Tìm hiểu giá trị thơ vịnh sử của nguyễn khuyến - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ THƠ VỊNH SỬ
CỦA NGUYỄN KHUYẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thị Nhàn

Hà Nội, 2015


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS. Nguyễn Thị Nhàn, người đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình làm khóa
luận này.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong tổ
Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các
bạn đã tận tình động viên và giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận.
Trong quá trình thực hiện, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan,
nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót. Bởi vậy, kính mong quý thầy cô và
các bạn góp ý, sửa chữa để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng

2.2 Vịnh về nhân vật nho sĩ ......................................................................... 24
2.3 Vịnh về nhân vật liệt nữ ......................................................................... 32
2.4 Vịnh về nhân vật đế vương .................................................................... 34
2.5 Vịnh về nhân vật tăng lữ ........................................................................ 35
2.6 Vịnh về nhân vật khác…………………………………………………36
Chương 3. THƠ VỊNH SỬ CỦA NGUYỄN KHUYẾN NHÌN TỪ PHƯƠNG
DIỆN NGHỆ THUẬT
3.1 Thể thơ và cấu trúc bài thơ .................................................................... 40
3.2 Giọng điệu .............................................................................................. 42


3.3 Hình ảnh ................................................................................................. 44
3.4 Điển tích, điển cố ................................................................................... 46
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Khuyến là một trong những tác giả lớn, có nhiều đóng góp
cho văn học dân tộc nói chung và văn học cổ điển nói riêng. Thơ văn Nguyễn
Khuyến là điểm sáng của Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX –
những năm đầu thế kỷ XX. Cùng với sự xuất hiện của nhiều tác gia tên tuổi
khác, Nguyễn Khuyến đã để lại cho đời di sản văn chương quý giá, là người
có đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học dân tộc.
Nói đến thơ Nguyễn Khuyến là nói đến một hồn thơ bình dị với những
cảm thức bình dị sâu lắng. Ông là người từng chứng kiến những bước thăng
trầm bi thương của dân tộc, tận mắt chứng kiến sự thất bại của triều đình nhà
Nguyễn và các phong trào yêu nước, là người nhận thấy một cách đau xót
nhất sự sụp đổ của một hệ tư tưởng lỗi thời. Nguyễn Khuyến không phải là

việc làm hữu ích, có ý nghĩa với một giáo viên dạy văn trong tuơng lai.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của nền Văn học Việt
Nam. Những sáng tác của ông đã ăn sâu vào đất Việt, góp phần tạo nên sự
phong phú cho di sản văn hóa cha ông. Vì vậy, việc tìm hiểu về thơ văn của
ông đã có từ lâu.
Trong phần lịch sử vấn đề này, chúng tôi xin trình bày một số bài viết,
những ý kiến liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn.
Là một trong những cây đại thụ của nền văn học dân tộc, cuộc đời cũng
như sự nghiệp thơ văn Nguyễn Khuyến từ trước tới nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu có giá trị. Thơ văn Nguyễn Khuyến được đăng tải đầu tiên là
trên tạp chí Nam Phong vào trước những năm 20 của thế kỷ (đăng trong mục
Thơ ca Yên Đổ trên Nam Phong, nhưng cũng phải đợi đến gần hai chục năm
sau thì công tác văn học sử trên đường hình thành mới tìm đến Nguyễn
Khuyến. Với công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm
(Nha học chính Đông Pháp xuất bản, Hà Nội, 1943), ngành nghiên cứu văn

2

-


học, mà trước hết là lịch sử văn học bắt đầu chú ý đến Nguyễn Khuyến.
Cuối 1998, công trình Nguyễn Khuyến, về tác gia và tác phẩm do Vũ
Thanh tuyển chọn và giới thiệu (Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998, tập
hợp một cách rộng rãi các bài viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc
đời và sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ xưa đến nay [14].
Đặc biệt, tìm hiểu về thơ vịnh sử của Nguyễn Khuyến, tác giả Nguyễn
Văn Huyền “Lời giới thiệu” cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm, (Nhà xuất bản
Tp HCM, 2002), có viết : “Ta cũng không thể không điểm ở đây một số bài

Khuyến.
- Qua đó, có cái nhìn sâu sắc về con người, tư tưởng, tình cảm, thái độ và
tài năng của nhà thơ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm thực tiễn lịch sử, hoàn cảnh cuộc đời nhà thơ. Đó là
cơ sở để phục vụ cho việc tìm hiểu Giá trị thơ vịnh sử của Nguyễn Khuyến
- Tìm hiểu đặc điểm thơ vịnh sử, khảo sát giá trị nội dung, giá trị nghệ
thuật thơ vinh sử của Nguyễn Khuyến.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Về tài liệu khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát 18 bài thơ vịnh sử của Nguyễn Khuyến
(được in trong cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm – NXB TPHCM, 2002).
5.2 Phạm vi khoa học
Khóa luận tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật thơ vịnh sử Nguyễn
Khuyến
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài Tìm hiểu giá trị thơ vịnh sử của Nguyễn Khuyến
chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phuơng pháp nghiên cứu thể loại
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.

4

-


Ngoài ra, luận văn còn kết hợp các thao tác, phuơng pháp nghiên cứu
khác như bình giảng, phương pháp thi pháp học.
7. Đóng góp của đề tài

Khuyến (Khuyến ở đây là cố gắng). Người địa phương quen gọi Nguyễn
Khuyến lúc về già là cụ Tam (ba lần đậu đầu), cụ Hoàng Và (Và là tên Nôm
của xóm Vị Hà) hay cụ Hoàng Thắng (Hoàng là học vị Giáp Hoàng). Hiệu là
Quế Sơn.
Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội
ngoại đều có truyền thống khoa bảng. Cha là Nguyễn Liễn, đỗ ba khoa tú tài,
chuyên nghề dạy học. Cuộc sống thanh bạch, giản dị, trọng đạo lý. Tính tình
hào phóng của cụ đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhà thơ sau này. Mẹ là Trần Thị
Thoan (con gái ông Trần Công Trạc đã đỗ sinh đồ thời Lê Mạc). Theo nhà thơ
kể lại trong gia phả thì mẹ ông là một bậc nữ lưu mẫu mực trong xã hội
cũ“tính tình đoan trang, trầm tĩnh, thuận hòa”, lại rất mực thương người, mọi
việc nữ công gia chánh đều thông thạo. Cả một đời bà chịu thương, chịu khó
phụng dưỡng bố mẹ chồng, chăm chỉ làm lụng, có lúc phải bán cả tư trang,
may thuê vá mướn kiếm sống để khuyến khích nuôi chồng con ăn học.
Thừa hưởng truyền thống gia đình, từ bé Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng là

6

-


người thông minh, hiếu học.
Năm 17 tuổi, ông thi Hương với cha nhưng không đỗ. Sau đó cha mất,
cảnh nhà lại nghèo nên ông phải tự kiếm sống. Bấy giờ có ông nghè Vũ Văn
Lý, trước là học trò cũ của bác Nguyễn Khuyến đem về nuôi và cho ăn học.
Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu Cử nhân trường Hà Nội, đến các khoa thi
tiếp theo 1865, 1868, 1869 đều thi trượt. Năm 1871, ông thi Hội lần thứ 2, đỗ
Hội Nguyên, sau đó đỗ Đình nguyên. Cả ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình
ông đều đỗ đầu nên người đời thường gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông
được vua Tự Đức ban cờ biển và viết vào hai chữ “Tam Nguyên”.

góp lớn lao của ông cho lịch sử văn học dân tộc.
Người ta biết đến thơ văn của ông chủ yếu qua hai tập thơ Quế Sơn thi
tập (thơ chữ Hán) và Tam Nguyên Yên Đổ thi ca (thơ văn Nôm); Những sáng
tác thơ của Nguyễn Khuyến đuợc viết với nhiều thể loại: Thất ngôn bát cú,
thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát, hát nói, ca trù. Ngoài
ra Nguyễn Khuyến còn biết câu đối. Ông được coi là người làm câu đối cự
phách nhất trong làng văn học Việt Nam từ xưa đến nay.
Riêng về thơ chữ Hán, chúng tôi khảo sát trong cuốn Tuyển tập thơ chữ
Hán Nguyễn Khuyến do Trần Văn Nhĩ tuyển chọn và dịch thơ, NXB Văn
nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; gồm các tập sau:
- Yên Đổ tiến sĩ thi tập (72 bài)
- Quế Sơn thi tập (135 bài)
- Quế Sơn Tam Nguyên thi tập (73 bài)
- Quế Sơn thi tập tục biên ( 33 bài)
- Hải Vân Am thi tập ( 22 bài)
- Yên Đổ Tam Nguyên thi tập (13 bài)
- Quế Sơn cựu lục (4 bài)
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ yêu nước. Thơ văn ông vừa bộc lộ tâm
sự cao quý của một tri thức yêu nước tha thiết, sâu sắc, nhưng bất lực, vừa có
giá trị phê phán hiện thực xã hội xấu xa đương thời. Thơ văn ông rất giàu tình
cảm, lại đậm đà màu sắc dân tộc.

8

-


1.2. Khái lược về thơ vịnh sử
1.2.1. Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn

Chẳng hạn, khi vịnh về Lý Ông Trọng, Nguyễn Khuyến bày tỏ sự khâm phục
nhân vật sâu sắc. Nhà thơ cho rằng, ông là người trời, là bậc thần minh. Thân
hình to lớn của Lý Ông Trọng và oai vũ của ông khiến nguời phương Bắc nể
phục, ông còn sống mãi trong đời sống tâm linh của người Việt:
Thiên túng nam giao trác bất quần,
Khôi nhiên nhất trượng thập vi thân.
Uy thôn ủy giới kình vô lãng,
Dũng bách hồ nhi tái tuyệt phân.
(Ông là người trời giáng xuống cõi Nam, vĩ đại không ai bì kịp,
Tấm thân to lớn, cao tới một trượng, to tới mười vi.
Oai vũ vang khắp sông nước, cá kình không gây nổi sóng
Sức mạnh làm kinh sợ giặc Hồ, ngoài bờ cõi hết mây mù.)
Như thế, thơ vịnh sử vừa cho thấy “chân dung” đối tượng đuợc vịnh lại
cho hiểu rõ hơn tâm tư, thái độ người làm thơ vịnh.
Tuy vậy, nét nổi bật trong thơ vịnh sử của cha ông ta là niềm tự hào về
lịch sử vinh quang và phẩm chất cao quí của dân tộc. Tác giả thơ vịnh sử
thường ca tụng những nhân vật có công tích với dân tộc, với nhân dân. Có khi
thì vịnh về những anh hùng dân tộc, những người có công đuổi giặc, giữ
nước, khi vịnh về những danh nhân văn hóa…
Thơ vịnh sử thời Nguyễn Khuyến chính là một trong những tiếng nói thể
hiện được mức độ nhất định tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ bền vững
và mạnh mẽ. Sự phát triển của nó chứng tỏ yêu nước vẫn là một chủ đề quan
trọng trong những tác phẩm của trí thức có tinh thần dân tộc, trong khi giai
cấp phong kiến dần dần trở thành kẻ phản bội Tổ quốc, chia cắt đất nước,
khiếp nhược trước sự đe dọa của giặc ngoài.
Mỗi bài thơ vịnh sử thường có hai phần xen kẽ: Tự sự và bình luận. Phần

10

-


Thiên Vương

Thiên Vương

Loại nhân

Nhân

Nhân

vật

vật

Việt

Trung

Nam

Hoa

vật đuợc đề
vịnh
Anh

hùng

x

3

Vịnh Trưng Nữ

Trưng Trắc

Vương
4

Đề Tống Trân

Anh

hùng

x

truyền thuyết
Tống Trân

Nho sĩ

x

Vịnh Tô Hiến

Tô Hiến

Nho sĩ


6

7

8

9

Vịnh Huyền

Anh

hùng

x

Huyền Quang Tăng lữ

Quang

(Lý Đạo Tái)

Vịnh Chu Văn

Chu Văn An

x

Nho sĩ



Vịnh Nguyễn

Nguyễn Trãi

Nho sĩ

x

Lương Thế

Nho sĩ

x

Hành Khiển
(Vịnh quan
Hành Khiển họ
Nguyễn)
13

Đề Lương Trạng

12

-


Nguyên từ ( Đề



x

Nhạc Phi

Anh hùng

x

Trần Hậu Chủ Đế vương

x

hổ (Phạm Lãi
chơi ngũ hổ)
16

Lý Bạch điếu
ngao (Lý Bạch
câu rùa biển)

17

Vịnh Nhạc Vũ
Mục

18

Vịnh Trần Hậu
Chủ

Tiểu kết chương 1
Nguyễn Khuyến sống vào thời đại bi thương của dân tộc. Có triều chính
mà vua quan không có thực quyền, chỉ là “phường chèo trên sân khấu”. Về
hưu quan, Nguyễn Khuyến đã “dũng thoái” để tránh phải làm kẻ bán nước
cầu vinh. Ông gửi nỗi niềm vào sáng tác thơ văn. Thơ vịnh sử là một phần
làm nên sự nghiệp văn chương của nhà thơ Yên Đổ. Dựa vào những đặc điểm
của thơ vịnh sử, Nguyễn Khuyến đã chọn lựa những nhân vật lịch sử theo
cách riêng của mình để được tỏ bày thái độ, tình cảm và thể hiện nhân cách.

14

-


Chương 2. THƠ VỊNH SỬ CỦA NGUYỄN KHUYẾN
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Trong chương này, khóa luận sẽ trình bày giá trị nội dung thơ vịnh sử
Nguyễn Khuyến. Căn cứ vào tiêu chí phân loại các kiểu nhân vật đuợc vịnh ở
chương 1, hệ thống triển khai của luận văn sẽ theo cách phân chia như vậy.
2.1. Vịnh về nhân vật anh hùng
Trong mỗi bài thơ vịnh sử, người nghệ sĩ thường khái quát các nét chính
về cuộc đời nhân vật và bày tỏ thái độ, tình cảm của mình đối với các nhân
vật ấy. Các bài thơ vịnh “về nhân vật anh hùng” chiếm số lượng khá lớn 6/18
bài thơ (chiếm 33,3%). Ở đây, Nguyễn Khuyến nhắc đến những nhân vật từ
trong lời kể dân gian xa xưa đến những nhân vật thời Pháp thuộc. Theo trục
thời gian ấy, có sáu nhân vật anh hùng cả trong truyền thuyết và lịch sử đã
được đề vịnh khá rõ nét. Đó là Thánh Gióng, Lý Ông Trọng, Trưng Trắc,
Trần Hưng Đạo, Đặng Tất và Nhạc Phi.
2.1.1. V nh về nhân vật anh hùng trong truyền thuyết
Nhìn vào các tên tuổi được Nguyễn Khuyến đề vịnh, ta thấy có ba nhân

Chí kim từ hạ tùng phong động.
Do tưởng đương niên đắc thắng qui.
(Đất trời nước Việt còn lưu công trạng kì vĩ,
Cỏ cây cõi Ân khiếp sợ oai thừa.
Đến nay nghe tiếng gió thổi trên cây tùng bên đền thờ,
Còn tưởng như người thắng trận trở về thuở ấy.)
Như vậy, Nguyễn Khuyến cũng giống như tất cả những người đất Việt,
đều cảm phục, trước tài năng, sức mạnh phi của ông Phù Đổng.
Cái hùng, cái đẹp thiêng liêng của người anh hùng trong truyền thuyết qua
thơ vịnh sử của Nguyễn Khuyến không chỉ có Phù Đổng Thiên Vương mà còn
có Lý Thiên Vương (tức Lý Ông Trọng). Vịnh Lý Thiên Vương Nguyễn
Khuyến đặc biệt vịnh về dáng vẻ “vĩ đại” của nhân vật này. Nhà thơ cũng nhắc

16

-


đến sự oai vũ, sức mạnh khiến quân giặc phải kinh sợ của Lý Ông Trọng:
Thiên túng nam giao trác bất quần,
Khôi thiên nhất trượng thập vi phân.
Uy thôn ủy giới kình vô lãng,
Dũng bách hồ nhi tái tuyệt phân.
(Ông là người trời giáng xuống cõi Nam, vĩ đại không ai bì kịp,
Tấm thân to lớn, cao tới một trượng, to tới mười vi.
Oai vũ vang khắp sông nước, cá kình không gây nổi sóng
Sức mạnh làm kinh sợ giặc Hồ, ngoài bờ cõi hết mây mù.)
L ý Ông Trọng quyết không nhận làm rể Tần Thủy Hoàng mà quyết về
quê hương xứ sở đất Việt:
Hiệu tiểu Tần phong vô túc quí,

Can qua bách chiến tiểu Đường nam
Giang sơn cánh vị yêu kiều tráng
(Gươm giáo trăm trận coi khinh lũ đàn ông Đường như trẻ con
Non sông còn khiến gã quắc thước kia phải xấu hổ)
Tác giả trân trọng sức mạnh oai hùng, phi thường của Trưng Trắc mà coi
khinh các đấng nam nhi của quân địch. Nói về điều này, vua Tự Đức từng
viết: “Hai Bà Trưng không thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm
khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không
gặp được thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử
sách. Kìa bọn nam tử mày râu mà chịu nép vế làm tôi tớ người khác chẳng
những mặt dày thẹn chết lắm”. Và Nguyễn Khuyến cũng khẳng định lại một
lần nữa:
Anh hùng lẫm liệt mãn thiên nam
(Gương anh hùng lẫm liệt vẫn rạng khắp trời Nam)
Công lao của Bà Trưng Trắc còn được sử sách lưu truyền, tiếng thơm
muôn đời, con cháu nước Nam đời đời ghi nhớ.
Viết về các nhân vật anh hùng trong truyền thuyết, Nguyễn Khuyến
không chỉ khắc họa chân dung của các bậc danh tướng trong dân gian mà còn
thể hiện sự tôn kính ngưỡng mộ, ngợi ca. Qua đó, tác giả còn thể hiện niềm tự

18

-


hào về con người, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
2.1.2. V nh về nhân vật anh hùng trong l ch sử
Có thể thấy, trong danh sách những người được đề vịnh trong thơ
Nguyễn Khuyến, các anh hùng lịch sử chỉ có ba nhân vật. Đó là Trần Hưng
Đạo, Nhạc Phi và Đặng Tất. Họ lập vũ công trên chiến trường và cũng được

Mậu kiến trùng hưng đệ nhất công.
(Quyết bỏ hiềm nhà, vẹn chữ trung
Trùng hưng nghiệp lớn, lập nhiều công.)
Vịnh Trần Quốc Tuấn – Đặng Minh Khiêm
Một tấm lòng luôn hết mình vì đất nước, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn,
công lao và uy danh của Trần Hưng Đạo có trời và biển ghi nhận “Ông là
thiên tài quân sự có tầm chiến lược, và là anh hùng dân tộc bậc nhất của nhà
Trần” (Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học, NXB thế giới, 2004, tr.1799).
Bài thơ Điếu Đặng Tất là nén tâm hương, Nguyến Khuyến dâng lên
người anh hùng lỡ vận họ Đặng. Đặng Tất - một anh hùng Xứ Nghệ, là danh
thần của vua Hậu Trần. Ông đã có công phò tá Giản Định đế Trần Ngỗi khởi
binh chống quân Minh. Con người ấy đã bị vua Giản Định nghi ngờ và giết
oan. Vì thế viết về nhân vật này, Nguyễn Khuyến đặt nhan đề là Điếu Đặng
Tất. Có nghĩa là, nhà thơ ở sáu thế kỷ sau đang khóc người thiên cố. Nguyễn
Khuyến nhìn sâu vào bi kịch của người anh hùng bất phùng thời. Người anh
hùng chí lớn mà sự nghiệp lớn bất thành:
Bảo quốc tiêm cừu thỉ phất vôn (viêm)
Trạo qua cánh dục vẫn càn khôn.
(Ông thề không bao giờ quên việc giết giặc, cứu nước
Vung giáo, những muốn kéo lại đất trời.)
Đầu năm 1409, Đặng Tất đã chỉ huy quân Hậu Trần đánh trận Bô Cô
(gần thị xã Ninh Bình) phá tan 10 vạn quân Minh, giết được Binh bộ thượng
thư Lưu Tuy, đô úy Lữ Nghị. Thế nhưng, trận đánh sau đó, do bất đồng về
sách lược, vua Giản Định không bằng lòng với ông và Nguyễn Cảnh Chân.
Nghe theo lời gièm pha, vua Giản Định sợ uy tín của hai người quá cao, lại
nghi ngờ hai tướng “có ý khác”. Tháng 3 năm 1409, vua Giản Định đóng

20

-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status