là người đứng ra chịu trách nhiệm xử lý theo
luật tục các vấn đề, tranh chấp phát sinh trong cuộc sống.

Từ các đêm “ngủ mái”, trai gái đồng ý lấy nhau thì
từng bước thực hiện các nghi thức bắt buộc như nhờ người
làm mối (ông pìn), thăm hỏi nhau thường xuyên (1 tháng 1
lần), dạm hỏi và xin cưới. Tục cưới xin ở người Thổ trước đây
khá tốn kém và phiền phức trong khi đời sống còn ở mức rất
thấp.
Vì đời sống vật chất không cao nên giữa các thành
viên, trong nội bộ bản với nhau mối quan hệ là tương thân,
tương ái, đoàn kết. Ngày làm nhà mới, ngày gieo hạt, cả bản
giúp đỡ nhau tận tình.
Tiểu kết
Ở phần 1, tôi đã trình bày hai vấn đề lớn đó là khái quát về tỉnh Nghệ
An và khái quát về dân tộc Thổ trong đó có một số vấn đề nhỏ cụ thể như:
diện tích, dân số, đặc điểm kinh tế văn hóa của Nghệ An, đặc điểm văn hóa
vật chất của dân tộc Thổ, đặc điểm văn hóa tinh thần của dân tộc Thổ,…
Những nội dung trong phần 1 là cơ sở lý luận để tôi triển khai phần 2 tốt
hơn.
10


2. Kết quả nghiên cứu về những giá trị văn nghệ dân
gian của dân tộc Thổ
2.1. Một số loại hình văn nghệ dân gian
2.1.1. Sự tích
 Sự tích chim lửa
Chuyện kể rằng, ở một nhà nọ có hai chị em gái sinh
đôi, nom giống nhau như hai giọt nước. Hai chị em đi đâu,
làm gì cũng gắn với nhau như hình với bóng. Họ lớn lên, đến
tuổi cập kê thì cha mẹ bắt đầu đi tìm đến những đám tốt để
kiếm chồng cho hai cô con gái. Song cả hai chị em đều

chị em lại càng thêm quyết tâm ở vậy không chịu lấy chồng,
cho dù ở trong bản, trong mường có rất nhiều chàng trai vừa
tuấn tú vừa khoẻ mạnh tới xin dạm hỏi, cưới hai chị em về
làm vợ.
Bây giờ xin được kể về ải chạng nọi. Chàng vốn là con
của một gia đình giàu có sống ở trên mường bun, được chiều
chuộng từ tấm bé nên suốt ngày chỉ biết rong chơi nơi này,
chỗ nọ. Vì tham cần có người làm việc nhà nên cha mẹ ải
chạng nọi cưới cho chàng liền hai người vợ. Vợ cả tên Nàng
Khăm (Nạng khặm), còn vợ lẽ tên là Nàng Ngân (Nạng
ngựn). Bởi phải làm việc ruộng nương vất vả cả ngày, lúc về
nhà chồng lại mải chơi chẳng thèm đoái hoài gì tới, cho nên
hai người vợ mới giận, và bàn nhau cùng đầu thai xuống
mường lúm làm người để cho chồng khỏi tìm thấy. Nàng
Khăm bảo Nàng Ngân hãy đầu thai xuống trước, còn mình thì
sẽ đầu thai xuống sau. Nhưng Nàng Ngân không chịu, bảo
rằng chị là chị nên em phải nhường cho chị đầu thai xuống
trước. Sau cùng, cả Nàng Ngân và Nàng Khăm cùng dắt tay
nhau đầu thai xuống mường lúm cùng một lúc. Và hai chị em
gái sinh đôi ở nhà nọ chính là Nàng Ngân và Nàng Khăm đầu
thai xuống. Còn ải chạng nọi cho đến khi cả hai người vợ bỏ
đi thì mới thấy vô cùng hối hận. Và vì nhớ thương hai người
vợ nên chàng mới hoá thành một con chim bay xuống
mường lúm để tìm hai người. Chẳng may lúc xuống mường
12


lúm lại gặp nạn lao phải vào bếp lửa. Chàng vô tình được hai
người vợ cũ của mình cứu thoát chết mà không biết.
Ải chạng nọi, sau khi được hai chị em sinh đôi cứu

lấy cùng chung một chồng được!

13


Nàng Ngân đem chuyện mẹ nói kể cho Nàng Khăm
nghe. Hôm sau, hai chị em nàng không đi làm nương nữa mà
ở nhà để đợi ải chạng nọi tới chơi rồi rình xem ngón tay cái
của chàng có đúng là đỏ tựa hòn than cháy giống như mẹ đã
nói không.
Ải chạng nọi lại đến chơi. Hai chị em cùng nấp ở trong
buồng liếc mắt ra, để ý nhìn trộm đến ngón tay cái của
chàng. Nàng Khăm nhìn thì thấy nó vẫn bình thường như
ngón tay người khác, còn Nàng Ngân thì lại nhìn thấy nó
đúng là đỏ như than đang cháy. Vậy là hai chị em quyết định
phải thử ải chạng nọi.
Lần này ải chạng nọi đến chơi, hai chị em vồn vã ra
đón tiếp và cùng nói chuyện. Ải chạng nọi phát hiện ra cách
cư xử của họ rất giống với hai người vợ cũ của mình nên thổ
lộ hết mọi chuyện không hề giấu diếm. Chàng kể rằng:
- Trước đây vì luôn được chiều chuộng nên tôi chỉ biết
ham chơi, mà không biết thương cha mẹ, thương vợ. Bởi vậy,
hai người vợ của tôi mới giận dỗi bỏ trốn đi xuống trần gian.
Tôi đã hoá thành chim đi tìm mãi mà không gặp. Thế rồi có
một lần, tôi gặp phải nạn lao vào trong bếp lửa, may được
hai người cứu nên mới không chết, nhưng tai nạn đó đã
khiến cho ngón tay cái của tôi bây giờ lúc nào cũng đỏ như
cục than cháy.
Lúc này, hai chị em biết chắc chắn ải chạng nọi đây
đúng là con chim đã được Nàng Ngân cứu ra khỏi lửa. Khi ải

bộ lông đỏ rực như lửa cháy. Chúng thường đi thành một
nhóm ba con. Một con bay phía trước, thường đậu tách ra,
hai con bay phía sau và bao giờ cũng đậu cùng nhau. Người
ta gọi chúng là những con chim lửa.
2.1.2. Truyện cổ
Truyện cổ đóng vai trò quan trọng trong kho tàng văn
học dân gian của dân tộc Thổ gồm các truyện thần thoại, cổ
tích ...phản ánh quan niệm cuả người Thổ về nguồn gốc vũ
trụ và các hiện tượng tự nhiên, về nguồn gốc của loài
người, , nguồn gốc của người Thổ.
 Truyện cổ tích: Sự tích hoa Tầm Xuân
Ngày xưa, có hai em nhỏ mồ côi cha mẹ. Đứa lớn là
trai và đứa bé là gái. Tuy còn nhỏ, hai em đã biết yêu
thương, đùm bọc lẫn nhau. Ngày ngày cậu anh trai khi thì đi
xin về nuôi em, khi thì vào rừng hái nấm, kiếm củi đem ra
chợ bán hoặc đem đổi lấy gạo để nuôi em. Còn cô em là một
cô bé tuyệt vời, rất hoạt bát, vui vẻ và tốt bụng. Em nghe
được tiếng chim và biết cùng chim trò chuyện. Từ sáng sớm,
chim muông lũ lượt bay đến nhà và cùng em trò chuyện, ca
hát.
Tiếng hát của em làm say mê cả con quỷ độc ác trong
một khu rừng gần đó. Nó bèn giả làm bà già tốt bụng, ra
15


khỏi rừng tìm đến nhà em bé. Nó cho em bé trái cây, cho lũ
chim hạt thóc. Nó còn khôn khéo bày trò vui chơi cùng lũ
chim và cô gái. Vốn rất ngây thơ, em bé không đề phòng,
thừa cơ con quỷ chộp lấy em và lũ chim mang tận vào rừng
sâu. Nó nhốt em bé với lũ chim trong một chiếc lồng lớn, rồi

đông người. Thường là các bà, các mẹ, các chị, các em gái
16


hát để ru cháu, ru con hoặc ru cho em bé ngủ, theo thang
âm “đô-rê-fa-sol-la”. Điệu “đu đu điềng điềng” gần giống với
những bài hát ru em bé ngủ của người Thái, nhưng khi hát,
giọng điệu luyến láy ít hơn, độ ngân nga ngắn hơn và có pha
thêm các làn điệu khác rất tự nhiên. Có thể nói “đu đu, điềng
điềng” là thể dân ca ở giữa ca dao và đồng dao. Tuy nhiên,
nếu chú ý nghe một cách kín đáo, không lộ diện và lộ ý định
sưu tầm hoặc tìm hiểu, ta sẽ thấy người hát “đu đu điềng
điềng” có rất nhiều sáng tạo từ chất giọng cho đến sự pha
tạp trong cách vận dụng thêm các làn điệu dân ca khác vào
làn điệu “đu đu điềng điềng” để hát.
 Tập tình tập tang:
Điệu hát này chủ yếu dành cho các nam nữ thanh
niên là chính. Họ thường hát một mình trên nương rãy (giống
như “xuối” của người Thái) để cho khuây khoả; hoặc hát cho
vui cửa vui nhà vào những dịp nhàn rỗi được nghỉ ngơi ở nhà,
những ngày trời mưa, giá rét, không đi làm việc được. Lúc
đồng bào hát điệu “tập tình tập tang” một mình ở nhà thì
nghe gần giống như điệu “òn” của người Thái (Tày Thanh).
Thang âm làn điệu dân ca này chủ yếu cũng là “đồ-rê-fa-solla”. “Tập tình tập tang” còn được sử dụng như một làn điệu
ru em bé ngủ. Đây là cách sáng tạo của người hát, tuỳ vào
từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ như bài “ru ún” (ru em) có
những câu(Nguyên văn tiếng Thổ):
Tập tình tập tang
ún téo tang cho chí bang khiêng
ún tập biệng cho chí ngâm bưa

Khác với hai làn điệu đã kể trên, “dạ ời” được sử dụng để hát
giao duyên, có tính chất như “hát ghẹo”, hát đối đáp của
người Kinh ở miền xuôi, với nhiều người cùng hát và chia phe
để hát. “Dạ ời” được hát vào những dịp như: Đêm trăng
sáng, trai gái trong làng tụ tập để gặp gỡ, giao duyên, hát
đối cho vui; hát trong các dịp lễ hội, đám cưới, mừng nhà
mới (ở những trường hợp này thường có kèn, chiêng trống
phụ hoạ, đệm theo rất vui); hát trong các dịp đi chợ phiên,
hoặc khi có trai gái từ nơi khác đến làng nghỉ trọ lại qua
đêm… nghĩa là chỉ hát vào những dịp vui vẻ, chủ yếu là trai
gái, nhưng các ông, các bà, các anh chị lớn tuổi cũng nhiều
khi tham gia hát “dạ ời” để góp vui, và thường thì họ hát chủ
đạo, bởi họ có nhiều kinh nghiệm hơn và có khi người nhiều
18


tuổi lại có chất giọng hay hơn. Hát “dạ ời” (có nơi gọi là “dạo
ời”, nhưng cách hát thì như nhau) là cách hát sử dụng giai
điệu mượt mà, thướt tha, luyến láy bằng chính giọng hát
được “tôi luyện” qua nhiều năm, hay là tự “thiên phú” của
từng người cụ thể, tạo nên nét lôi cuốn, sự chú ý và sự đồng
cảm, mến phục, dẫn tới có cảm tình rồi yêu nhau thực sự!
Cách hát dạ ời có thể tóm tắt như sau: Trai gái thường chia
đôi hai bên nam - nữ để hát. Người có chất giọng hay nhất
thường được “bên chủ” phân công hát trước. Câu hát luôn
theo thể thơ lục bát, ở dạng chào hỏi. Ví dụ: Mở đầu hát “dạ
ời” chào hỏi khi có khách xa là con gái hoặc con trai đến
làng:
Bên chủ hát:
Chào eng, chào chí tàng xa

sẽ mất đi vĩnh viễn.
 Ta ta tún:
Thực chất của “ta ta tún” là điệu hát dành cho mẹ
nựng con, bà nựng cháu, chị nựng em bé. “Ta ta tún” thường
dựa vào những lời ca dí dỏm, ngộ nghĩnh để tạo nên những
phút vui đùa với em bé trước khi nó ngủ. Nhạc điệu của “ta
ta tún” đơn giản, không có giới hạn về thời gian, bài hát
ngắn hay dài là tuỳ thuộc vào em bé: Em bé chưa ngủ, hát
tiếp; em bé ngủ rồi thì dừng lại. Người hát “ta ta tún” thường
phải chú ý đến nhịp điệu, theo kiểu hát nói, dựa vào lời ca
bốn chữ có vần (thường là chữ thứ tư của câu đầu vần với
chữ thứ hai của câu tiếp theo… cứ thế, tiếp nối mãi), nhấn
giọng, vào nhịp mạnh (tuỳ theo tính cách của mỗi người
hát), kết hợp làm một số động tác cần thiết để em bé thích
thú mà cười vui trước khi ngủ.Ví dụ, một bài “ta ta tún”
tương đối phổ biến trong cộng đồng người Thổ (Nguyên văn
tiếng Thổ):
Ta tun ta tún…
Con ún pe pông
Con rông pe pải
Con mái lợp nhà
Ké khà tô cơm
Con đẹt chưm chơm…
Trong sáu câu thơ trên, trừ năm câu đầu có vần theo trình
tự: Tún - ún; pông - rông; pải - mái; nhà – khà, ra… đến câu
thứ sáu thì từ “chơm” đã không còn ở vị trí vần theo trình tự
nữa, mà được đẩy lên ở vị trí thứ tư: Cơm - chơm. Đó là cách

20


Thành phủ tá lêng
Đối lêng cho chắng
Nấp cửa nha vắng
Cho mế bố vang…
Cách đó cách giang
Mụ cái ti ngược
Ông tược theo khâu
21


Rù rì nhập nhau
Nhập nhau… nhập nhau… rế!
Trong bài “khai khai rế” nguyên văn tiếng Thổ trên đây, ta
thấy rõ tính đồng dao rất đặc trưng của người Thổ, nghĩa là
cũng thể đồng dao, nhưng sự biến đổi lại luôn ở câu cuối
cùng. Những bài đồng dao như trên, thường chỉ trẻ em nam
hát, có tính chất nghịch ngợm, triêu đùa. Chúng hát khi đi
chăn trâu ngoài nương, ngoài bãi ven khe suối, hoặc chơi
trăng sáng ở giữa làng. Chúng hát để trêu ghẹo nhau, có khi
dăm sáu đứa cùng hát, cuối cùng chúng reo to lên đồng loạt,
cùng chụm đầu vào hay chạy toá ra mỗi người một nơi rồi
cười như nắc nẻ. Tiếng reo cuối cùng ấy đã thêm ra một chữ
“rế” trong bài đồng dao ngỡ như vô lý như ta thấy ở ví dụ
trên.
Đồng dao cho ta thấy tính hiếu động, đầu óc khoáng
đạt và hài hước của một tộc người có nguồn gốc đa dạng về
mặt văn hoá…
Ngoài các làn điệu cơ bản như đã nêu ở trên, đồng bào
Thổ còn có nhiều điệu hát biểu hiện một tâm hồn người Thổ
giầu cảm xúc, và mang một sắc thái tình cảm riêng biệt mà

với tình cảm và đời sống của con người. Múa dân gian được
thể hiện trong các lễ thức (múa tín ngưỡng). Những động tác
biểu hiện thế giới tâm linh của con người (cầu mong sự che
chở, phù hộ của các đấng thần linh, trời, Phật... ). Ngoài ra,
từ thuở xa xưa, qua các điệu múa, người dân còn muốn
truyền lại các kinh nghiệm lao động sản xuất, săn bắt... Múa
dân gian còn thể hiện những hành vi ứng xử của con người,
tạo môi trường không gian để con người đến với nhau
Dân tộc Thổ có nhiều điệu múa như múa cồng chiêng
[Ảnh 3. Trang 33], múa khèn,…
 Nhạc cụ dân gian
 Đàn tính của dân tộc Thổ
Là một dân tộc có đời sống tinh thần hết sức phong
phú với vốn dân ca, dân nhạc, dân vũ mang đậm nét bản
sắc; tự ngàn xưa, từ cây tre, cây nứa, đồng bào dân trộc Thổ
đã sáng tạo nên cây đàn tính. Để rổi thanh âm của đàn tính
trở thành một phần không thể thiếu được trong những cuộc
hội vui…
Không biết tự bao giờ và ai là người đã sáng tạo nên
cây đàn tính, nhưng theo các bậc cao niên thì đàn tính của
dân tộc Thổ đã có từ lâu lắm, từ rất nhiều đời truyền lại.
Cuộc sống tự cung tự cấp, nên đàn tính xưa cũng được làm
một cách giản đơn từ những vật liệu sẵn có. Bà con thường
lấy một ống tre (hoặc mét, bương, nứa) có thân to và dài
lóng để làm đàn tính. Lấy đúng một lóng cùng với hai đốt hai
đầu. Tre được chọn để làm đàn phải là tre vừa đủ tuổi, tre già
23


quá sợi dây đàn sẽ giòn, dễ gãy; tre non quá, ống đàn sẽ dễ

cho con cháu trước lúc qua đời (cụ qua đời năm 1997). Cùng
với các nghệ nhân như cụ Tuân ở làng La (Minh Hợp), cụ Trà
ở Đột Tân (Nghĩa Xuân)… cụ Trương Văn Thố là người nức
tiếng giỏi đàn hát và làm đàn tính đẹp nhất vùng trước đây.
Nhìn qua thì cây đàn này này giống đàn tính của dân tộc Tày
mạn Cao Bằng. Khác chăng là thùng đàn không làm tròn mà
làm hộp hình chữ nhật và có khoét lỗ vuông phía dưới thùng,
24


cần đàn ước dài chừng 1,2 mét; đàn có 3 dây được làm bằng
sợi tơ.
Đàn tính đã trở thành một phần bản sắc văn hóa của
cộng đồng dân tộc Thổ, rất nhiều bậc cao niên đến giờ vẫn
luôn đau đáu nhớ về tiếng đàn tính, nhớ về những đêm hội
làng đông vui. Ngày xưa ấy, chính cây đàn tính, tiếng đàn
tính chở nặng tình đất tình người đã xe duyên cho rất nhiều
trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ… Để bảo tồn được đàn
tính, để tiếng đàn tính mãi còn vang ngân chắc hẳn cần lắm
sự chung tay của cả cộng đồng.
 Cồng chiêng
Với người Thổ ở làng Đong, huyện Nghĩa Đàn (Nghệ
An), cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là sợi dây
nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng, là nơi họ gửi
gắm những tâm tư tình cảm…Là một huyện miền núi, nằm ở
phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, nơi đây gồm 3 dân tộc cùng
chung sống là Kinh, Thái và Thổ, Nghĩa Đàn tự hào có một
đời sống văn hóa phong phú, trong đó có văn hóa cồng
chiêng của người Thổ.
Với gần 8% đồng bào dân tộc Thổ sinh sống, bà con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status