TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
MÔN: LUẬT CẠNH TRANH
LỚP: VB17ALA01
Nhóm thực hiện đề tài số 49
GVHD: Trần Thăng Long
Đề tài:
HÀNH VI XÂM PHẠM BÍ MẬT KINH DOANH
VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
09/2015
THÀNH VIÊN NHÓM:
1.
2.
3.
4.
Trần Quang Nam – MSSV: 33141021250
Lê Thị Ngọc Mai – MSSV: 33141020970
Hoàng Thị Mỹ Linh – MSSV: 33141021159
Nguyễn Mạnh Hổ - MSSV: 33141021035
MỤC LỤC
Xâm phạm bí mật kinh doanh
•
Thứ ba: Các tranh chấp liên quan đến bí mật kinh doanh thường liên quan
tới những bí mật mà các bên đều không muốn bộc lộ công khai ra công
chúng.
•
•
Vì sao cần phải sử dụng bí mật kinh doanh trong doanh nghiệp?
•
Đây là một công cụ rẻ tiền nhất trong các đối tượng bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ khác phải đăng ký với cơ quan nhà nước, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ khi áp dụng các công cụ để bảo vệ lợi thế kinh
doanh của mình. Chẳng hạn, doanh nghiệp hoàn toàn có thể tự mình bảo vệ
bí mật kinh doanh của mình bằng các điều khoản “không tiết lộ thông tin”
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 5
khi ký kết hợp đồng lao động với nhân viên hoặc hợp đồng kinh tế với
khách hàng của mình.
•
I.
-
BÍ MẬT KINH DOANH
Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa
được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.
thức này; và nó được giữ bí mật trong một chiếc hầm của ngân hàng ở Atlanta,
bang Georgia; những người biết được công thức bí mật này đã ký hợp đồng không
tiết lộ. Chính vì quyết định giữ bí mật về công thức này thay vì đăng ký cấp bằng
sáng chế, đến nay, công ty Coca Cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất sản xuất được
loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng. Còn nếu công thức này được
cấp bằng sáng chế (chỉ được bảo hộ tối đa là 20 năm, sau đó sẽ trở thành tài sản
chung của nhân loại), mọi thành phần và công đoạn chế biến Coca Cola sẽ được
bộc lộ công khai, và cả thế giới đều có thể sản xuất Coca Cola.
•
•
Theo khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004
Xâm phạm bí mật kinh doanh
-
Trang 6
Không phải là hiểu biết thông thường
o Thông tin kỹ thuật: Bí quyết sản xuất, công thức chế biến, …
o Thông tin thương mại: danh sách khách hàng, nhà cung cấp, chiến lược bán
hàng, tiếp thị quảng cáo, kết quả nghiên cứu thị trường,…
o Tài chính: Doanh thu, lợi nhuận,…
o Thông tin phủ định: giải pháp kỹ thuật đã hủy, thông tin sai sót trong công
việc đúc kết lại,…
o Kinh nghiệm, bí quyết, khác… có được từ hoạt động kinh doanh, hoặc do
-
các hành vi sau đây
•
Khoản 3 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ 2005
a) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa
vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp
pháp;
b) Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng theo quy định tại khoản 1 Điều
128 Luật Sở hữu trí tuệ;
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 7
c) Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại Điều 128 Luật Sở hữu trí tuệ không nhằm
mục đích thương mại;
d) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập;
e) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm
được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có
thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng.
3. Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
•
•
Theo Điều 41 Luật cạnh tranh 2004
Hành vi tiết lộ: có chủ ý, vô ý tiết lộ thông tin có được từ hợp đồng với
doanh nghiệp bị vi phạm -> hành vi vi phạm hợp đồng
Hành vi sử dụng có thể là:
o Hành vi tiếp theo của hành vi xâm phạm BMKD
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 8
o Sử dụng trái mục đích của hợp đồng -> DN vi phạm có được
thông tin -> sử dụng trái phép từ thông tin này.
c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có
nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm bộc lộ bí mật kinh doanh
của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
- Vi phạm hợp đồng bảo mật:
i. Có được thông tin hợp pháp
ii. Cố ý để lộ thông tin nhằm mục đích cạnh tranh
- Lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật -> chiếm đoạt
và tiết lộ bí mật.
iii. Hành vi cố ý
iv. Chiếm đoạt và tiết lộ nhằm mục đích cạnh tranh
d)
Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác
a. khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến
kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm
b. Bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước
sử dụng thông tin đó nhằm
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 9
d. Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi
người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh
doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện
pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm
mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu
hành sản phẩm.
2. Ngoài việc bị phạt theo Khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm
cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
•
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
1. Thực tiễn:
- Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh ở Việt Nam còn khá mới mẻ nhưng việc
IV.
ăn cắp bí quyết kinh doanh đang diễn ra ngày một tinh vi hơn. Các doanh
nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể lường trước hết được các tình huống có thể
xảy ra. Các vụ gián điệp kinh tế, mua chuộc nhân viên, phân tích ngược…
-
vẫn diễn ra khá phổ biến khiến nhiều doanh nghiệp lao đao.
Công việc thuần túy tính chất con người, sản xuất, hoạt động theo truyền
Ngoài ra, điều 129.5 của bộ luật trên cũng quy định nhân viên có năng lực về kỹ
thuật và kỹ năng chuyên môn cao mà tiết lộ bí mật công nghệ và kinh doanh phải
chịu trách nhiệm về việc bồi thường cho các thiệt hại đã gánh chịu.
-
Do vậy, bước đầu tiên trong kế hoạch bảo vệ thông tin hiệu quả là yêu cầu từng
nhân viên vào thời điểm tuyển dụng (hoặc vào thời điểm nhân viên đó thay đổi vị
trí công tác và trong cương vị mới, sẽ phải truy cập thông tin mật) ký kết thỏa
thuận không tiết lộ
Thực hiện bảo vệ thông tin trong nội bộ:
-
Chỉ riêng thỏa thuận không tiết lộ thì không thể ngăn chặn nhân viên có ý đồ xấu
tiết lộ thông tin mật về kinh doanh của công ty. Để tạo thêm một lớp bảo vệ, công
ty phải thực hiện các rào chắn vật lý đối với thông tin mật. Trong nhiều trường
hợp, các rào chắn vật lý này mang tính cách đặc thù theo ngành nghề.
-
VD: công ty sản xuất bia, có thể khóa giữ công thức bí mật trong két sắt, trong khi
một công ty phần mềm vi tính có thể sử dụng mật khẩu hoặc công nghệ mã hóa dữ
liệu để ngăn cản nhân sự không có tay nghề kỹ thuật truy cập vào mã nguồn hoặc
mã đối tượng của công ty.
Thực hiện phỏng vấn với nhân viên là người sắp thôi việc:
-
-
Do vậy, nếu biết rằng nhân viên của mình đến làm việc cho một trong các đối thủ
cạnh tranh của công ty, nên chính thức gửi thư cho công ty mới thông báo rằng
nhân viên đó đã ký thỏa thuận không tiết lộ và có ý định thực hiện thỏa thuận này.
Lợi ích của việc gửi thư này nhằm ngăn cản công ty mới sẽ tranh biện sau đó,
trong trường hợp tranh tụng, là đã không biết có thỏa thuận này và do vậy không
chịu trách nhiệm về việc lôi kéo nhân viên đó vi phạm nghĩa vụ của mình theo
thỏa thuận đó. Nên gửi thư này cho công ty mới và nhân viên cũ, và nên đính kèm
theo thư bản sao thỏa thuận.
•
•
•
Ví dụ về phương thức bảo vệ bí mật kinh doanh
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 12
Ông Vũ Mạnh Hào, Giám đốc điều hành Công ty rượu và nước giải khát Anh Đào,
cho biết để giữ bí quyết kinh doanh, ông thiết kế hẳn một quy trình bảo mật và
chia thành nhiều phần. Trong quy trình công nghệ, ông Hào cắt ra một công đoạn
quan trọng nhất và chỉ một mình ông nắm giữ công thức.
•
Công thức chế biến cà phê Trung Nguyên cũng được bảo vệ khá kỹ. Tổng giám
Luật cạnh tranh để điều chỉnh, theo đó hành vi sử dụng chỉ dẫn làm sai lệch
Xâm phạm bí mật kinh doanh
Trang 13
nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
là một dạng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phụ thuộc vào
việc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký hay chưa. Từ sự phân tích này có
thể thấy những “đối tượng có liên quan đến SHTT” thuộc phạm vi áp dụng
Luật cạnh tranh rộng hơn so với pháp luật về SHTT. Các đối tượng như
khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng, bao bì… nếu không được bảo hộ bằng
các quy định riêng về SHTT thì hoàn toàn có thể tìm thấy cơ sở pháp lý để
-
bảo vệ trong Luật cạnh tranh.
Hai là yếu tố chủ thể, không thể nói đến hành vi cạnh tranh không lành
mạnh khi mà trên thực tế các chủ thể không ở trong vị thế “cạnh tranh” với
nhau. Cụ thể, chỉ có thể kết luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
nếu các chủ thể có hành vi bị cấm đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường
liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên
quan (Điều 3 khoản 1 Luật cạnh tranh) theo nguyên tắc được pháp luật các
nước thừa nhận rằng “Mọi thương nhân trung thực phải có nghĩa vụ thực
hiện các biện pháp cần thiết để cá biệt hoá sản phẩm của mình nhằm
không gây nhầm lẫn với sản phẩm khác”. Trong khi đó, có thể kết luận
hành vi vi phạm quyền SHTT với bất kỳ chủ thể nào vi phạm độc quyền
của chủ sở hữu đã được pháp luật quy định. Có thể lấy một ví dụ hình
tượng như một doanh nghiệp tại Cà Mau đã copy nguyên vẹn một nhãn
hiệu đã đăng ký cho cùng nhóm sản phẩm của doanh nghiệp khác có trụ sở
•
•
•
•
oOo